NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Lãnh hậu quả từ nền Giáo Dục sính bằng cấp

Báo chí gần đây lên án việc “ Mua bán bằng cấp : Ngày càng trắng trợn, nhởn nhơ kẻ bán người mua ”. Để biểu lộ sự đồng tình, chúng tôi cũng xin góp thêm ý kiến bàn thêm về nguyên nhân và giải pháp đối với vấn nạn trên.

Một nền giáo dục đề cao bằng cấp một cách thái quá vô tình xem nhẹ thực chất năng lực

Từ ngày xưa, ông Nguyễn Công Trứ cảnh báo: “Đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông”. Rắc rối ở chỗ là “phải có”. Để "phải có", con người ta đi đến chữ "danh" bằng năm bảy đường khác nhau: người thì dựa vào tài đức của chính mình, kẻ phải cậy vào tiền tài, vào thế lực của kẻ khác; người thì lưu danh nhờ những công trình lợi dân, ích nước ( lập đức, lập công, lập ngôn ); kẻ để tiếng bằng những thủ đoạn xấu xa...

Trong cuộc sống, lắm khi chữ danh gắn với chữ lợi khiến con người ta bằng mọi giá để đạt được dù là hư danh cho nên có danh đấy, thực chất không có giá trị gì, lúc này trở thành không có danh giá, mất danh dự.

Bằng cấp và thực tài không phải lúc nào cũng đồng nhất tỷ lệ thuận. Nhiều địa phương vừa qua đã tích cực ban hành chính sách thu hút nhân tài nhưng vì quá đặt nặng tiêu chí bằng cấp học vị, học hàm nên nhiều khi không đạt được mục đích là thu hút nhân tài đích thực! Do quá đặt nặng tiêu chí bằng cấp, nên trong xã hội xuất hiện tình trạng bằng mọi cách chạy cho được bằng cấp này nọ không qua thực học, thực tài.

Một sai lầm lâu nay là ở chỗ thiết kế một nền giáo dục chỉ đề cao thái quá bằng cấp nên không chú ý đến một vấn đề rất cơ bản, hệ trọng là dạy cái gì, dạy như thế nào, học cái gì và học như thế nào. Cho nên những sản phẩm của nền giáo dục khi ra thực tế, đòi hỏi của cuộc sống muốn tồn tại phải thực hiện thêm công đoạn rất tốn kém là “đào tạo lại”, nếu không chỉ là “thứ phẩm”.

Một nền công vụ chưa có tiêu chí khoa học đánh giá tuyển chọn công chức

Hiện nay, trong nền công vụ không hiếm hiện tượng nhiều người trang bị cho mình bằng mua và bằng giả, chủ yếu là cán bộ, công chức, công nhân viên nhà nước ở những nơi quá đặt nặng tiêu chuẩn bằng cấp trong việc xét tuyển dụng, tăng lương, thăng chức, nhưng lại thiếu biện pháp kiểm tra, đánh giá thực chất...

Chính phương thức quản lý và hành xử của đội ngũ công chức có tác động rất lớn, nếu không muốn nói là quyết định, đến sự thành công của công cuộc cải cách hành chính, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Suy cho cùng không ai khác công chức chính là người chủ công chữa trị các vấn nạn trong xã hội. Vì thế trước mắt cần xây dựng hoàn chỉnh Luật hoạt động công vụ để điều chỉnh hành vi của công chức, góp phần xây dựng một nền hành chính trong sạch vững mạnh, hiệu quả, hiệu lực.

Ở các nước phát triển, khi tuyển người vào các vị trí, các loại “phụ tùng “ xung quanh tên họ chỉ có giá trị tham khảo, họ thường áp dụng tiêu chí đánh giá qua chỉ số thông minh IQ ( Intelligent Quotient ), chỉ số cảm xúc EQ ( Emotional Quotient ) để tuyển chọn nhân sự theo mong muốn.

Thiết nghĩ chúng ta cũng nên bắt đầu làm quen “công nghệ mới” bổ sung thêm cho hệ thống tuyển chọn nhân sự có tài. Có thể nói lâu nay ta chưa có một hệ thống tiến cử, tuyển chọn hiền tài công tâm, dân chủ và khoa học.

