NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Về “ Bài toán 1000 trí thức Việt kiều ” - GS TS Nguyễn Văn Tuấn , Kiều bào Úc

1. Kinh nghiệm từ nước ngoài

Phát biểu trên báo chí gần đây, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cho biết “Trong 10 năm tới, cố gắng thu hút vài trăm, thậm chí 1.000 nhà khoa học Việt kiều về làm việc tại các cơ sở giáo dục Việt Nam.” Có thể nói đây là một chương trình qui mô và tham vọng lớn, và nếu thành công có thể làm thay đổi tình hình khoa học nước nhà theo chiều hướng tích cực hơn trong tương lai. Nhưng nếu tham vọng là một điều cần thiết, thì chúng ta cũng cần nên xét lại thực lực và cơ chế thực hiện để có thể biến ý nguyện thành thực tế.

Theo sau các phát biểu mang tính chính sách của lãnh đạo Nhà nước, đã có nhiều bàn luận về phương cách thu hút các giáo sư và nhà khoa học gốc Việt ( tôi sẽ gọi tắt là “Việt kiều” ) về làm việc ở quê nhà. Có thể nói đại đa số các nhà khoa học Việt kiều, dù có vài khác biệt về chính kiến với nhau, ai cũng đau đáu nhìn về quê nhà, và mong muốn “làm một cái gì đó” đưa góp phần đưa Việt Nam vào hàng ngũ các nước tiên tiến, hay ít ra là giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Thế nhưng, cho đến nay, mặc dù đã có vài hiệp hội doanh nhân và khoa học Việt kiều được thành lập, nhưng con số nhà khoa học Việt kiều thực sự về nước làm việc chỉ “đếm đầu ngón tay”.

Vấn đề đặt ra là tại sao ? Theo tôi ( và nhiều đồng nghiệp khác cũng có cùng ý kiến ), lí do chính là Nhà nước vẫn chỉ … nói, chứ chưa có một cơ chế hay chính sách gì cụ thể để các giáo sư và nhà khoa học Việt kiều dựa vào đó mà đi đến một quyết định quan trọng “về hay ở”. Hiện nay, phần lớn các giáo sư và nhà khoa học Việt kiều về nước tham gia làm việc ngắn hạn chỉ là hoàn toàn thiện nguyện và từ … tiền túi, chứ chẳng có ai tài trợ. Dù làm việc không lương như thế, nhưng họ đôi khi còn bị những thủ tục “hành là chính” từ các cơ quan như hàng không, hải quan, công an, và chính quyền địa phương. Đôi khi (chỉ “đôi khi” thôi) mang theo một máy tính sách tay, một vài đĩa CD chuyên môn, hay vài thiết bị y khoa cũng là đồng nghĩa với việc chuốc lấy phiền phức vào thân cho các nhà khoa học có lòng với đất nước!

Một vài “chuyển động” gần đây ( như việc “Bộ Ngoại giao và Ban Dân vận Trung ương xây dựng Đề án về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2007 – 2010 và những năm tiếp theo” ) là một tín hiệu tích cực. Nhưng với những bàn luận tương tự như thế trong thời gian qua, giới khoa học Việt kiều vẫn có lí do để chờ đợi xem một đề án như thế có thật sự thành hiện thực hay chỉ lại là … lời nói.

Thật ra, như tôi nói ở trên, người Việt ở nước ngoài không cần phải được “vận động” hay “tuyên truyền” hay “ưu đãi” để tham gia góp phần vào việc phát triển quê hương. Đã là người Việt, ai cũng muốn -- không ít thì nhiều -- đóng góp cho quê nhà. Không cần đến những động thái mang tính áp đặt tâm lí hay ban phát ơn nghĩa. Cái mà người Việt ở nước ngoài cần là điều kiện và môi trường làm việc, kể cả thủ tục hành chính gọn nhẹ và minh bạch. Không có gì nãn lòng hơn là dù được sự mời gọi của Nhà nước về đóng góp cho quê hương, nhưng mới vào cảng hàng không đã phải vướng víu những thủ tục rườm rà, những việc làm quan liêu, những thái độ vô cảm ... Nhưng rất tiếc đó lại là một kinh nghiệm thực tế mà tôi nghĩ không ít người Việt ở nước ngoài về quê đều có lần kinh qua.

