NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Ảnh Hưởng Của Tổ chức thương mại thế giới WTO Vào Nền Kinh Tế Việt Nam

Đệ nhị thế chiến xảy ra do kinh tế. Trong thế kỷ 19, Anh quốc chiếm Nam Phi và nhiều nước Phi châu, Ấn Độ nay là Ấn, Pakistan, Bangadesh, Miến Điện . Pháp chiếm Algerie, Tunisie, Morocco, Đông Dương ( Việt Nam , Campuchia , Lào ). Hòa Lan chiếm Nam Dương quần đảo Indonesia… . Đế Quốc mua nguyên vật liệu rẻ của thuộc địa rồi bán các sản phẩm tiêu dùng đắt cho thuộc địa, họ giữ độc quyền buôn bán. Sau khi Đức và Nhật có nền kỹ nghệ phát triển cao, họ cần bán sản phẩm và mua nguyên liệu nhưng họ không có thuộc địa nên gặp khó khăn. Để giảì quyết họ phải gây chiến để chia lại bản đồ thế giới. Đó là nguyên nhân của đệ nhị thế chiến. Vì vậy sau đệ nhị thế chiến toàn thể các nước muốn giải quyết buôn bán bằng hòa bình cho nên GATT và WTO ra đời.

Nền giáo dục của Việt Nam hiện tại cũng như tương lai chỉ cốt phục vụ nền kinh tế quốc gia, đảm bảo nâng cao mức sống cho mọi người dân và chống tụt hậu. Con đường mà chính Việt Nam lựa chọn là đi vào tổ chức WTO để hàng hóa Việt Nam có thể cạnh tranh được với các hàng hóa trên toàn thế giới với lý do là hàng hóa của các nước ở trong tổ chức WTO hưởng thuế rất nhẹ còn những nước ở bên ngoài tổ chức WTO chịu thuế nặng. Do đó, nếu Việt Nam không ở trong tổ chức WTO thì không thể cạnh tranh được và tất nhiên bị loại khỏi Mậu Dịch Quốc Tế.

Vậy vấn đề vào WTO là một vấn đề rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế mau chóng. Bài viết này chia thành nhiều phần sẽ trình bày những luật lệ của tổ chức WTO, điều kiện gia nhập WTO, được lợi gì khi được gia nhập WTO... gồm có những phần chính yếu sau đây :

- Lịch sử.

- Cơ bản.

- Các thỏa thuận.

- Giải quyết mâu thuẫn.

- Các vấn đề mới.

- Doha chương trình (Doha Agenda) .

- Các nước đang phát triển.

- Tổ chức .

WTO ( World Trade Organization ) : Tổ chức thương mại thế giới

Tương lai kinh tế của Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào Mậu Dịch Quốc Tế. Hiện nay có khoảng 150 nước đã gia nhập. Khi đã tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới,các quốc gia thành viên phải tuân theo luật của tổ chức này nghĩa là các chế độ thuế khóa và hàng nhập cảng phải tuân theo quy ước chung không được sáng chế ra và để cho hàng hóa các nước cạnh tranh với hàng nội địa.

Tóm tắt WTO :

Những nước tham gia tổ chức WTO được vào thị trường của tất cả các nước hội viên. Mọi quyết định của tổ chức WTO phải được sự đồng thuận của các hội viên, được thông qua bởi nghị viện của các thành viên và được giải quyết bởi tổ chức WTO. Tổ chức này sẽ giải quyết sự ma sát thương mại (Trade Friction) căn cứ vào các thỏa thuận đã được đồng ý chung. Như vậy, WTO làm giảm thiểu sự nguy hại do mâu thuẫn mậu dịch và phá vỡ hàng rào quan thuế (Trade barrier) của các nước với nhau.

Chính sách đa mậu dịch (Multilateral trade) được thỏa thuận và thông qua bởi nghị viện WTO. Các thỏa thuận này là điều lệ tư pháp (Legal Ground-Rules) cho thương mại quốc tế. Chính sách của WTO bảo đảm quyền thương mại của toàn thể các hội viên và buộc toàn thể các nước giữ chính sách thương mại trong điều kiện thỏa thuận có lợi cho toàn thể các hội viên. Những thỏa thuận này được thương nghị và ký kết bởi các chính phủ. Mục đích của các thỏa thuận nhằm giúp cho các nhà sản xuất, nhập cảng thi hành nhiệm vụ mậu dịch và bảo đảm sự ích lợi của toàn thể nhân dân trong các nước hội viên.

Tổ Chức WTO :

1- Lịch Sử:

Tổ chức Mậu Dịch Quốc Tế (WTO) xuất hiện năm 1995. Tổ chức này là thừa kế của tổ chức GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) thiết lập sau đệ nhị thế chiến vời mục đích thỏa thuận chung vể thuế khóa và mậu dịch. Như vậy, tổ chức WTO rất còn trẻ mới có 10 năm nhưng tổ chức GATT thì đã có trên 50 năm. Trong 50 năm hậu Đệ Nhị Thế Chiến (World War II), kinh tế thế giới phát triển rất mãnh liệt, trung bình hàng hóa bán mỗi năm tăng khoảng 6%. Tổng số thương mại năm 2000 gấp 22 lần tổng số năm 1950. Tổ chức GATT và WTO được thành lập để phục vụ cho nền kinh tế phát triển trên toàn thế giới. Hệ thống này được phát triển sau nhiều lần thương nghị của các nước dưới danh nghĩa GATT.

Vòng thương lượng đầu tiên chủ trương giảm thuế nhưng các thương lượng kế tiếp nhằm vào việc không được bán phá giá nghĩa là nhiều nước chỉ cần Mỹ kim mà bán rẻ hơn các giá sản xuất. Thương lượng cuối cùng xảy ra năm 1986 đến năm 1994 tại Uruguay (gọi tên là Uruguay Round) dẫn đến tổ chức WTO.

Năm 1977 tháng 2 đã có thỏa thuận về Viễn Thông với 69 chính phủ thỏa thuận. Cùng năm này, 40 nước đã hoàn tất ký kết các hiệp ước phi thuế (Tariff - Free Trade) trong Sản Phẩm Kỹ Thuật Thông Tin (Information Technology Products) và 70 nước ký kết các hiệp định liên quan đến Ngân Hàng, Bảo Hiểm, An Ninh và Tài Chánh. Năm 2000, tổ chức bắt đầu thảo luận về các nông nghiệp, dịch vụ, thuế khóa của các hàng, không phải nông phẩm và môi trường (Environment) . Tất cả đã xảy ra tại Hội nghị Qatar vào tháng 11 năm 2001. WTO có luật lệ cấm phá giá (bán rẻ hơn giá vốn) cấm trợ cấp (thí dụ chính phủ không được trợ cấp nông dân để cho giá thành nông phẩm rẻ cạnh tranh với ngoại quốc), thỏa thuận về tài sản tri thức (Intellectual property) và hạn đến tháng giêng năm 2005 thì xong.

2- Cơ bản:

- Địa Điểm: Geneva (Genève) Thụy Sĩ.

- Ngày Thành Lập : 1 tháng giêng năm 1995.

- Tạo Bởi : Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994).

- Thành Viên : 150 nước.

- Ngân Sách : 169 triệu Francs Thụy Sĩ (năm 2005).

- Ban Bí Thư : 630 nhân viên.

- Chủ Tịch : Pascal Lamy – danh xưng là Chủ Tịch Ban Điều Hành hoặc Tổng Giám đốc (Director General).

Chức Năng :

- Quản lý các thỏa thuận của WTO (Administering WTO Trade Agreement).

- Nơi thương nghị mậu dịch (Forum for Trade Negotiations).

- Giải quyết các tranh chấp mậu dịch (Handling Trade Disputes) .

- Theo dõi chính sách mậu dịch của các quốc gia (Monitoring National Trade Policies)

- Giúp đỡ kỹ thuật và huấn luyện cho các nước đang mở mang (Technical Assistance and Training for Developing Countries) .

- Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác (Cooperation With Other International Organizations) .

Sơ Đồ Tổ Chức : (Organization Chart) Tất cả WTO thành viên có thể tham dự trong toàn thể các Hội đồng, Ủy ban trừ Hội đồng giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Panels) Hội đồng theo dõi hàng tơ lụa may mặc (Textiles Monitoring), Ủy ban Đa dạng (Plurilateral Comittee), và Ủy ban Phá Án (Apellate Comittee) .

Hội Nghị Bộ Trưởng : (Ministerial Conference).

Hội Nghị này quyết định những Nghị quyết quan trọng, 2 năm họp một lần.

Ban Thường vụ (General Council) đó là ban quyết định hàng ngày gặp thường xuyên tại Geneva, hợp tác giữa các ban khác nhau và quyết định chính sách kinh tế toàn cầu (Global Economic Policies).

Các Nước Thành Viên :

Các nước thành viên cho đến năm 2007 gồm 150 thành viên. Muốn biết chi tiết vào Website sau đây:

http://www.wto. org/english/ thewto_e/ whatis_e/ tif_e/org6_ e.htm

Các Nước Làm Quan Sát Hội Viên :

Có 32 quan sát hội viện (Observer Governments) trong đó có Nga, Lào, Iran, Iraq, Afghanistan, Algeria, ....

Điều Kiện Gia Nhập WTO:

Bất cứ quốc gia nào đều có thể gia nhập WTO nhưng phải kỳ thỏa thuận với toàn thể các thành viên cũ. Việc này được thi hành trong các Hiệp định.

Thí dụ như trường hợp Việt Nam, đã phải ký về thỏa thuận mậu dịch của các nước quan trọng nhất là Hoa Kỳ, Nhật, Úc, Anh, Pháp, Đức và Trung Quốc vì 7 quốc gia này có tỷ trọng thương mại cao. Thí dụ, Mỹ có trên 2000 tỷ trong khi Việt Nam chỉ có 20 tỷ hàng năm.

Ban Bí Thư:

Ban bí thư của WTO được chủ tọa bởi Tổng Giám Đốc (Director General). Website sau đây liệt kê các chi tiết:

http://www.wto. org/english/ thewto_e/ whatis_e/ tif_e/org4_ e.htm

Tổng Giám Đốc chỉ huy các trưởng ban. Hiện nay. Tổng Giám Đốc là Pascal Lamy.

Các Phụ Tá Tổng Giám Đốc (Deputy Director General) gồm có các chức vụ và trách nhiệm như sau:

Đệ nhất Phụ tá Tổng Giám Đốc là Roderick Abbott - phụ trách về Tái chính, Ngân sách, Quản trị, Nhân sự, Thông tin, Mậu dịch và Môi trường, Kỹ thuật và Hàng rào Quan thuế, Nghiên cứu Chính sách Mậu dịch.

Đệ nhị Phụ Tá Tổng Giám Đốc là Kipkorir Aly Azad Rana - phụ trách về Mậu dịch và Phát triển, trông coi về các nước kém mở mang (Least-Developed Countries), Nghiên cứu Kinh tế và Thống kê, Huấn luyện và Hợp tác Kỹ thuật Kiểm tra.

Đệ tam Phụ Tá Tổng Giám Đốc là Francisco Thompson-Flôres - phụ trách về thu nhận/thương lượng thành viên mới, Nông phẩm và Vệ sinh (thí dụ cá Ba Sa cho hóa chất quá liều lượng nên hiện nay có 3 tiểu bang của Mỹ không chịu cho nhập vô. Tuy nhiên, nếu Việt Nam là một thành viên của tổ chức WTO thì có thể kiện sự việc này tại Geneva), Quyền lợi Tri thức (Intellectual Property Division), nắm quyền đối ngoại với các tổ chức của các chính phủ hoặc ngoài chính phủ.