Chúng ta biết rằng, trong thực tiễn quản lý, nhất là ở tầm hoạch định chính sách, nhiều vấn đề phát sinh không có trong sách vở, các thông lệ. Hơn nữa, công cuộc đổi mới cũng như cải cách hành chính và những vấn đề bức xúc của Nhà nước ta chưa có tiền lệ. Vì thế, nếu chỉ biết “nhai lại” mà chỉ số thông minh, chỉ số cảm xúc thấp thì khó có khả năng đề xuất giải quyết những vấn đề bức xúc có tính đột phá. Có chỉ số thông minh, chỉ số cảm xúc cao mới có điều kiện để năng động, sáng tạo!...

Cần sự chấn hưng giáo dục một cách toàn diện

Thời gian vừa qua, ngành giáo dục có những động thái mới đáng được hoan nghênh như: nói không với bệnh thành tích trong thi cử, chống việc thầy đứng nhầm lớp, trò ngồi nhằm lớp, giảm tải, liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp... Bằng ấy công việc là tích cực nhưng chưa đủ, phải có chiến lược về chấn hưng giáo dục.

Muốn vậy, phải mạnh dạn thay đổi triết lý về giáo dục. Lâu nay chúng ta dạy người học chỉ quan tâm đầu vào mà không quan tâm định hướng đầu ra - định hướng năng lực. Trên cơ sở đào tạo theo định hướng đầu ra - định hướng năng lực mà xây dựng giáo trình tùy thuộc vào sự định hướng này. Bên cạnh đó, cách dạy cho người học vẫn mang nặng tư duy ban phát kiến thức một chiều, nặng về kiến thức chung chung, thiếu kỹ năng thực hành. Thầy giáo cứ nói, cứ giảng, người học cứ nghe, không nghe mặc kệ. Cách giảng dạy như vậy được gọi là dạy thụ động.

Ngày nay người ta thường áp dụng cách dạy tích cực. Thầy giáo đóng vai trò hỗ trợ viên (Facilitator) đưa ra vấn đề gợi mở, chia thành nhóm, người học thảo luận, nhóm đưa ra những chính kiến của nhóm mình, trao đổi, tranh luận giữa các nhóm khác. Chân lý, những kết luận đúng thường bật ra trong khi trao đổi và tranh luận. Thầy giáo lúc này có trách nhiệm tổng hợp, xâu kết các ý kiến. Cách giảng dạy tích cực bắt động não, trau dồi khả năng phản biện, rèn bản lĩnh tư chất khoa học, tư duy độc lập. Chính ở môi trường học, dạy tích cực dễ phát hiện được những cá thể ưu trội. Cũng qua cách giảng dạy tích cực bộc lộ người thầy (người hỗ trợ viên) có đủ bản lĩnh hay không.

Nền giáo dục như vậy cần nhằm vào việc hình thành môi trường học tập mới thích ứng với hoàn cảnh hiện đại ngày nay.

Có bốn khía cạnh chính của môi trường học tập mới đang hình thành: người học, trí thức, đánh giá và cộng đồng. Yếu tố cộng đồng và học tập đã mở rộng để bao trùm toàn thể xã hội và toàn bộ cuộc đời con người, không chỉ giới hạn trong phạm vi trường lớp. Và vai trò người học đã trở thành trung tâm cho quá trình học tập cả đời, việc học không chỉ tiến hành dưới sự chỉ dẫn của thầy mà chủ yếu phải là quá trình tự học, dù ngay trong trường học.

Người học cần nắm chắc những kiến thức đánh giá về tính hiệu quả của việc học của mình, không chỉ dựa vào những đánh giá của giáo viên. Và nội dung tri thức cần học tập, thường xuyên được đổi mới theo đà tiến của công nghệ và xã hội, cũng dần trở thành những điểm chính của quá trình học tập. Bắt đầu một thời kỳ dạy thật, thi thật và làm thật, xây dựng một xã hội học tập đích thực.