Kinh nghiệm từ Trung Quốc và Hàn Quốc

Chúng ta có thể điểm qua kinh nghiệm từ các nước trong vùng xem họ đã thu hút các chuyên gia từ nước ngoài như thế nào, và hi vọng các kinh nghiệm đó sẽ cung cấp cho Việt Nam một vài bài học có ích.

Từ những năm đầu thập niên 1990s, Hàn Quốc đã có một chính sách cụ thể để thu hút các nhà khoa học gốc Hàn Quốc ở các nước Âu Mĩ về nước giảng dạy và nghiên cứu. Ngày nay, khi nói đến sự thành công ngoạn mục của Hàn Quốc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, các giám đốc hãng Samsung, LG và Đại học Quốc gia Seoul đều nhất trí cho rằng chìa khóa thành công của họ là nhờ vào đội ngũ các nhà khoa học Hàn kiều đã góp một phần quan trọng đưa nền công nghệ điện tử và sinh học lên hàng các nước kĩ nghệ tiên tiến.

Cho đến nay, chính sách tuyển mộ các nhà khoa học Hàn kiều của Hàn Quốc vẫn còn tiếp tục và với nhiều hình thức khuyến khích càng ngày càng hấp dẫn hơn. Cũng như nhiều Việt kiều khác, giới khoa học Hàn kiều cũng tỏ ra ngần ngại và thậm chí miễn cưỡng quay về Hàn Quốc làm việc, vì họ phải hi sinh nhiều lợi ích tài chính mà họ đang hưởng ở nước ngoài. Để thu hút những người này, các viện nghiên cứu thuộc Nhà nước và các công ti như Samsung và LG xây hẳn một khu chung cư sang trọng với các tiện nghi hiện đại (kể cả bác sĩ nói tiếng Anh) và trả lương cho các nhà khoa học Hàn kiều cao gấp 3 lần so với lương của người bản xứ. Chỉ trong vòng 2 năm, Viện công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) tuyển dụng 27 giáo sư và nhà khoa học Hàn kiều, và họ được hưởng mức lương lên đến 100.000 USD / năm. Năm 2002, Bộ giáo dục Hàn Quốc, qua chương trình fellowship, tuyển mộ được hơn 100 giáo sư và nhà khoa học Hàn kiều ( những người đã có trên 5 năm kinh nghiệm nghiên cứu hậu tiến sĩ ) về giảng dạy và nghiên cứu khoa học về công nghệ thông tin và công nghệ sinh học. Trong số này, có đến 65 người được Đại học Quốc gia Seoul đón nhận về công tác.

Ở Trung Quốc, cũng như Hàn Quốc, các nhà lãnh đạo xem đội ngũ khoa học Hoa kiều là một lực lượng quan trọng, một chìa khóa để nâng cao chất lượng giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học. Trong thời gian trên dưới 10 năm nay, Nhà nước Trung Quốc chi ra một ngân khoản lớn để thu hút các giáo sư và nhà khoa học Hoa kiều từ các nước Âu Mĩ về Trung Quốc làm việc. Họ có những đề cương với những qui định cụ thể về lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy và đi kèm theo các khoản lương bổng và ưu tiên quyền lợi cho các nhà khoa học ưu tú gốc Hoa.

Chẳng hạn như trong Đề cương 985 để nâng cao chất lượng giáo dục đại học cho một số trường đại học trọng điểm như Bắc Kinh, Thanh Hoa, Giao Thông, v.v… mà tho đó mỗi trường được tài trợ đến 1 tỉ Nhân dân tệ (tức khoảng 124 triệu USD) cho mục đích này. Để thực hiện việc này, các đại học thiết lập những chương trình nghiên cứu mũi nhọn và “chiêu dụ” các nhà khoa học Hoa kiều về làm việc. Đại học Bắc Kinh mỗi năm tiếp nhận khoảng 30 đến 40 các giáo sư từ nước ngoài, trong số này có một số về làm việc hẳn ở Trung Quốc và một số thì tiêu ra từ 3 đến 12 tháng. Những người về làm việc toàn thời gian được trả lương đến 40.000 USD / năm ( lương chính thức của một giáo sư ở Trung Quốc chỉ khoảng 7.200 USD / năm ). Nhà nước Trung Quốc thậm chí còn cấp hẳn một Giấy chứng nhận chuyên gia nước ngoài (Foreign Expert Certificate) cho các nhà khoa học này để được hưởng ưu tiên trong các dịch vụ của Nhà nước, kể cả đi lại, nhà ở, và trường học cho con cái.