Đệ tứ Phụ Tá Tổng Giám Đốc là Rufus Yerxa trông coi về Tư Pháp (Legal Affairs Division) giải quyết các cuộc tranh chấp (Dispute Settlement), Thị trường tham dự (Market Access Division) gồm có Ủy ban về hàng hóa, quyền lợi xâm nhập thị trường, thuế khóa, giá trị quan thuế, những sản phẩm không chịu thuế, giấp phép nhập cảng, nguồn gốc, kiểm tra trước khi gửi hàng.

Phân Khoa Luật Lệ - Chống phá giá (anti-dumping) , tiền trợ cấp, về hàng không dân sự, v.v..., Mậu dịch và Tài chánh, sự trả nợ liên hệ giữa Ủy ban Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thê giới (World Bank), sự Mậu dịch đơn giản (Trade Facilitation - simplification of trade procedures), Mậu dịch và đầu tư (Trade Investment), Mậu dịch Dịch vụ (Trade in Services) GATS - General Agreement Trade Service.

3- Các Hiệp Ước:

a) Các Hàng Hóa:

Gồm có :

- Canh nông.

- Nông phẩm .

- Sản phẩm tơ lụa quần áo (Textiles and clothing).

- Tiêu chuẩn sản phẩm (Product Standards TBT) .

- Đầu tư (Investment measures).

- Các biện pháp chống phá giá (Anti-dumping measures).

- Các phương pháp đánh giá quan thuế (Customs Valuation Methods).

- Sự kiểm tra trước khi gửi hàng (Preshipment inspection).

- Luật lệ của nguồn gốc (Rules of origin).

- Giấp phép nhập cảng (Import Licensing).

- Tài trợ và các biện pháp phản tài trợ (Subsidies and Counter Measures).

- Bảo toàn (Safeguards).

b) Dịch Vụ GATS (The Agreement on Trade in Services)

- Sự di chuyển của nhân viên (Movement of natural persons).

- Không vận (Air Transport) .

- Dịch vụ tài chánh (Financial services).

- Vận chuyển hàng hóa (Shipping).

- Viễn thông (Telecommunications ).

Tổng quan (Overview) :

Các hiệp ước WTO bao gồm hàng hóa dịch vụ và các sản phẩm tri thức (Intellectual property). Trong các phần thỏa thuận này có các nguyên tắc của tự do mậu dịch và những điều kiện giới hạn đặc biệt. Các nước tham dự đồng ý giảm thiểu thuế quan nhập cảng, hàng rào quan thuế và mở rộng các thị trường dịch vụ. Trong các thỏa thuận này, các nước đang mở mang được đối đãi đặc biệt. Tất cả các chính phủ phải có chính sách mậu dịch trong sáng, thông báo cho WTO các luật lệ và các biện pháp áp dụng bằng cách báo cáo đều đặn cho thư ký (bí thư) đoàn về các chính sách mậu dịch. Các hiệp ước này chính là chính sách mậu dịch của WTO, hệ thống này dựa trên luật lệ (System based on rules). Nhớ rằng các luật lệ này không ai bắt buộc ai nhưng chính các chính phủ đã ký kết với nhau. Chương này tập trung vào thỏa thuận Uruguay (Uruguay Round Agreements). Thỏa thuận này được ký kết tại Doha tháng 11 năm 2001.

Các phần Chính Yếu của Nguyên tắc rộng (Broad Principles).

Ba phần chính yếu :

- GATT (The Agreement on Tariffs and Trade) ứng dụng cho sản phẩm.

- GATS (The Agreement on Trade in Services) cho dịch vụ.

- TRIPS (Trade Related Aspects over Intellelctueal Property Rights) ứng dụng cho sản phẩm tri thức (do khối óc sản xuất thí dụ phần mềm viết để chạy máy vi tính hoặc trò chơi điện tử).

Các Nguyên tắc rộng .

Các thỏa thuận thêm ứng dụng cho các vấn đề đặc biệt .

Thời biểu dành cho các thành viên được thâu nhận vào thị trường phải tuân theo. Đối với thỏa thuận GATT, phải tuân hành vể thuế khóa thí dụ các nước mở mang như Anh, Mỹ, Pháp... thì năm 2000 các sản phẩm nông nghiệp nhập cảng không được đánh thuế quá 20%, các nước kém mở mang như các nước Phi Châu thì thời hạn này được hoản đến năm 2009.

Thuế khóa : Thuế khóa tiến gần về zero gần như bỏ thuế quan. Vòng đàm phán Uruguay gồm có 22500 trang ghi rõ các thỏa thuận của các nước về các vấn đề hàng hóa và dịch vụ trong đó có khoảng cắt giảm thuế quan và có thời hạn của thuế quan trên hàng hóa. Trong một vài trường hợp thuế quan còn 0% như thế có nghĩa là người mua được lựa chọn thứ tốt và rẻ nhất.

Các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật...trong thời hạn là 5 năm kể từ tháng giêng năm 1995, các sản phẩm kỹ nghệ phải giảm từ 40% xuống còn khoảng 3,8% - 6,3% . Và các hàng hóa chịu thuế khóa 0% trong các nước phát triển từ 20% sẽ lên 44%. Tất cả các hàng hóa trước kia chịu thuế quan 15% trở lên sẽ giảm xuống còn 7,5% . Sản phẩm hàng hóa từ các nước đang mở mang ( developing countries ) trước chịu thuế quan 15% hoặc hơn, nay sẽ giảm xuống 9% tới 15%.

Ngày 26 tháng 03 năm 1997, 40 nước đã ký hiệp ước nhưng chiếm tỷ trọng mậu dịch 92% (nghĩa là 160 nước còn lại chưa ký hiệp ước tỷ trọng mậu dịch có 8% mà thôi) đã quyết định loại bỏ thuế nhập cảng các hàng hóa của họ vào năm 2000.

c) Canh nông:

Thỏa thuận GATT không ứng dụng cho mậu dịch canh nông. Canh nông gồm có 3 phần:

Quyền tham gia thị trường (Market access).

Trợ cấp nội địa (Domestic support) .

Trợ cấp xuất cảng (Export subsidies): Trong thỏa thuận này cho phép các chính phủ trợ giúp các vùng nông thôn. Các nước đang phát triển không phải cắt giảm các trợ cấp và giảm các thuế xuất (tariffs) như các nước phát triển và được nhiều thời gian để hoàn tất các điều bắt buộc. Còn những nước kém mở mang không phải làm gì cả.

Tham Gia Thị Trường : (Market Access).

- Luật mới để tham gia thị trường các nông phẩm là thuế quan mà thôi nghĩa là bỏ Chính sách quota (hạn ngạch) .

- Trước vòng đàm phán Uruguay, các sản phẩm canh nông nhập cảng (gạo, bắp, khoai, sắn...) thì bị giới hạn bởi Quota (giới hạn hàng hóa).

Ngày nay không còn Quota chỉ ứng dụng quan thuế biểu mà thôi. Chính sách biến Quota thành thuế khóa gọi tên là thuế khóa hóa (tarrification) . Các nước phát triển (developed countries) cắt thuế biểu khoảng 36% trong 6 năm. Các nước đang mở mang (developing countries) cắt thuế biểu 24 % trong vòng 10 năm. Các nước kém mở mang (least-developed countries) không phải cắt thuế biểu.

Tất cả các nước tham gia WTO phải thi hành các thỏa thuận. Đối với các sản phẩm trước kia dùng chính sách Quota nay đổi sang chính sách thuế, các chính phủ được phép thi hành các hành động đặc biệt khẩn cấp (Special Emergengy Actions) hầu bảo đảm cho hàng hóa không bị đột ngột, tăng hoặc giảm giá nhiều khi nhập cảng mà không làm phương hại đến nông dân.

Bốn nước dùng chính sách đặc biệt khẩn cấp để giới hạn nhập cảng một số hàng hóa quan trọng như gạo. Bốn nước đó là Nhật Bổn, Nam Hàn, Philippine chế tài gạo, Do Thái chế tài thịt trừu (cừu), sữa bột và phó–mát. Ngày nay, Nhật không còn ứng dụng các hành động khẩn cấp nữa đối với gạo nhưng Đài Loan lại thi hành chính sách về gạo cùng với Nam Hàn và Philippine.

Sản Phẩm Được Trợ Cấp Nội Địa (Domestic Support) .

Trợ cấp không làm tăng sản phẩm được dùng.

Trợ cấp làm tăng sản xuất không được dùng.

Công việc của thành viên WTO là tính toán xem sự trợ cấp nội địa tới mức nào thì vừa phải (họ dùng phép Toán gọi là Total Aggregate Measurement of Support). Các nước phát triển (Developed countries) đồng ý giảm sự tài trợ 20% trong 6 năm kể từ năm 1995, trong khi các nước đang pháp triển (Developing countries) cắt 13% trong vòng 10 năm, còn các nuớc kém mở mang (Least- Developed countries) thì không cần phải cắt.

Những hành động không có ảnh hưởng nhiều tới mậu dịch được tự do thi hành thí dụ như những trợ giúp của chính phủ cho việc nghiên cứu kiểm tra bệnh tật, xây dựng đường sá và kiểm soát an toàn thực phẩm. Ngoài ra, các việc trả tiền cho nông dân để khỏi tăng sản xuất cũng không bị giới hạn, thí dụ chính phủ Mỹ không bị cấm trong việc trả tiền cho nông dân khỏi dùng đất để sản xuất lúa mì cốt giữ giá lúa mì khỏi bị hạ giá.

Trợ cấp xuất cảng (Export Subsidies) :

Các thỏa thuận buộc các nước thành viên WTO phải cắt giảm trợ cấp xuất cảng. Các nước mở mang phải cắt trợ cấp xuất cảng 36% trong vòng 6 năm kể từ năm 1995, còn các nước đang mở mang phải cắt 24% trong vòng 10 năm.

Các nước kém mở mang và các nước phụ thuộc vào thực phẩm nhập khẩu .

Một số nước không sản xuất đủ lương thực để dùng vì điều kiện địa lý, khí hậu như các nước Phi Châu, cần phải nhập cảng lương thực rẻ và vì vậy điều kiện phụ cấp nông phẩm xuất khẩu từ các nước khác không bị hạn chế để cho các nước nghèo này được mua các lương thực rẻ tiền.

d) Tiêu Chuẩn và An Toàn (Standards and Safety).

Điều thứ 20 của GATT cho phép các chính phủ được hành động về mậu dịch với mục đích bảo vệ nhân sinh, súc vật, thực vật . Như vậy, tất cả những đồ nhập cảng phải an toàn và có tiêu chuẩn SPS (Sanitary and Phytosanitary Measures Agreement) dựa trên khoa học. Tất cả các nước thành viên của WTO được cho phép thông qua các tiêu chuẩn của họ và khuyến khích dùng những tiêu chuẩn quốc tế nếu đã có sẵn. Tuy nhiên các thành viên cũng có quyền nâng cao tiêu chuẩn nếu có bằng chứng khoa học chứng minh. Trong phần thỏa ước 5.7 của SPS cho phép ứng dụng những biện pháp tạm thời.

Kỹ Thuật Điều Hành và Tiêu Chuẩn (Technical Regulations and Standards) .

Mỗi nước có tiêu chuẩn riêng và vì vậy làm cho việc xuất cảng khó khăn, do đó WTO dùng một tiêu chuẩn chung gọi là Hàng rào Kỹ thuật cho các thỏa thuận mậu dịch TBT (Technical Barriers to Trade Agreement). Thỏa thuận này đặt ra các tiêu chuẩn phải thử nghiệm và kiểm nhận không tạo ra những rào cản không cần thiết. Những thỏa thuận này đồng ý cho các nước thi hành các tiêu chuẩn để bảo vệ con người, động vật, thực vật và môi sinh. Tuy nhiên, WTO cũng khuyến cáo các nước cố gắng dùng các tiêu chuẩn quốc tế.