Trước mắt cần tập trung giải quyết những vấn đề bất cập trong đào tạo nhằm chấn hưng giáo dục, đào tạo phải theo định hướng đầu ra, theo nhu cầu thị trường lao động để phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều này rất có ý nghĩa khi nước ta đã là thành viên WTO cần đến sự tự tin tham gia hội nhập để hội nhập thành công.

Đối với việc tuyển chọn công chức, thực hiện nghiêm túc chế độ thi tuyển công khai, minh bạch, dân chủ. Đối với công chức lãnh đạo thực hiện thi tuyển cạnh tranh vào các chức danh. Bổ sung chế định sát hạch định kỳ để đánh giá công chức. Thay đổi chế độ làm việc suốt đời bằng chế độ ký hợp đồng linh hoạt, bảo đảm công chức có vào có ra tránh tình trạng sống lâu lên lão làng, chây ì.

Diệp Văn Sơn

Mảnh bằng Tiến Sĩ là giấy tiến thân ?

Hiện nay, Việt Nam có 14.000 tiến sĩ và 16.000 thạc sĩ , cao gấp 5 lần Thái Lan và 6 lần Malaysia. Nhưng trình độ công nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung, chúng ta còn thua họ đến vài chục năm.

Như vậy thì cái bằng Tiến sĩ và Thạc sĩ của nước ta có phản ánh đúng chất lượng người học, có bao nhiêu phần trăm là người “học giả” ?

Chính Bộ trưởng Giáo Dục và Đào Tạo đã đưa ra một con số rất khiêm tốn là 30% Tiến Sĩ có trình độ yếu. Con số này chắc còn rất xa sự thật nếu có một Hội đồng rà soát lại các luận án Tiến Sĩ, nhất là các luận án khoa học xã hội.

Về số liệu những bài được đăng trên các tạp chí chuyên ngành thế giới và bằng phát minh sáng chế của các Tiến Sĩ Việt Nam thì các báo đã nói là thua kém Thái Lan khoảng 20 lần.

Theo số liệu mới nhất của Ủy Ban Khoa Học Công nghệ và môi trường của Quốc hội, Việt Nam có đội ngũ 50.000 người đang làm việc trực tiếp trong 1.102 cơ sở nghiên cứu nhưng nền công nghiệp của nước ta “chưa tự làm nổi chiếc đinh vít cho ra đinh vít”.

Đây là chuyện thật 100%, Công ty Canon Việt Nam không thể tìm một xí nghiệp nào ở Việt Nam để đặt đinh vít đạt chuẩn ISO.

Sở dĩ có tình trạng nhiều Tiến Sĩ đến như vậy mà đất nước thì vẫn lạc hậu như thế này là do người ta đã coi cái bằng Tiến Sĩ như một cái giấy thông hành để dễ “ thăng quan tiến chức ”. Và chức đẻ ra quyền, quyền đẻ ra tiền, đó là cái đích cuối cùng của khá nhiều luận án Tiến Sĩ của những “ học giả ”, những “ Tiến Sĩ giấy ”. Một số ít quan ở các thành phố đã tốt nghiệp Đại Học rồi thì cần cái bằng Thạc Sĩ và Tiến Sĩ để tỏ ra “trí thức”, dễ thăng tiến.

Trong báo cáo thẩm tra của ủy ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, bà Trần Thị Tâm Đan - Chủ nhiệm UB đã xác nhận :

“Khi có chủ trương tiêu chuẩn hoá cán bộ, công chức, đã dấy lên một phong trào học tập… Nhưng rất đáng tiếc, có một bộ phận người lớn đi học với động cơ không đúng đắn, không học tập nghiêm túc, chỉ cần có một tấm bằng mà không quan tâm đến kiến thức. Vì vậy tình hình học giả bằng thật, hiện tượng sao chép luận văn Thạc Sĩ, Tiến Sĩ xảy ra không phải ít ”.

“Trong lịch sử Giáo Dục nước nhà, chưa bao giờ các dịch vụ làm luận văn, luận án lại được quảng cáo xung quanh các trường đại học như hiện nay...”