Tính từ 1998 đến nay, Trung Quốc đã thu hút được 1108 nhà khoa học và 14 chuyên gia về nước công tác; trong số này, có những gương mặt nổi tiếng trên trường quốc tế. Chẳng hạn như năm 2004, Trung Quốc mời được Andrew Chi-chih Yao ( giáo sư khoa học máy tính thuộc Đại học Princeton ) về Trung Quốc thành lập một trung tâm nghiên cứu máy tính tại Đại học Thanh Hoa. Đại học Bắc Kinh mời được Tian Gang ( một nhà toán học hàng đầu của Mĩ tại Viện công nghệ Massachusetts – MIT ) về nước để thiết lập một trung tâm nghiên cứu toán học. Kể từ khi thu hút Hoa kiều về giảng dạy và nghiên cứu, nhiều đại học hàng đầu ở Trung Quốc càng ngày càng nâng thời lượng giảng dạy bằng tiếng Anh, và dựa vào hệ thống tín chỉ của Mĩ, đặc biệt là số lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế, để đề bạt các chức danh giáo sư (chứ không còn dựa vào thâm niên như trước đây). Một số trường thậm chí còn có qui định rằng nếu một giảng viên mà sau 6 năm vẫn chưa đạt tiêu chuẩn phó giáo sư thì sẽ được “mời” nghỉ việc.

Hồng Kông, trước khi được trả về cho Trung Quốc, có một lịch sử lâu dài về việc tuyển dụng các giáo sư và nhà khoa học nước ngoài. Thật ra, phần lớn ( trên 90% ) các giáo sư đại học Hồng Kông hoặc là người nước ngoài, hoặc là Hoa Kiều, hoặc là người Hồng Kông được đào tạo từ các đại học Âu Mĩ. Trước đây, các trường đại học Hồng Kông có chính sách khá rộng rãi và thông thoáng cho các giáo sư nước ngoài ( như trả lương tương đương với nước ngoài, tạo điều kiện cư trú ổn định như cấp nhà hay cho thuê nhà với giá thấp, cấp vé máy bay đi và về thăm nhà mỗi năm 2 lần, v.v…). Sau khi Hồng Kông được trả về cho Trung Quốc, do chính sách mới, một số lớn các giáo sư này bỏ Hồng Kông và các trường đại học Hồng Kông trải qua một thời gian suy giảm năng suất khoa học thấy rõ. Nhận thức được vấn đề, chính phủ mới lại mời các giáo sư quay lại làm việc! Năm 2006, chính phủ Hồng Kông vừa triển khai một chương trình thu hút nhân tài Hoa kiều từ nước ngoài. Họ dự tính sẽ thu hút khoảng 1000 đến 2000 nhà khoa học và giáo sư trong vòng hai năm. Họ còn dành ưu tiên đặc biệt cho các nhà khoa học được bổ nhiệm là quyền được đem theo người thân gia đình định cư tại Hồng Kông.

Ở Đài Loan, Nhà nước nhận thức rõ yếu tố thành công của kĩ nghệ điện tử Đài Loan trong hai thập niên qua là nhờ vào lực lượng Hoa kiều ở Mĩ, nên họ có hẳn một chương trình dài hạn và dành hẳn một ngân quĩ quốc gia cho các giáo sư thỉnh giảng và nhà khoa học ưu tú từ nước ngoài vào làm việc tại các trung tâm nghiên cứu và đại học hàng đầu ở Đài Loan.

Và bài học ngay tại nhà : Bệnh viện Kiên Giang

Kiên Giang là một tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm vào vị trí gần vùng tận cùng của đất nước, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 260 km. Dân số của tỉnh là 1,6 triệu, với 78% sống ở nông thôn, và gần 20% là người dân tộc gồm hai sắc tộc chính là người Khmer và Hoa. Vì những dao động lịch sử sau 1975, tỉnh Kiên Giang là một trong những tỉnh có nhiều Việt kiều đang sống ở các nước Âu Mĩ. Nhận thức được tiềm năng của Việt kiều, tỉnh Kiên Giang có hẳn một cơ quan chuyên về các dịch vụ liên lạc với Việt kiều. Vì thế, trong những năm gần đây Kiên Giang là một tỉnh đi tiên phong trong việc thu hút được khá nhiều đầu tư từ các doanh nghiệp Việt kiều, góp phần nâng cao khả năng kinh tế của tỉnh.