3- Các Hiệp Ước :

e) Vải vóc tơ lụa và quần áo (Textiles) :

Năm 1995, hiệp ước về vải vóc tơ lụa và quần áo (ATC - Agreement on Textiles and Clothing) hình thành. Tháng giêng năm 2005, phần này được đặt trong các quy luật của GATT. Và kể từ năm nay không còn ứng dụng quy chế Quotas nữa.

Trong vòng 10 năm có 4 bước (4 steps over 10 years) :

Sản phẩm dưới hiệp định GATT :

- Vải vóc tơ lụa.

- Những hàng từ tơ lụa (giày vải, mũ, khăn quàng cổ ....).

- Quần áo.

Sự bảo toàn có thể được ứng dụng bằng những thỏa thuận riêng hoặc đơn phương hoặc đa phương. Các vấn đề này được cứu xét bởi ủy ban quần áo tơ lụa (Textiles Monitoring Committe).

Ủy ban theo dõi hàng vải vóc quần áo (TMB – Textiles Monitoring Body): Ủy ban này sẽ kiểm soát các ứng dụng của các thỏa hiệp. Ủy ban gồm 1 chủ tịch (Chairman) và 10 thành viên có nhiệm vụ theo dõi để thực thi các điều thỏa hiệp đã ký kết và giải quyết các vấn đề tranh chấp. Những vấn đề không giải quyết được, ủy ban sẽ đưa ra tổ chức Mậu Dịch quốc tế để giải quyết (Dispute Settlement Body).

f) Dịch Vụ (Services)

Luật lệ phát triển và đầu tư (Rules for Growth and Investment).

Hiệp ước về dịch vụ GATS là luật lệ ứng dụng cho các dịch vụ. Các luật lệ này rất cần thiết trong quá trình cách mạng thông tin (communication revolution).

Các dịch vụ chỉ phát triển và chiếm khoảng 60% dịch vụ, 30% các công việc (thí dụ viết phần mềm) và 20% tổng sản lượng mậu dịch.

Thỏa ước GATS gồm có 3 thành phần:

Thành phần bắt buộc và kỷ luật (General Obligations and Disciplines).

Phụ thuộc ứng dụng cho các phần đặc biệt (Specific sectors) .

Cho phép các dịch vụ thông tin được xâm nhập trong thị truờng một nước.

Phần bắt buộc chung và kỷ luật.

Phần bao trùm tổng quát (Total coverage) .

Các hiệp ước sẽ bao trùm toàn thể các dịch vụ mậu dịch quốc tế (Internationally Traded Services), thí dụ dịch vụ về ngân hàng, dịch vụ về viễn thông, dịch vụ về du lịch, dịch vụ nghề nghiệp (professional services).

Thỏa ước này định nghĩa đường lối của dịch vụ mậu dịch. Dịch vụ từ nước nọ sang nước kia (dịch vụ gọi điện thoại tử Việt Nam sang Mỹ) thường gọi là vượt biên cung cấp (Cross border supply).

Các dịch vụ dùng ở nước khác thí dụ cơ quan du lịch từ Mỹ gởi du khách tới Việt Nam hoặc Trung Quốc.

Các công ty ngoại quốc thiết lập các chi nhánh ở các nước khác thí dụ như Hoa Kỳ lập dịch vụ chi nhánh tại Việt Nam hay Trung Quốc.

Các cá nhân từ nước của họ sang nước khác để cung cấp dịch vụ (thí dụ các kỹ sư Boeing tại Mỹ sang Việt Nam hoặc Trung Quốc để sửa máy bay cho những nước này.

Tối huệ quốc (Most favoured nation – MFN):

Một nước được đối xử tối huệ quốc thì được đối xử trên nguyên tắc không kỳ thị. Theo thỏa ước GATS, bất cứ nước nào cho phép các thành viên WTO hoạt động không kỳ thị trong thị trường của mình thì cũng được các nước khác đối xử như vậy.

Thỏa thuận đồng ý cho xâm nhập thị trường (Market Acces):

Thí dụ nếu chính phủ Việt Nam chẳng hạn cho phép các nhà băng ngoại quốc hoạt động trên toàn cõi Việt Nam, như vậy các thỏa thuận về xâm nhập thị trường đã được đồng ý. Tuy nhiên, nếu chỉ cho một số giấp phép thì đó là xâm nhập giới hạn. Thí dụ như Việt Nam chỉ đồng ý cho 2 hãng hàng không Mỹ bay tới Việt Nam mà thôi thì đó là giới hạn xâm nhập thị trường.

Trong sáng (Transparency) :

GATS ghi rằng toàn thể các chính phủ ở trong WTO phải công khai phổ biến các luật lệ, các việc điều hành trong nước của mình để cho công ty ngoại quốc có thể dùng được và hiểu rõ các thông tin trong các dịch vụ này. Các chính phủ phải có nhiệm vụ thông báo cho tổ chức mậu dịch quốc tế WTO về tất cả các luật lệ ứng dụng trong các dịch vụ.

Điều hành (Regulations) - Mục tiêu và hợp lý (Objective and Reasonable):

Vì sự điều hành nội địa (Domestic Regulations) là điều quan trọng nhất để thực thi ảnh hưởng và kiểm tra dịch vụ, hiệp ước buộc rằng các chính phủ phải điều hành các dịch vụ một cách hợp lý và có mục đích.

Khi một chính phủ ra một quyết định hành chánh (Administrative Decision) ảnh hưởng đến dịch vụ, chính phủ đó phải cân nhắc quyết định (thí dụ dùng tòa án để xét xem quyết định đó có phù hợp với hiệp ước trong WTO).

Công nhận (Recognition) :

Khi hai hay nhiều chính phủ đã đồng ý quyền của đối phương về dịch vụ (thí dụ ban giấp phép hoặc công nhận các dịch vụ).

Trong trường hợp này, GATS cho phép các thành viên khác cũng có quyền thương lượng về các thỏa ước như vậy. Quyền này không bị kỳ thị và sự công nhận các thỏa hiệp của các nước phải được thông báo cho mậu dịch quốc tế.

Sự thanh toán và chuyển ngân quốc tế (International payments and transfers):

Khi các quốc gia đã đồng ý cho phép mở các dịch vụ cho ngoại quốc cạnh tranh thì chính phủ đó phải đồng thời không giới hạn sự chuyển ngân ra ngoại quốc để trả công cho các dịch vụ được cung cấp.

Tiến bộ giải phóng (Progressive liberalization) :

Theo hiệp định của vòng đàm phán Uruguay, GATS cần nhiều cuộc thương nghị để tự do hóa nhiều hơn trong mọi dịch vụ mậu dịch.

Thỏa hiệp này làm dễ dàng các dịch vụ chuyển từ nước nọ sang nước kia (thí dụ dùng phần mềm Microsoft của Mỹ quốc trong các máy vi tính tại Việt Nam và ngược lại cho phép các phần mềm của Việt Nam dùng cho các tiểu thương Việt Nam tại Mỹ đơn giản trong việc sổ sách). Mậu dịch trong các dịch vụ thì đa dạng (diverse), thí dụ như các công ty điện thoại ngân hàng, hàng không và các công ty kế toán v.v...

Sự di chuyển của các cá nhân (Movement of natural persons):

Trong hiệp ước GATS, các cá nhân được phép tạm thời ở trên quốc gia mà mình cung cấp dịch vụ thí dụ như các chuyên viên của Boeing có quyền ở trên đất nước Việt Nam để sửa các tàu bay Boeing của Việt Nam. Tuy nhiên, sự thỏa thuận không áp dụng nếu các nhân viên của Mỹ muốn tìm việc làm thường trực tại Việt Nam .

Dịch vụ tài chính (Financial services):

Sự bất ổn trong hệ thống ngân hàng (banking system) ảnh hưởng tới toàn nền kinh tế. GATS buộc các chính phủ phải dùng các biện pháp khôn ngoan (prudential Measure). Thí dụ phải bảo vệ các nhà đầu tư, người gửi tiền và bảo đảm quyền của các cổ đông (share holders) để bảo đảm sự toàn vẹn và bền vững của hệ thống tài chánh.

Viễn thông (Télecommunications) :

Dịch vụ viễn thông có hai chức năng (Dual roles); một là sự hoạt động của nền kinh tế (economic activities), hai là cung cấp các hoạt động kinh tế thí dụ chuyển tiền bằng điện tử (electronic money transfers).

Trong thỏa ước có ghi rằng các chính phủ phải bảo đảm các nhà cung cấp nước ngoài (foreign service suppliers) phải được quyền xâm nhập (access) vào sự viễn thông đại chúng (public telecommunications) mà không bị kỳ thị (without discrimination) . Thí dụ nếu Việt Nam ký kết GATS thì Mỹ quốc có quyền xâm nhập thị trường Việt Nam về viễn thông. Các công ty của Mỹ có quyền làm ăn tại Việt Nam và ngược lại các công ty Việt Nam có quyền làm ăn tại Mỹ quốc.

Dịch vụ hàng không (Air transport services) :

Dịch vụ hàng không không có trong thỏa ước GATS. Dịch vụ hàng không sẽ được thi hành thỏa hiệp song phương (bilateral agreements). Tuy nhiên, thỏa hiệp GATS ứng dụng cho việc sửa và bảo trì hàng không (aircraft repair and maintenance services). Ngoài ra, GATS cho phép khuyến mãi (marketing) của dịch vụ hàng không và dịch vụ dùng máy vi tính để giữ chỗ trong phi cơ.

g) Tri Thức Tác Quyền (Intellectuel Property) - Bảo vệ và thi hành (Protection and Enforcement) :

Thỏa thuận về mậu dịch liên quan đến tác quyền (TRIPS - Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights) thương thảo trong thời hạn 1986-1994 trong vòng đàm phán Uruguay đã đưa vào các tác quyền tri thức (do trí óc sản xuất) thành một hệ thống đa phương.

Nguồn gốc: Trong luật lệ hệ thống mậu dịch (Origins: into the rules-based trade system).

Các sáng tác trí óc càng ngày càng quan trọng trong mậu dịch. Tất cả giá các thuốc mới và các kỹ thuật cao đều hoàn toàn do sự sáng chế tìm kiếm và thử nghiệm mà có. Các phim, băng âm nhạc, sách vở, phần mềm của máy vi tính và trò chơi điện tử các cổ phần đều được mua bán trên mạng. Nhiều sản phẩm có trong thị trường mậu dịch hiện nay đều do các sản phẩm của tri thức. Như vậy các sáng tác gia cần phải có quyền bảo vệ tác quyền của các sáng chế của họ và người nào dùng những sản phẩm này tất nhiên phải trả tiền do sáng chế ra. Người ta gọi đó là tri thức tác quyền (Intellectual Property Rights). Nó có nhiều dạng thí dụ như sách, tranh vẽ phim, các sáng chế đều có thể được bảo vệ dưới danh nghĩa bằng sáng chế (Patent) và các quốc gia cần phải bảo vệ các tác quyền này. Việc bảo vệ tác quyền phải được thi hành trên toàn thế giới và vì vậy sự mâu thuẫn giữa quốc gia để tác quyền có thể gây ra các căng thẳng về quốc tế kinh tế.

Trong hiệp định về tác quyền có 5 khoản chính yếu sau đây:

- Các nguyên tắc cơ bản (basic principles) của hệ thống mậu dịch ứng dụng cho các sản phẩm tri thức trong quốc tế mậu dịch.

- Sự bảo vệ các tác quyền tri thức một cách nghiêm chỉnh và đầy đủ (adequate protection).

- Các quốc gia phải thi hành bảo vệ tác quyền trong nội địa của mình.

- Giải quyết thỏa đáng các tri thức tác quyền giữa các thành viên của WTO.