Bộ Giáo Dục và Đào Tạo công bố con số 220 thí sinh bị đình chỉ trong các kì thi cao học vừa qua chỉ là bề nổi của một sự gian dối đã thấm sâu trong người lớn mấy chục năm nay. Đầu vào của Thạc Sĩ thi như vậy mà đầu ra thì theo Bộ Giáo Dục và Đào Tạo , luận văn Thạc Sĩ của một số cơ sở đạt loại xuất sắc đến 90% !

Thí sinh chỉ cần “ năng đến nhà thầy ” thì nhận được điểm như ý muốn. Chủ đề quá đơn giản, chung chung, chất lượng “ảo”, bảo vệ xong chỉ xếp xó. Các hội đồng chấm luận văn phổ biến cho điểm cao để cùng vui vẻ.

Theo con số của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo thì mỗi năm có hàng ngàn Thạc Sĩ được cấp bằng : Năm 1998 có 5.388 người, năm 2001 là 6.500 người, năm 2003 là 11.500 người ( lấy số chẵn ), năm 2002, trường Đại Học Bách khoa Hà Nội cấp bằng cho khoảng 600 Thạc Sĩ, trường Đại Học Sư phạm HN cấp 450 bằng.

Một Tiến Sĩ trường Đại Học Nông nghiệp Hà Nội “ rất đỗi tự hào ” trong 7 năm đã đào tạo được 306 thạc sĩ, trong đó có 91% loại giỏi và xuất sắc ( báo KH&ĐS 11/2004 ). Chính vì vậy nên các dịch vụ làm luận văn, luận án lại được quảng cáo rầm rộ xung quanh các trường Đại Học như hiện nay, và giá trị khoa học của những luận văn, luận án chỉ gần là con số không.

Còn về cái bằng Tiến Sĩ, cũng không phải không có tình trạng gian dối trong thi nghiên cứu sinh, báo chí gần đây đã nêu lên ở Viện Khoa Học Kỹ Thuật nông nghiệp là một ví dụ.

Sự gian dối phổ biến trong chất lượng các luận án. Rất nhiều luận án Tiến sĩ không có giá trị thực tiễn, nhiều luận án khoa học xã hội như lịch sử hay triết sao chép, xào nấu các luận án, sách vở khác, minh họa cho một chủ trương vô bổ.

Thậm chí không ít trường hợp “ăn cắp đề tài nên chất lượng rất thấp” ( theo PGS TS Vũ Như Khôi, Viện nghiên cứu quân sự Bộ Quốc phòng ). Chính vì vậy nên rất nhiều luận án đã “ chùm chăn, đắp chiếu ” trong kho lưu trữ ở thư viện, khả năng ứng dụng chỉ đếm trên đầu ngón tay!

Trong một bài trả lời báo chí, GS Hoàng Tụy đã nhận định : “ Trên thế giới, không ở đâu đào tạo Thạc Sĩ và Tiến Sĩ nhanh, nhiều, rẻ và ẩu như ở nước ta ”.

Ấy thế mà trong chiến lược phát triển Giáo Dục đến năm 2010, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đề ra phải đào tạo được 19.000 Tiến Sĩ , tính ra mỗi năm gần 4.000 Tiến Sĩ . Chỉ tiêu đó bổ cho các trường, trường nào thực hiện được chỉ tiêu là có thành tích. Học vị Tiến sĩ đâu có thể đề ra chỉ tiêu số lượng như sản xuất bao nhiêu cái đồ chơi cho trẻ con…

Số lượng Tiến Sĩ đào tạo phụ thuộc vào số lượng sinh viên xuất sắc, có tư duy sáng tạo, biết nghiên cứu và tìm ra những vấn đề cần giải quyết của thực tiễn phát triển khoa học kĩ thuật, dưới sự hướng dẫn của những người thầy tài giỏi.

Trong khi đội ngũ chất lượng người dạy ở Đại Học nước ta như hiện nay vừa yếu, vừa thiếu, còn thua kém nhiều trường Đại Học trong khu vực thì việc đào tạo số lượng Tiến Sĩ nhiều như vậy chỉ dẫn đến nhiều “ học giả ” có danh mà không có thực thôi.

Nguyễn Thế Long