- Biện pháp đặc biệt tạm thời ứng dụng cho tới khi hệ thống được thi hành.

1) Các nguyên tắc căn bản:

Hiệp ước GATT và GATS là điểm khởi hành của nguyên tắc cơ bản về quyền tri thức. Hiệp ước TRIPS mục đích để bảo vệ tri thức tác quyền nhất là các quyền về kỹ thuật và sự chuyển giao kỹ thuật (Transfer of Technology) .

2) Bảo vệ tri thức tác quyền - Luật lệ chung (Common ground- rules):

Trước khi WTO ra đời :

Hội Nghị Paris (Paris Convention) đã được ký hiệp định bảo vệ các quyền lợi kỹ thuật (industrial property) gồm có bằng sáng chế (Patents), chế tạo (Industrial Designs), v.v...

Hội nghị Berne Convention được ký kết phần bảo vệ về văn chương và nghệ thuật (Protection of Literary and Artistic Works) - Quyền Sao chép (Copyright). Sau hiệp ước TRIPS có thêm bổ túc.

3) Quyền sao chép (Copyright):

Thỏa thuận TRIPS bảo đảm rằng các chương trình điện toán (Computer Programs) sẽ được bảo vệ như là sản phẩm văn chương (Literary Works).

Quyền sao chép phải được bảo đảm sao cho tác giả của các chương trình điện toán này không bị ăn cắp và cho thuê.

Quyền bảo vệ sẽ ứng dụng cho tất cả những sản phẩm như âm nhạc, Video,v..v.. .Sự thỏa thuận này bảo vệ tác quyền cho tác giả ít nhất là 50 năm.

4) Thương hiệu (Trademarks) :

Thương hiệu xác định các biểu hiệu và thương hiệu phải được bảo vệ.

5) Địa lý (Geographical indications) :

Địa lý trên thương hiệu cho biết rõ sản phẩm chế tại đâu thí dụ rượu Champagne, Scotch, Tequila và Roquefort. Vì vậy, thỏa hiệp TRIPS buộc các quốc gia không được dùng tên giả.

6) Sáng chế kỹ nghệ (Industrial designs):

Theo thỏa hiệp TRIPS thì các sáng chế kỹ nghệ phải được bảo đảm 10 năm.

7) Bằng Sáng Chế (Patents):

Bằng sáng chế phải được bảo đảm ít nhất là 20 năm.

8) Các mạch điện (Integrated Circuits Layout Designs):

Hiệp ước TRIPS quyết định bảo vệ tác quyền của các mạch điện ít nhất là 10 năm.

9) Thi hành (Enforcement) :

Tất cả các luật lệ về sản phẩm tri thức phải được thi hành.

10) Chuyển giao kỹ thuật (Technology Transfer):

Các nước đang mở mang có thể nhận được sự chuyển giao kỹ thuật của các nước khác. Trong việc chuyển giao này các nước chuyển giao kỹ thuật, chính phủ của nước chuyển giao (thí dụ Mỹ) phải bồi thường các công ty chuyển giao (thỉ dụ Boeing, phi cơ F-18) cho các nước kém mở mang (thí dụ Ấn Độ).

h) Chống Phá Giá, Trợ Cấp, Chốt An Toàn (Anti-Dumping, Subsidies, Safeguards) - Trường hợp Bất Ngờ (Contingencies) .v.v...

Có 3 vấn đề:

- Hành động chống phá giá (tức là bán hàng hóa dưới giá trên thị trường nội địa).

- Trợ cấp bằng cách đánh thuế để chống phá giá.

- Biện pháp khẩn cấp (Emergency) để tạm thời giới hạn nhập cảng để bảo vệ công nghệ nội địa. (Thí dụ Mỹ quốc đã giới hạn hàng hóa vải vóc quần áo tơ lụa vào Trung Quốc và Việt Nam để tạm thời cứu kỹ nghệ may mặc tại Mỹ, hoặc Tổng Thống Bush của Mỹ quốc đã giới hạn tạm thời đánh thuế cao sắt nhập cảng để bảo vệ kỹ nghệ sắt của Mỹ).

Chống phá giá (Anti-dumping actions):

Nếu một công ty xuất cảng hàng hóa với giá thấp hơn giá bán tại quốc nội của công ty đó thì đây là hành động phá giá. Thí dụ một yard (khoảng 0.93 m) tơ Thượng Hải bán sang Mỹ 5 đô-la trong khi ở Thượng Hải bán 6 đô–la thì đó rõ ràng là trường hợp phá giá, và gây ra hành động cạnh tranh bất chánh (unfair competition) .

Tuy rằng ý kiến thì khác nhau (Opinion differs) nhưng nhiều chánh phủ phải có hành động chống phá giá để bảo vệ hàng hóa nội địa. WTO không thông qua quyết định. Nó chỉ hội tụ (focus) về điều gì chính phủ có thể làm được hoặc không thể làm được để chống phá giá. Và điều này được gọi là thỏa thuận chống phá giá. (Anti-Dumping Agreement).

Định nghĩa theo mặt tư pháp (the legal definitions) thì chính xác hơn nhưng nói một cách rộng (broadly speaking) thỏa thuận WTO cho phép các chính phủ hành động chống phá giá khi nào sự phá giá này gây tổn thương (injury) cho sự cạnh tranh của các công ty nội địa. Muốn vậy các chính phủ phải tính toán sự phá giá (thấp hơn bao nhiêu đối với hàng dùng trong nước thí dụ 1 yard (0.93 m) ở bên Tàu giả tỉ bán 6 đô-la mà xuất cảng lại bán 5 đô-la cho Mỹ thì đó là hành động phá giá. Một thí dụ khác 1 kg cá trê (cá ba-sa) ở thị trường nội địa Việt Nam bán 2 đô-la mà khi bán sang Mỹ bán 1,80 đô-la thì đó là cũng là hành động phá giá.

Thỏa ước GATT điều khoản thứ 6 (Article 6) cho phép các nước dùng các biện pháp chống phá giá. Các chính phủ có quyền đánh thuế nhập cảng vào các hàng hóa để thăng bằng với các hàng hóa trong nước (Thí dụ tôm Việt Nam nhập cảng vào Mỹ bị đóng thuế 40%).

Có 3 phương pháp để tính giá bình thường (normal value):

a- Phương pháp thứ nhất căn cứ vào giá ở thị trường nội địa (Thí dụ cá ba-sa ở Việt Nam tại thị trường Sài Gòn là 2 đô-la/một ký).

b- Trong trường hợp mà không dùng phương pháp này thì có hai phương pháp khác, đó là giá bán cho nước khác (Thí dụ giá bán cho Pháp 2.1 đô-la/ký trong khi bán cho Mỹ 1,8 đô-la/ký).

c- Phương pháp thứ ba là cách tính giá thành sản xuất. Thí dụ sản xuất một ký cá ba-sa 1,7 đô-la/ký thì tối thiểu phải lời 30 xu/ký mới bán được mà bán 1,8 đô-la/ký cũng là hành động phá giá.

Nhưng thực ra các hành động chống phá giá thường chỉ ứng dụng trong trường hợp có phương hại đến nền kinh tế của nước nhập cảng. Thí dụ như kỹ nghệ tôm của nước Mỹ, các người đánh cá của Mỹ phải mất 2 đô-la/ký vốn (tiền công nhân, nhiên liệu, máy móc nếu nhập cảng từ Việt Nam 2.5 đô-la/một ký tôm thì công bình nhưng nếu nhập cảng 1,8 đô la/ký thì kỹ nghệ tôm của Mỹ phải chết vì khỏi phải đi đánh cá, mua rẻ hơn và vì vậy Mỹ quốc buộc lòng phải đánh thuế vào các sản phẩm phá giá. Tuy nhiên, hành động chống phá giá không được xử dụng quá 5 năm trừ trường hợp đến cuối hạn xét rằng việc chống phá giá còn gây thiệt hại cho nền công nghiệp nội địa.

Ngoài ra, hành động chống phá giá phải ngưng ngay lập tức nếu sự phá giá này rất nhỏ (nghĩa là 2% của giá xuất cảng). Thí dụ giá cá ba-sa tại thị trường nội địa bán 2 đô-la/1 kg và xuất cảng 1,96 đô-la/1 kg thì OK.

Thỏa thuận nói rằng mỗi khi chế tài một nước nào, các thành viên phải báo cho ủy ban chống phá giá của Tổ chức Mậu dịch Quốc tế, WTO. Tuy nhiên trường này chỉ xảy ra đối với các thành viên của quốc gia trong WTO, còn các nước nào chưa nhập WTO như Việt Nam chẳng hạn thì không phải báo cho WTO.

Trợ cấp - Thỏa thuận WTO:

Thỏa thuận này gồm 2 phần: Kỷ luật (Discipline) sự dùng trợ cấp (the use of subsidies). Thí dụ Việt Nam khi xuất cảng quần áo sang Mỹ chính phủ VN cho 10% tiền xuất cảng để làm cho giá quần áo của Việt Nam rẻ thì đó là hành động trợ cấp. Chính phủ nước trợ cấp cần đô-la nên mong hàng hóa của mình bán được nhiều tại Mỹ quốc, thì đó là hành động phải bị kỷ luật và cho phép các hành động của các nước nhập cảng để phản lại hành động trợ cấp.

Thí dụ chính phủ Việt Nam trợ giúp 10% cho hàng xuất cảng, quần áo giầy dép sang Mỹ thì chính phủ Mỹ có quyền đánh thuế nhập cảng 40 đến 50 % để trung hòa việc trợ cấp của chính phủ Việt Nam. Xem như vậy chính phủ Việt Nam cũng như bất cứ chính phủ nào khác khi muốn trợ cấp cho hàng xuất cảng phải tuân theo các điều luật của WTO để bảo đảm cho hàng hóa của mình không bị thuế nhập cảng nặng nề của nước nhập cảng.

WTO đã quyết định như sau đây:

Trợ cấp bị cấm (Prohibited subsidies):

Trợ cấp bắt xuất cảng ra phải đạt được tiêu định trước (thí dụ Việt Nam muốn các nhà xuất cảng quần áo năm nay phải đạt mục tiêu xuất cảng 3 tỉ đô-la (export targets), hoặc là xử dụng hàng nội địa chứ không phải hàng nhập cảng (thí dụ Việt Nam bán xe đạp thể thao sang Mỹ và Âu Châu đáng lẽ phải dùng 40% các nguyên liệu sản xuất tại Việt Nam nhưng chính phủ Việt Nam lại bắt phải 60% nguyên liệu từ Việt Nam để cho rẻ tiền thì không đủ tiêu chuẩn an toàn quốc tế) đó là các trợ cấp bị cấm.

Trợ cấp khả thi (Actionable subsidies):

Trong trường hợp mà nước nhập cảng thấy rằng sự trợ cấp của nước xuất cảng chống lại quyền lợi của mình. WTO thỏa thuận rằng có 3 trường hợp gây thiệt hại:

Nước xuất cảng gây thiệt hại cho kỹ nghệ nước nhập cảng. Thí dụ hàng sắt của Nhật rẻ gây thiệt hại cho kỹ nghệ sắt của Mỹ.

Hàng hóa sắt của Nhật (thí dụ Nhật trợ cấp) làm phương hại hàng hóa của Âu Châu và Mỹ.

Sự trợ cấp nội địa của một nước có thể gây thiệt hại cho các nhà xuất cảng trong nước đó. Tuy nhiên, những nước nào mà tiền thu nhập hàng năm của người dân dưới 1000 đô-la (Việt Nam trung bình khoảng 500 đô-la/năm) thì được miễn các vi phạm.

Chốt an toàn: trường hợp khẩn cấp bảo vệ các hàng hóa nội địa chống hàng nhập cảng: (Safeguards: emergency protection from imports).

Các thành viên WTO có quyền giới hạn nhập cảng tạm thời nếu kỹ nghệ nội địa bị thương tổn (thí dụ Mỹ quốc đã từng giới hạn kỹ nghệ nhập cảng sắt để bảo vệ kỹ nghệ sắt).

Các công ty có thể yêu cầu các chính phủ phải có hành động bảo vệ an toàn.

Điều quan trọng là phải bảo vệ sự trong sáng và tuân theo các luật lệ thi hành. Các nhà chức trách khi điều tra phải trình trước công chúng những sự kiện rõ ràng khách quan. Thỏa thuận đặt tiêu chuẩn (criteria) thế nào là sự thiệt hại nặng nề serious injury) và các dữ kiện ảnh hưởng do sự nhập cảng đến nền kinh tế nội địa (thí dụ nhập cảng không hạn chế sắt làm cho 200 ngàn công nhân kỹ nghệ sắt mất việc hoặc nhập cảng quá nhiều quần áo từ các Á châu làm cho 50 ngàn công nhân may mặc Mỹ mất việc).

Khi ứng dụng các biện pháp an toàn thì chỉ ứng dụng để giúp cho nền kỹ nghệ quốc gia điều chỉnh lại để có khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, lượng nhập cảng không được ít hơn giới hạn: số lượng nhập cảng trung bình trong 3 năm liên tiếp gần nhất. (Thí dụ 3 năm qua trung bình mỗi năm nhập cảng quần áo từ VN vào Mỹ là 2 tỉ đô-la thì dù có phạt cũng phải cho phép nhập cảng ít nhất là 2 tỉ đô-la/năm).

i) Hàng Rào Không Dùng Quan Thuế (Non-Tariff Barriers):

Một số thỏa thuận đương đầu với các hình thức giấy tờ hoặc tư pháp (bureaucratic or legal issues) có thể làm trở ngại mậu dịch quốc tế, đó là các vấn đề sau đây:

- Giấy phép nhập cảng (Import licensing).

- Quy tắc định giá của hàng hóa tại quan thuế (Rules for the evaluation of goods at customs).

- Kiểm tra tiền xuất cảng (Pre-shipment inspections) .

- Luật xuất xứ (Rules of origin: made in...where ?).

- Chế độ đầu tư (Investment measures).

Giấy Phép Nhập Cảng

Chế độ giấy phép phải được tuân theo nghị quyết WTO. Thỏa thuận của WTO định rằng giấp phép nhập cảng phải đơn giản (simple), trong sáng (transparent) và đoán trước được (predictable) . Thí dụ trong thỏa thuận nhập cảng yêu cầu các chính phủ phải phổ biến đầy đủ tin tức cho các thương gia (sufficient information for traders) cho biết rõ tại sao giấp phép nhập cảng được cho phép. Và các quốc gia nào mỗi khi muốn ban hành thủ tục giấp phép nhập cảng (import licensing procedures) hay thay đổi thủ tục hiện hành đều phải báo cho tổ chức WTO.

Ngoài ra trong thỏa thuận cũng hướng dẫn cách xin phép giấp nhập cảng của các chính phủ. Một vài giấp phép có thể được phát ra tự động (some licenses are issued automatically) nếu một vài điều kiện được thỏa mãn. Trong thỏa thuận đã đặt ra tiêu chuẩn cho ban hành giấp nhập cảng tự động sao cho thủ tục này không giới hạn mậu dịch (restrict trade).

Một vài giấp phép không thể phát tự động được. Trong trường hợp này thỏa thuận quyết định rằng giấp phép không được cấp trễ hơn 30 ngày.

Luật Định Giá Hàng Hóa Tại Trạm Quan Thuế:

Đối với các nhà nhập cảng, sự định giá (estimating the value) của sản phẩm tại quan thuế đôi khi gây ra vấn đề liên quan đến thuế nhập (xuất) cảng. Thỏa thuận WTO quyết định rằng sự định giá tại quan thuế phải công bình (fair), đồng đều (thống nhất - uniform) và trung lập (neutral) đối với hàng hóa dùng - hệ thống phải phù hợp với thực tế thương mại (commercial realities) và mọi sự đánh giá một cách bất thường quá đáng thì không được dùng (outlaws the use of arbitrary of fictitious customs values). Thỏa thuận cung cấp một tập hợp của quy luật định giá (valuation rules), rõ hơn và chính xác hơn các điều thỏa thuận trong thỏa thuận GATT.

Kiểm Tra Tiền Xuất Cảng (Xuất Khẩu):

Kiểm tra tiền xuất khẩu là hành động của các công ty để kiểm tra chi tiết gồm có giá hàng hóa, số lượng hàng hóa và phẩm chất hàng hóa (price, quantity and quality). Thí dụ có 3 tiểu bang của Mỹ không chấp nhận cá ba-sa của Việt Nam nhập cảng vào Mỹ vì lý do cá ba-sa có sẵn lượng kháng sinh (fluoroquinolones) làm cho người ăn khi dùng tới kháng sinh trị bệnh thì thuốc bị lờn. Ngoài ra cá còn hàm chứa một chất độc gây ung thư (green malachite). Đây là phẩm chất vi phạm. Như vậy, muốn cho cá ba-sa Việt Nam muốn nhập cảng vào Mỹ khỏi bị cấm thì chất kháng sinh cũng như chất gây ung thư không nên dùng.

Thỏa thuận WTO quyết định rằng khi các chính phủ kiểm tra tiền xuất cảng (khẩu) phải trong sáng, không kỳ thị, bảo vệ các thương vụ, tránh chậm trễ và tránh sự mâu thuẫn quyền lợi giữa quan thuế và nhà xuất cảng. Trong trường hợp có tranh chấp thì phải dùng các phương pháp độc lập để tái cứu xét. Điều này thì được quản lý bởi cơ quan quốc tế kiểm tra (International Federation of Inspection Agencies - IFIA) và phòng thương mại quốc tế (International Chamber of Commerce – ICC). Và quyết định của hội đồng giám định này giải quyết sự tranh chấp giữa chủ xuất cảng và nhân viên kiểm tra.

Luật Xuất Xứ:

Luật xuất xứ là quy luật định nghĩa hàng này làm từ đâu (nước nào). Điều này là cơ bản của quy luật mậu dịch vì một số chính sách phân biệt (policies dicriminate) giữa các nước xuất khẩu (exporting countries).

Quotas (là số lượng hàng hóa được phép nhập của một nước thí dụ quotas nhập cảng quần áo Việt Nam vào Mỹ có Quotas là 2 tỷ đô la/năm).

Thuế quan ưu đãi (preferential tariffs), hành động chống phá giá (anti-dumping actions), thuế chống phá giá (countervailling duty) thuế này đánh vào hàng nhập cảng có trợ cấp (charged to counter export subsidies).

Quy luật xuất xứ quyết định rằng các thành viên WTO phải áp dụng luật xuất xứ một cách trong sáng và không được nhiễu xạ (distortion) sự thương mại quốc tế và phải được quản lý một cách đều đặn (uniform) kiên trì (consistent) , toàn thể (impartial) một cách hợp lý (reasonable manner).

Chế Độ Đầu Tư:

Giảm sự ma sát thương mại (reducing trade distortions) . Theo thỏa thuận của WTO về quy luật đầu tư thì các nước phát triển phải thi hành vào cuối năm 1996 và các nước đang mở mang thì thi hành năm 1999, cón các nước kém mở mang thi hành năm 2001.

Thỏa ước quyết định rằng ủy ban TRIMs (Trade-Related Investment Mesures) theo dõi sự thi hành của quyết định.

j) Đa Diện (Plurilaterals) :

4 vấn đề chính:

- Mậu dịch về hàng không dân sự (Trade in civil aircraft).

- Chính phủ thu mua (Government procurement).

- Sữa và sản phẩm (Dairy products).

- Thịt bò (Bovine meat).

Mậu dịch công bằng các máy bay dân sự (Fair trade in civil aircraft) :

Thỏa thuận này quyết định tiêu hủy thuế nhập cảng vào tất cả các phi cơ dân dụng và các động cơ phi cơ, các đồ phụ tùng phi cơ và các máy thử bay (flight simulator). Thỏa hiệp này cũng quyết định trừng phạt các chính phủ trong các hành động thu mua các phi cơ dân dụng hay khuyến cáo thu mua các phi cơ dân dụng.

Vấn đề thu mua (Government procurement): Chính phủ mở cửa cho cạnh tranh (Opening for competition) .

Thỏa thuận này buộc các chính phủ phải mở cửa các dịch vụ mua bán cho quốc tế cạnh tranh (International competition) . Phải lập ra luật lệ và các phương pháp thực hành trong việc thu mua phải công bằng không được phân biệt hàng nội hóa với hàng nhập cảng. Thỏa thuận này bao gồm cả các dịch vụ trong đó có dịch vụ xây cất (construction services), sự thu mua dưới cấp quốc gia (Procurement at the sub-central level), thí dụ của tỉnh, của các bộ và các đô thị.

Thỏa thuận này tăng cường bảo đảm công bằng và không kỳ thị của việc cạnh tranh quốc tế (guaranteeing fair and non-discriminatory conditions of international competition) . Thí dụ như các chính phủ phải phổ biến các phương pháp sao cho các thương gia đấu thầu (private bidders) có quyền thách thức các sự thu mua xem sự thu mua này có thi hành đúng thỏa thuận đúng WTO không ?

Thỏa thuận về sản phẩm sữa và thịt bò (Dairy and bovine meat):

Thỏa thuận bị loại bỏ năm 1997.

K) Tái Xét Chính Sách Mậu Dịch (Trade Policy Reviews): Bảo đảm trong sáng (Insuring transparency)

Mục tiêu (Objectives) :

Tăng cường trong sáng và hiểu biết các chính sách mậu dịch thi hành bằng cách thường xuyên theo dõi (through regular monitoring).

Tăng cường chất lượng của quần chúng và liên chính phủ (intergovermental) bàn cãi về các vấn đề.

Cho phép đánh giá đa diện vào các chính sách và hệ thống mậu dịch thế giới.

Sự xét lại (Reviews) tập trung vào các thành viên thực hiện chính sách mậu dịch và sự thi hành (trade policies and practices).

Sự xét lại của các nước (Peer reviews) thành viên trong WTO, khuyến cáo các chính phủ phải luôn luôn ứng dụng các luật lệ của WTO.

Thời gian cứu xét (the frequency of the reviews) phụ thuộc vào sự buôn bán nhiều nhất của các quốc gia.

Bốn khối thương mại lớn nhất (The four biggest traders) gồm Mỹ Nhật, Gia nã đại và Liên Hiệp Châu Âu (European Union) được tái cứu xét mỗi 2 năm.

Trường hợp 16 nước kế tiếp thì được cứu xét mỗi 4 năm.

Các nước còn lại thì được cứu xét mỗi 6 năm. Còn những nước kém mở mang thì lâu hơn nữa.

Mỗi khi cứu xét một quốc gia thì có 2 văn kiện: một là văn kiện bởi chính phủ đó, hai là văn kiện chi tiết viết bởi ban thư ký của WTO.

Hai văn kiện này sẽ được phổ biến sau khi cứu xét.

L) Giải Quyết Tranh Chấp: (Settling Disputes)

1- Sự đóng góp độc đáo của WTO (Unique contribution)

Giải quyết sự tranh chấp là trung tâm điểm của hệ thống đa phương mậu dịch (the central pillar of the multilateral trading system) của WTO và là một đóng góp cho sự thương mại toàn cầu bền vững (contribution to the stability of the global economy).

Nếu không có sự giải quyết các tranh chấp thì hệ thống luật lệ sẽ kém hữu hiệu vì luật pháp không được thi hành. Sự đóng góp này của WTO làm cho hệ thống mậu dịch được bảo đảm an toàn và tiên đoán trước được. Hệ thống này căn cứ vào các điều luật và thời gian thi hành. Đầu tiên sự giải quyết được thông qua ủy ban và được sự hậu thuẫn (endorsed) của toàn thể các nước hội viên WTO.

Sự phúc thẩm (Appeals) căn cứ vào luật pháp có thể được thi hành cho đến tháng 7 năm 2005 chỉ có 130 trường hợp trong toàn thể 332 trường hợp được ủy ban cứu xét. Những trường hợp khác thì còn chờ được giải quyết.

Nguyên tắc: cân đối, nhanh chóng, hữu hiệu, đồng thuận (Principles: equitable, fast, effective, mutually acceptable).

Sự tranh chấp trong WTO thường tập trung vào sự thất hứa (broken promises). Các thành viên của WTO đồng ý rằng nếu một thành viên nào vi phạm luật mậu dịch (violating trade rules), họ sẽ giải quyết các cuộc tranh chấp bằng cách dùng hệ thống đa diện (multilateral system) chứ không dùng hàng động đơn phương (action unilaterally) . Như vậy các bên phải tôn trọng sự quyết định của WTO.

Trong hệ thống mới, mọi sự giải quyết phải có thời gian. Thường thì thời gian giải quyết khoảng một năm, trường hợp tái xét thì khoảng 15 tháng. Trong trường hợp khẩn cấp thì giải quyết càng nhanh càng tốt. Trường hợp khẩn cấp thường ứng dụng tới thực phẩm. Theo thỏa thuận của WTO thì nước thua kiện phải tuân theo quyết định của WTO.

Cuộc tranh chấp được giải quyết như thế nào ? (How are disputes settled ?)

Giải quyết tranh chấp là nhiệm vụ của ủy ban giải quyết tranh chấp thuộc WTO (Dispute Settlement Body). Ủy ban này có uy quyền độc nhất (sole authority) quyết định thành viên, chuyên viên để cứu xét trường hợp. Sau đó ủy ban giải quyết tranh chấp sẽ quyết định thừa nhận hay không thừa nhận sự quyết định của các chuyên viên.

Ủy ban giải quyết tranh chấp có quyền trừng phạt (retaliation) khi quốc gia nào không tuân theo quyết định:

Giai đoạn 1- Tham khảo – (consultations) Lâu nhất là 60 ngày. Thời gian này để cho hai nước tranh chấp tự giải quyết lấy nhau. Nếu sự tự hòa giải thất bại thì sẽ nhờ WTO quyết định.

Giai đoạn 2 - Ủy ban (dài nhất là 45 ngày để bổ nhiệm các chuyên viên và 6 tháng cho các chuyên viên kết thúc - tức là giải quyết vụ tranh chấp). Các chuyên viên này có thể bớt tín nhiệm bởi một quốc gia tranh chấp một lần nhưng lần thứ hai thì không được bất tín nhiệm nữa.

Ủy ban thanh tra giải quyết tranh chấp sẽ gửi quyết định trong vòng 6 tháng. Trong trường hợp khấn cấp liên quan đến thực phẩm dễ bị hư thì thời gian ngắn lại còn 3 tháng.

Trước khi ra ủy ban, mỗi bên phải viết một báo cáo trình bày lập trường của mình .

Ủy ban chuyên viên nếu một bên đưa ra các trường hợp khoa học hoặc kỹ thuật thì ủy ban giải quyết tranh chấp phải bổ nhiệm các chuyên viên để báo cáo cố vấn cho ủy ban.

Sau khi nhận được báo cáo của 2 bên và báo cáo của ủy ban chuyên viên thì ủy ban giải quyết tranh chấp phải xét trong vòng 2 tuần.

Báo cáo chung cuộc (final report) sẽ được gửi hai bên trong vòng 3 tuần và được thông báo cho toàn hội viên của WTO.

Báo cáo trở thành quy luật (the report becomes a ruling). Thời hạn 60 ngày là các bên phải thi hành. Một trong hai bên có quyền chống án.

Chống án: Phúc thẩm (Appeals).

Một trong hai bên có quyền chống án. Mỗi phúc thẩm được 3 trong số 7 nhân viên của hội đồng thượng thẩm (Appellate Body) sẽ cứu xét lại, nhắc thêm là hội viên của hội đống phúc thẩm nhiệm kỳ là 4 năm. Các nhân viên này là các cá nhân tinh thông luật pháp của quốc tế mậu dịch và không thuộc bất cứ chính phủ nào. Hội đồng phúc thẩm có thể bác bỏ, thay đổi quyết định của ủy ban giải quyết tranh chấp. Thời gian làm việc là 60 ngày nhưng không thể quá 90 ngày.

Ủy ban giải quyết tranh chấp sẽ quyết định thử nhận hay bác bỏ quyết định của ủy ban phúc thẩm trong vòng 30 ngày và nếu bác bỏ thì phải đồng thuận (nhất trí).

Tóm tắt lại:

60 ngày: Tham khảo hòa giải .

45 ngày: Bổ nhiệm các thành viên cứu xét.

6 tháng: Báo cáo chung kết.

3 tuần: Báo cáo chung kết gửi cho toàn thể các hội viên WTO.

60 ngày: Ủy ban giải quyết tranh chấp chấp nhận báo cáo nếu không có chống án. Tổng cộng bằng 1 năm nếu không chống án.

60 đến 90 ngày: Phúc thẩm .

30 ngày: Ủy ban giải quyết tranh chấp chấp nhận báo cáo của ban phúc thẩm.

Tổng cộng 1 năm 3 tháng (với chống án) .

2 - Trường hợp tham khảo và thời gian thi hành – Case Study: The Timetable In Practice

Ngày 23 tháng 1 năm 1995 nước Venezuela khiếu nại với DSB (Dispute Settlement Body) Hội Đồng Giải Quyết Tranh Chấp rằng nước Mỹ ứng dụng các quy luật kỳ thị dầu xăng nhập cảng (the United States was applying rules that discriminated against gasoline imports).

Sau đó một năm, ngày 29 tháng 1 năm 1996, Ủy ban giải quyết tranh chấp hoàn tất báo cáo chung cuộc. Ngay sau đó, Bazil cũng đưa đơn kiện Mỹ tháng 4 năm 1996 cùng sự kiện này. Sau khi nhận được báo cáo của Ủy ban giải quyết tranh chấp, Mỹ quốc kháng án. Hội đồng phúc thẩm (Appellate Body) hoàn tất báo cáo và Ủy ban giải quyết tranh chấp chấp nhận ngày 20 tháng 5 năm 1996, tổng cộng là 1 năm 4 tháng kể từ lúc khiếu nại đầu tiên.

Sau 6 tháng rưởi, Mỹ và Venezuela đồng ý điều kiện mà Mỹ quốc phải thi hành. Thỏa thuận xảy ra trong 25 tháng kể từ lúc Mỹ quốc chống án (20/5/1996 – 20/8/1997).

Khiếu nại xảy ra vì Mỹ quốc ứng dụng điều kiện khắt khe hơn đối với hóa chất trong các dầu xăng nhập cảng và không ứng dụng với dầu xăng nội địa sản xuất từ Mỹ quốc. Venezuela và Brazil kiện rằng Mỹ quốc đã không công bình khi buộc dầu xăng Mỹ quốc phải tinh chế tốt hơn (ít ô nhiễm hơn dầu xăng nội địa). Như vậy Mỹ quốc đã vi phạm quy luật của WTO về tiêu chuẩn ô nhiễm môi trường. Mỹ quốc đồng ý cho dầu xăng nhập cảng và dầu xăng nội địa cùng tiêu chuẩn.

Trong những phần kế tiếp sẽ trình bày các vấn đề sau đây:

- Kinh tế vùng.

- Mậu dịch và môi trường.

- Mậu dịch và đầu tư.

- Chính sách cạnh tranh.

- Sự trong sáng và chính sách thu mua của chính phủ.

- Giản dị hóa mậu dịch.

- Thương mại điện tử (Electronic commerce).

- Mậu dịch và quyền công nhân (Trade and labour rights) .

M) Các Chi Tiết và Các Vấn Đề Mới: (Cross-Cutting and New Issues)

WTO không có giới hạn trong các thỏa thuận đặc biệt (specific agreements) với các bắt buộc đặc biệt (specific obligations) .

Các chính phủ thành viên cũng thảo luận một số các vấn đề khác trong các ủy ban công tác (Committee working group):

1- Địa phương: Bạn hay đối thủ (Regionalism: friends or rivals)

Thí dụ Liên hiệp Âu Châu (The European Union), Thỏa thuận Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (the North American Free Trade Agreement), Hiệp hội Đông Á Châu (The Association of Southeast Asian Nations), Hiệp hội Nam Á Châu Vùng Hỗ tương (the South Asian Association for Regional Cooperation) , Thị trường Chung Vùng Nam (the Common Market for the South), Hiệp ước kinh tế Úc và Tân Tây Lan (the Australia-New Zealand Closer Economic Relations Agreement).

Tháng 7 năm 2005 chỉ có nước Mông Cổ (Mongolia), thành viên WTO, không thuộc kinh tế vùng.

Tháng 7 năm 2005 có 330 thỏa thuận được báo cho WTO trong đó 206 thỏa thuận chỉ báo cho WTO sau tháng 1 năm 1995.

Một vấn đề nêu lên là các kinh tế vùng giúp hay chống lại các thỏa thuận đa dạng mậu dịch của WTO.

Nói chung, các thỏa thuận địa phương thường hậu thuẫn các thỏa thuận đa phương của WTO. Thí dụ nội trong tháng 11 năm 2005, kinh tế vùng Bắc Mỹ có 32 nước họp lại, trong số đó chỉ có 27 nước đồng ý và 5 nước chống đối do đó đa số đồng ý chờ đợi quyết định của WTO trong thời gian sắp tới để ứng dụng kinh tế vùng Bắc Mỹ. Nước chống mạnh nhất là Venezuela, các nước hậu thuẫn mạnh nhất là Mỹ, Gia Nã Đại, Panama và Mexico. Họ chống nêu lý do là chính phủ Mỹ trợ cấp cho các nông gia làm các nông phẩm của họ khó vào được Mỹ quốc.

Các nhóm rất quan trọng cho tổ chức WTO là các nhóm hủy bỏ hoặc giảm hàng rào quan thuế đối với các nước trong nhóm. Đặc biệt là các thỏa thuận sẽ giúp cho mậu dịch được tự do giao thương trong các nhóm không có hàng rào quan thuế. Các vùng địa phương sẽ bổ túc cho đa phương mậu dịch.

Điều thứ 24 nói rằng một khi tự do mậu dịch đã được thiết lập, các thuế quan và các hàng rào quan thuế khác sẽ phải giảm xuống hoặc loại bỏ đối với các thành viên của nhóm.

2- Môi trường:

WTO không có thỏa thuận đặc biệt nào đối với môi trường tuy nhiên tất cả các nước thành viên phải có nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Trong vòng đàm phán Uruguay, WTO đã tạo ra Ủy ban Mậu dịch và Môi trường (Trade and Environment Committee). Nhiệm vụ của ủy ban này bao trùm các vấn đề sản phẩm, dịch vụ và sản phẩm tri thức (goods, services and intellectual property). Nhiệm vụ của ủy ban là nghiên cứu mối liên quan giữa mậu dịch và môi trường và ra các khuyến cáo để bảo vệ các thỏa thuận mậu dịch. Các vấn đề môi trường chỉ được nêu ra khi nó có ảnh hưởng nặng đến vấn đề mậu dịch, nhưng WTO không phải là một ủy ban môi trường.

Thí dụ thỏa ước Kyoto tại Nhật Bổn định rằng các nước phải thi hành bảo vệ môi trường tốt hơn nhưng chỉ nhắm vào các nước kỹ nghệ như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật mà không nhắm vào Ấn Độ và Trung Hoa, và vì vậy Tổng Thống Bush không chịu ký vì nếu ký thỏa ước sẽ hại cho kỹ nghệ sản xuất của Mỹ chẳng hạn như phải cần một gallon (» 3,8 lít) xăng thì xe hơi chạy được 30 dặm (1 dặm » 1,6 cây số) trung bình để bảo vệ cho môi trường không bị quá ô nhiễm vì nếu làm như vậy, các hãng ô-tô của Mỹ sẽ bị thiệt hại, lợi chưa thấy mà cái hại trước mắt là làm cho công nhân bị thất nghiệp lên cao.

Ta nhắc lại môi trường càng ô nhiễm nếu càng có nhiều CO2 đốt xăng (CnH2n), hoặc than (C) đều cho ra CO2.

Như vậy đối với quyền lợi của nước Mỹ, Tổng Thống Bush đã thi hành đúng.

Các thỏa thuận của WTO về môi trường:

Hệ thống mậu dịch WTO và các biện pháp mậu dịch xanh (green trade measures) liên hệ với nhau như thế nào ?

Các hiệp ước quốc tế ngoài việc đương đầu với các vấn đề môi trường của WTO, gọi là hiệp ước môi trường đa diện (multilateral environmental agreements - MEAs) trong đó chỉ có 20 điều có thể ảnh hưởng đến mậu dịch. Thí dụ cấm buôn bán một số hàng hóa và cho phép một số quốc gia giới hạn buôn bán trong một vài trường hợp. Trong đó có khoản ước Montreal liên quan đến việc bảo vệ lớp Ozone (Montreal Protocol for the Protection of the Ozone Layer), thỏa thuận về việc di chuyển các chất độc hại qua biên giới quốc tế (thí dụ các chất thải Uranium dùng cho nhà máy nguyên tử).

Một tranh chấp về tôm và rùa (turtle) mà các nước kiện gồm có Ấn Độ, Mã Lai (Malaysia), Pakistan và Thái Lan cùng chống Mỹ. Ủy ban phúc thẩm ra tuyên cáo ngày mùng 6 tháng 11 năm 1998.

Có 7 loại rùa biển (sea turtles) được phân loại. Các người đánh cá thường bắt rùa để bán thịt rùa, trứng rùa, vỏ rùa. Năm 1997, 4 nước Ấn Độ, Mã Lai Á, Pakistan và Thái Lan kiện Mỹ Quốc cấm nhập cảng một số tôm và rùa biển vì sợ rùa biển tuyệt chủng. Luật pháp Mỹ quốc cấm săn bắt và định rằng các lưới cá phải chế tạo thế nào để rùa khi dính lưới phải ra khỏi lưới được. Như vậy Mỹ quốc cấm tôm nhập cảng vào Mỹ bởi các phương pháp không bảo vệ cho rùa.

Mỹ quốc bị thua vụ kiện này, không phải vì Mỹ quốc bảo vệ môi trường nhưng vì Mỹ quốc đã kỳ thị các thành viên của WTO và trợ giúp cho các nước thuộc vùng Caribbean (vùng Nam Mỹ) kỹ thuật đánh bắt tôm nhưng thả rùa.

Tranh chấp cá Tuna và cá Heo (The Tuna – Dolphine Dispute).

Ở tất cả những chợ Mỹ, người ta thường tìm thấy đầy rẫy các hộp cá Tuna. Cá Tuna là loại cá rất bình dân và phổ biến, ưa dùng bởi các dân lao động Hoa Kỳ vì cá được chế biến sẵn vừa rẻ, vừa rất dễ sử dụng, chỉ cần cho vào máy Microwave (máy vi ba) một phút là xong.

Cá Tuna có ở biển Thái Bình Dương thường bơi lội dưới cá heo vì vậy khi đánh cá, cá Heo cũng dính lưới chung với cá Tuna và cá Heo sẽ chết ngay nếu không thả kịp trả lại biển.

Chính sách bảo vệ loài có vú (The US Marine Mammal Protection Act) đặt cá Heo trong danh sách các thú hiếm cần được bảo vệ. Do đó, bất cứ quốc gia nào xuất cảng cá Tuna tới Hoa Kỳ mà nếu không chứng minh được là bảo vệ cá Heo theo đúng luật pháp Hoa Kỳ thì chính phủ Mỹ phải cấm nhập cảng. Trong cuộc tranh chấp này, Mễ Tây Cơ (Mexico) xuất cảng cá Tuna vào Mỹ bị cấm. Mexico kiện với GATT năm 1991.

Sự kiện này cũng liên quan đến nhiều nước xuất cảng cá Tuna như Anh, Pháp, Hòa Lan, Nhật Bổn, Ý, Costa Rica, Gia Nã Đại, Columbia, Tây Ban Nha và Đại Hàn. Tháng 2 năm 1991, Mễ Tây Cơ kiện và được Ủy ban hòa giải báo cáo cho GATT tháng 9 năm 1991. Bảng báo cáo kết luận rằng:

Chính phủ Mỹ không thể cấm cá Tuna từ Mễ Tây Cơ vì rằng Mễ Tây Cơ không thỏa mãn các quy luật của Mỹ.

GATT định rằng một nước không được dùng luật lệ riêng của mình lên án nước khác dù để bảo vệ một số thú hiếm.

Bảng báo cáo này không một ai chấp nhận.

Sinh thái học: Tốt nhưng không được kỳ thị (Eco-labelling: good, if it doesn’t discriminate).

WTO nói rằng sự bảo vệ sinh thái không được kỳ thị đối với các sản phẩm hoặc dịch vụ nhập khẩu.

Trong sáng: Thông tin nhưng không nhiều giấy tờ (Transparency: information without too much paperwork).

Đây là nguyên tắc quan trọng của WTO. Các thành viên của WTO phải cung cấp càng nhiều thông tin càng tốt vào chính sách môi trường (The environmental policies). Về các hành động có ảnh hưởng sâu rộng đến mậu dịch (significant impact on trade), các chánh phủ phải thông báo rõ ràng cho WTO. Tổng Giám Đốc WTO sẽ đặt trong một Database (ngân hàng tin tức) cho tất cả các thành viên đều có thể đọc được.

Cấm các sản phẩm hóa học nguy hiểm: (Domestically prohibited goods: dangerous chemicals, etc ).

Một số thỏa thuận quốc tế đồng ý kiểm soát những hoạt động vượt biên giới của các chất thải độc hại (the Basel Convention on the Control of Transboundary Movements of Hazardous Wastes and their Disposal).

Giải phóng mậu dịch: (Liberalization and sustainable development: good for each other) .

Sự tháo gở của việc giới hạn mậu dịch có lợi cho mỗi bên.

Tài sản tri thức, dịch vụ: (Intellectual property, services).

Thỏa thuận về mậu dịch sản phẩm thuộc trí óc và tác quyền. (Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights (TRIPS)).

Đầu tư, Cạnh tranh, Thu mua, Đơn giản hóa chính sách: (Investment, Competition, Procurement, Simpler procedures):

Năm 1996, các thành viên WTO trong cuộc hội nghị cấp Bộ trưởng ở Singapore (Singapore Ministerial Conference) thiết lập 3 nhóm công tác (working groups):

- Nhóm 1: Mậu dịch và đầu tư (Investment and competition: what role for the WTO?).

- Nhóm 2: Chính sách cạnh tranh .

- Nhóm 3: Chính sách thu mua trong sáng của chính phủ (Transparency in government procurement).

WTO quyết định rằng hội đồng mậu dịch sản phẩm (WTO Goods Council) phải tìm cách đơn giản các thủ tục mậu dịch (trade procedures) và thiết lập chính sách mậu dịch dễ dàng (trade facilitation) . Hội nghị Singapore đã phát động (the Singapore conference kicked off) bốn chủ đề được gọi là chủ đề Singapore (Singapore issues).

Đầu tư và cạnh tranh vai trò của mậu dịch quốc tế: (Investment and competititon: what role for the WTO ?).

Năm 1996, Hội nghị Bộ trưởng Singapore quyết định thiết lập 2 nhóm công tác để cứu xét sự liên quan đến đầu tư và chính sách cạnh tranh. Nhóm công tác phải cộng tác với Liên Hiệp Quốc về mậu dịch và phát triển, và các tổ chức quốc tế khác (UNCTAD - UN Conference on Trade and Development) .

Sự trong sáng trong chính sách thu mua của chính phủ : quy tắc đa phương (Transparency in government purchases: towards multilateral rules).

Năm 1996, Hội nghị Singapore đã tập trung vào việc trong sáng trong việc thu mua của chính phủ.

Chính sách mậu dịch dễ dàng: (Trade facilitation) .

Năm 1996, hội nghị Singapore quyết định rằng hội nghị mậu dịch sản phẩm phải giản dị hóa thủ tục mậu dịch (the simplication of trade procedures). Sự thương thuyết bắt đầu từ 1/8/2004.

Thương Mại Điện Tử (Electronic Commerce).

Việc thương mại các hàng hóa vượt qua các biên giới bằng điện tử (crossing borders electronically) đã thành phổ biến. Nói chung, tất cả các dịch vụ thương mại gồm quảng cáo, phân phối sản phẩm và bán sản phẩm đều có thể được dùng bằng hệ thống viễn thông. Thí dụ như Amazone có thể bán các sách vở âm nhạc Video qua Internet, hay ta có thể dùng Internet vào Website của Dell đặt mua một Laptop do Dell chế tạo. Các bạn trí thức sinh viên giáo sư và các nhà kinh doanh tại Hà Nội và Sài Gòn đều cũng có thể làm như vậy bằng cách vào Website của Dell và sử dụng số Visa (thẻ tín dụng) của mình để mua hàng.

Sự tuyên bố thương mãi điện tử toàn cầu đã được chấp nhận bởi hội nghị các bộ trưởng tại Singapore ngày 20 tháng 5 năm 1998. Hội đồng quản trị WTO đã công nhận ngày 25 tháng 9 năm 1998 về các hoạt động thương mãi điện tử và mậu dịch hàng hóa, dịch vụ và tài sản tri thức (intellectual property).

Tiêu chuẩn lao động (Labour Standards): Vấn đề nhiều tranh cãi (highly controversial).

Tiêu chuẩn công nhân có nhiều vấn đề mậu thuẫn.

Mậu dịch và quyền công nhân (Trade and Labour rights):

Chờ ILO quyết định. ILO tức là tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization - ILO).

Năm 1996, hội nghị bộ trưởng của WTO tại Singapore quyết định rằng tổ chức quốc tế lao động ILO sẽ giải quyết tiêu chuẩn lao động. Có 3 vấn đề chính yếu :

1) Vấn đề tư pháp (The Legal question): Vi phạm nghiêm trọng quyền lợi căn bản của công nhân (violating core labour rights). Thí dụ những nước sử dụng tù nhân để lao động chẳng hạn tù nhân trong các trại cải tạo, không trả lương hoặc trả lương rất ít. Thí dụ một trường hợp cụ thể giữa chủ nhân Đại Hàn với công nhân Việt Nam đã xảy ra trên một hòn đảo thuộc chủ quyền của Mỹ quốc mà ta biết chẳng những vị chủ Đại Hàn phải ra pháp luật mà công nhân Việt Nam còn được bảo trợ qua Mỹ để đền bù sự vi phạm quyền lợi công nhân. Tuy nhiên, nếu việc này xảy ra tại Trung Quốc hay Việt Nam thì chắc gì các công nhân Việt Nam được che chở và đền bù.

2) Phân tích vấn đề (Analytical question): Nếu một nước đã hạ tiêu chuẩn của công nhân lao động thì phải đối xử như thế nào đối với các hàng hóa xuất cảng của các nước đó. Như vậy những nước nào trả lương công nhân bóc lột quá đáng thì không được xuất cảng hàng hóa sang các nước khác.

3) Vấn đề quy chế (The institutional question): WTO có đúng là chỗ để tranh cãi lao động hay không ?

Trong 3 vấn đề đã nêu trên có một góc cạnh chính trị (political angle). Các quyết định mậu dịch có thể dùng để áp đặt tiêu chuẩn lao động (impose labour standards), hay là dùng như một cái cớ để bảo vệ hàng nội địa (Excuse for protectionism) .

Thỏa thuận WTO không có đương đầu với các tiêu chuẩn lao công (Do not deal with any core labour standards). Nhưng vài nước kỹ nghệ tin rằng vấn đề phải được WTO nghiên cứu như là bước thứ nhất để mang các tiêu chuẩn lao động vào tổ chức. WTO đặt ra các quy tắc và kỹ luật sẽ giúp ích cho các nước thành viên tăng cường tốt điều kiện lao động.

Nhiều nước đang phát triển và vài nước đã phát triển tin rằng các vấn đề trên không nằm trong quyền quyết định của WTO. Các nước này biện luận rằng mang tiêu chuẩn lao động vào trong đa phương mậu dịch chỉ làm tăng quyền lợi bảo vệ hàng hóa nội địa của một số quốc gia. Nhiều nước đang phát triển (thí dụ như Trung Hoa, Ấn Độ, Việt Nam) tin rằng chiến dịch đem vấn đề lao động (the campaign to bring labour issues) vào tổ chức mậu dịch quốc tế WTO của các nước kỹ nghệ là phá hoại (undermine) việc sản xuất hàng hóa với giá rẻ vì các công nhân của các nước này có thu nhập thấp so với các nước đã mở mang.

Năm 1996, hội nghị bộ trưởng tại Singapore tranh cãi về vấn đề này. Sau cùng các thành viên WTO công nhận các tiêu chuẩn lao động cơ bản, nhưng các tiêu chuẩn này cốt để giúp nâng cao đời sống công nhân chứ không được dùng nó như là một tiêu chuẩn bảo vệ hàng hóa xâm nhập vào nước mình. Sự kinh tế ưu việt của giá công nhân rẻ sẽ không bị đặt vấn đề (The economic advantage of low-wage countries should not be questioned).

Sắp tới sẽ trình bày các tiết mục sau đây:

- Vòng đàm phán Doha.

- Các nước đang phát triển .

- Chi tiết tổ chức WTO.

- 10 điều ích lợi của tổ chức hệ thống mậu dịch quốc tế.

Dẫn Nhập:

Địa Lý: Doha là thủ đô của xứ Ả Rập Qatar, xứ này ở vùng vịnh Ba Tư. Doha được chọn làm thủ đô của Qatar năm 1971. Trước đó, Qatar được Anh quốc bảo hộ.

4- Vòng Đàm Phán DOHA (Doha round):

Vòng đàm phán Doha của Hiệp Hội Mậu Dịch Quốc Tế có mục đích là giảm hàng rào quan thuế trên toàn cầu và tập trung làm sao cho mậu dịch được công bằng hơn cho các nước đang mở mang. Vòng đàm phán này xảy ra giữa các nước giàu đã phát triển và các nước đang phát triển tập trung trong nhóm G20. Nhóm này thiết lập ngày 20 tháng 8 năm 2003 gồm có các quốc gia Argentina, Bolinia, Brazil, Chili, Trung Quốc, Cuba, Ai-Cập, Guatemala, India, Indonesia, Mexico, Nigeria, Pakistan, Paraguay, Venezuela, Phi Luật Tân, Nam Phi, Tanzania, Thái Lan và Zimbawe. Nhóm G20 chiếm 65% dân số thế giới, 72% nông dân và 22% nông phẩm.

Vòng đàm phán Doha bắt đầu từ thủ đô Doha xứ Qatar rồi tiếp tục tại Cancun Mexico, Genève cũa Thụy Sĩ, Paris của Pháp và tương lai sắp tới tại Hồng Kông...

1) Vòng đàm phán Doha đầu tiên bắt đầu tháng 11 năm 2001, vòng này thương lượng mở cửa canh nông và sản phẩm chế tạo. Mục đích của vòng này là tạo ra các quy luật mậu dịch công bằng hơn cho các nước đang mở mang.

Tháng 12 năm 2001, Trung Hoa và Đài Loan được chấp nhận vào tổ chức mậu dịch quốc tế.

2) Vòng đàm phán Cancun mở ra năm 2003 có mục đích tạo ra các thỏa thuận cụ thể (concrete agreement). Vòng đàm phán này thất bại sau 4 ngày họp vì các thành viên không thể đồng ý với các trợ cấp cho nông gia. Vòng đàm phán tập trung tại 4 địa hạt: canh nông, các hàng hóa kỹ nghệ, mậu dịch về dịch vụ và sửa lại các luật quan thuế (custom codes).

Các nước không đồng ý về canh nông. Các nước giàu như nhóm Liên hiệp Âu châu và Mỹ quốc không đồng ý bãi bỏ trợ cấp nông nghiệp. Cách đây vài tuần trong cuộc hội nghị APEC (Asia Pacific Economic cooperation) với các nước Thái Bình Dương tại Đại Hàn, Tổng Thống George W. Bush (11-19-05) hứa rằng sẽ xét lại việc trợ cấp cho nông phẩm và mong rằng Liên hiệp Âu châu làm như vậy.

Trong hội nghị này các Quốc trưởng các nước đang mở mang trong đó có Chủ tịch Trần Đức Lương Việt Nam đã nhiệt liệt hoan nghênh Tổng Thống George Bush về vấn đề này. Tuy nhiên nếu điều này thực hiện được phải qua Hội nghị Hồng Kông vào năm 2005 trong khoảng 12-13-05 tới 12-18-05.

3) Vòng đàm phán Genève: Vòng đàm phán tại Genève tháng 8 năm 2004 đã thỏa thuận được việc toàn cầu hóa (global trade). Mỹ quốc, Liên hiệp Âu châu, Nhật Bản và Brazil đồng ý chấm dứt phụ cấp xuất cảng, giảm trợ cấp nông phẩm và giảm thuế khóa nhập cảng. Trong khi đó các nước đang mở mang đồng ý giảm thuế nhập cảng các hàng hóa chế tạo nhưng được phép bảo vệ một vài kỹ nghệ then chốt. Thỏa thuận cũng cung cấp đơn giản quan thuế và giảm thiểu trợ cấp nông nghiệp.

4) Vòng đàm phán Paris: Vòng đàm phán Paris cố gắng đạt được một vài tiến bộ trước Hội nghị WTO tháng 12 năm 2005 tại Hồng Kông. WTO cố gắng thực hiện các thỏa thuận trước năm 2007 khi Quốc hội Mỹ hết hạn. Thủ tục này của Quốc hội Mỹ gọi là đường nhanh (fast track) và nếu không xong trước năm 2007 thì Thượng viện Mỹ sẽ rất khó thông qua.

Vòng đàm phán Paris thì Mỹ quốc, Úc Châu, Liên hiệp Âu châu, Brazil, Ấn Độ không đồng ý được với các vấn đền liên quan đến gà, bò và gạo. Các vấn đề bị kẹt là các vấn đề kỹ thuật nhỏ làm cho các nhà ngoại giao nghĩ rằng nếu đối với vấn đề lớn thì khó khăn hơn nhiều. Vòng điều đình WTO tại Hồng Kông sẽ xảy ra trong khoảng từ 13-18 tháng 12 năm 2005.

Chú thích: Chi tiết các thỏa thuận sẽ được trình bày trong các kỳ sau.

5) Chi Tiết của các Thỏa Thuận Tại Doha:

Các thỏa thuận này được tuyên bố bởi Hội đồng Bộ trưởng (Ministerial declaration) các thành viên WTO tại Doha nước Qatar. Hội nghị này họp khoảng 5 ngày từ mùng 9 tới 14 tháng 11 năm 2001. Các thỏa thuận bao gồm các vấn đề canh nông và dịch vụ, thực ra đã được đề cập đến từ đầu năm 2000. Mục tiêu của các thỏa thuận có mục đích giảm thiểu hoặc bãi bỏ hàng rào quan thuế của các nước mở mang (Mỹ, Âu Châu, Nhật Bổn, Canada, Úc,.v...v..) và các nước đang mở mang như Trung Quốc, Ấn Độ trong nhóm G20. Thỏa thuận này có khoảng 52 khoản khác nhau.

Sau đây là một số những khoản chính yếu:

1- Sự đa phương mậu dịch trong mậu dịch quốc tế WTO đã mang lại sự tiến bộ về kinh tế và phát triển công ăn việc làm trong 15 năm qua. Chúng ta quyết định rằng để đối phó với sự trì trệ kinh tế toàn cầu (glocal economic slow down), ta phải tiếp tục cải tổ và giải phóng chính sách mậu dịch để bảo đảm cho kinh tế hồi phục và phát triển. Chúng ta quyết định không dùng giải pháp bảo vệ các hàng hóa nội địa.

2- Quốc tế mậu dịch (international trade) có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc khuyến khích sự phát triển kinh tế và giảm nghèo. Chúng ta thừa nhận rằng hệ thống mậu dịch quốc tế đã làm tăng cường cơ hội và sự thăng tiến của xã hội. Đa số thành viên của WTO là các nước đang phát triển.

3- Chúng ta thừa nhận rằng các nước kém mở mang vì gặp nhiều khó khăn trong việc toàn cầu hóa kinh tế. Chúng ta thừa nhận những điều khó khăn đó và cố gắng giúp các nước kém mở mang được tham gia vào đa phương mậu dịch. Chúng ta cố gắng giúp các nước kém mở mang tham gia vào kinh tế toàn cầu (global economy). WTO sẽ bảo đảm cho các nước nhược tiểu chương trình hành động.

4- Chúng ta quyết định tổ chức WTO là diễn đàn duy nhất (unique forum) cho kinh tế toàn cầu và giải phóng mậu dịch đồng thời chúng ta thừa nhận các thỏa thuận mậu dịch vùng (regional trade agreements) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích giải phóng và phát triển thương mại.

5- Chúng ta thừa nhận rằng trong việc thay đổi môi trường quốc tế các thành viên không thể chỉ đương đầu trong phạm vi mậu dịch mà phải hoạt động trong chính sách kinh tế toàn cầu.

6- Chúng ta quyết định bảo vệ hệ thống đa phương mậu dịch (multilateral trading system) và đề cao (promotion) sự phát triển. Chúng ta thừa nhận rằng theo quy luật WTO không một quốc gia nào bị cấm việc bảo vệ con người, động vật hoặc thực vật và môi trường. Chúng ta hoan nghênh việc WTO hợp tác với các chính phủ bảo vệ môi trường.

7- Chúng ta tái xác nhận của các thành viên dưới thỏa thuận của mậu dịch trong dịch vụ (General Agreement on Trade in Services - GATS).

8- Chúng ta tái xác nhận tuyên bố trong hội nghị Singapore công nhận tiêu chuẩn công nhân cơ bản.

9- Trong quyết định tại Hội nghị này cho phép Trung Quốc và Đài Loan tham gia WTO.

10- Vì sự phát triển của WTO chúng ta bảo đảm là phải có sự trong sáng và sự tham gia hữu hiệu. Chúng ta quyết định rằng mọi tổ chức của WTO sẽ được trong sáng hơn, hiệu quả hơn, thông tin đầy đủ hơn và góp phần tăng cường sự đối thoại với công chúng.

11- Để thực hiện các điều khoản trên chúng ta thiết lập một chương trình hành động (work programme) dưới đây:

Nguyễn Văn Thành