Tỉnh Kiên Giang có tốc độ phát triển kinh tế trên 10% mỗi năm, tuy không thuộc vào hàng các tỉnh nghèo, nhưng vì vị trí địa lí, tỉnh vẫn tồn tại nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, nhất là vấn đề giáo dục và y tế. Hiện nay, cả tỉnh chỉ có một bệnh viện lớn duy nhất (Bệnh viện Kiên Giang) tại Thành phố Rạch Giá và lúc nào cũng quá tải, còn các vùng nông thôn thì thiếu bác sĩ và y sĩ trầm trọng. Bệnh viện Kiên Giang là một bệnh viện đa khoa cấp I, có khoảng 1100 giường, phục vụ cho tỉnh Kiên Giang và có khi các địa phương lân cận, kể cả vài tỉnh thuộc nước bạn Kampuchea.

Là một bệnh viện cấp tỉnh, Bệnh viện Kiên Giang khó thu hút được các chuyên gia cao cấp về làm việc, và để khắc phục tình trạng này, ban giám đốc đã có những hành động thực tế mà tôi cho là rất tiên phong. Trong khi cấp trung ương còn đang bàn phương cách để thu hút nhân tài, thì Bệnh viện Kiên Giang chủ động mời các chuyên gia về cộng tác, với những ưu đãi đặc biệt. Chẳng hạn như ban giám đốc bệnh viện xây (hay mua) hẳn một khu nhà ở đầy đủ tiện nghi ở một địa điểm hấp dẫn dành cho các chuyên gia về bệnh viện làm việc trong một thời gian ngắn hạn. Thậm chí, bệnh viện còn dành hẳn một căn hộ nhỏ với đầy đủ tiện nghi cho một giáo sư công tác dài hạn ở bệnh viện. Với những động thái thiết thực đó, không ngạc nhiên khi bệnh viện thu hút được sự hỗ trợ chuyên môn từ các giáo sư và chuyên gia ở nước ngoài. Năm nay, bệnh viện thực hiện một số ca phẫu thuật ghép thận với sự hỗ trợ từ một chuyên gia Việt kiều và đồng nghiệp từ Bệnh viện Chợ Rẫy và ngoại quốc.

Song song với việc mời gọi chuyên gia về bệnh viện, ban giám đốc còn khuyến khích và tích cực gửi bác sĩ đi đào tạo chuyên khoa II ở các trung tâm y tế lớn trong nước. Ban giám đốc còn phê chuẩn cho bác sĩ đi học và chuyên tu ở nước ngoài. Người viết bài này còn được biết một vài câu chuyện nhỏ, nhưng nó chứng tỏ bệnh viện thật sự trọng dụng nhân tài. Chẳng hạn như ngày bác sĩ bệnh viện tốt nghiệp chuyên khoa II, đích thân giám đốc bệnh viện lên thành phố dự buổi lễ tốt nghiệp cùng bác sĩ của bệnh viện mình. Dù đó chỉ một hành động nhỏ mang tính biểu trưng (mà phần lớn các sếp lớn nước ngoài hay làm) nhưng có thể nói việc làm đó rất hiếm thấy ở các giám đốc trong nước.

Theo tôi biết, tất cả những việc làm của ban giám đốc Bệnh viện Kiên Giang chỉ dựa vào tình hình thực tế, vào sự năng động của lãnh đạo, chứ chẳng có “bài bản” hay “tuyên truyền” hay “vận động” nào. Có thể nói không ngoa rằng các bộ liên quan nên học kinh nghiệm của tỉnh Kiên Giang và nhất là Bệnh viện Kiên Giang trong nỗ lực thu hút các chuyên gia từ nước ngoài.

Nhân dịp này tôi muốn nhắn các đồng nghiệp y sinh học nước ngoài nếu có dịp về Việt Nam, nên ghé qua Bệnh viện Kiên Giang bên bờ biển đầy nắng và gió lộng, nơi có những khó khăn chồng chất, những thiếu thốn về cơ sở vật chất, những cảnh cực khổ của bệnh nhân vùng quê, những trăn trở của đồng nghiệp nhằm vượt qua khó khăn, cùng những năng nổ của vị giám đốc và đồng nghiệp của anh. Bất cứ đóng góp nào cũng được trân trọng.

Những chính sách và chương trình thực tế của Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và ngay tại Bệnh viện Kiên Giang là những kinh nghiệm quí báu mà tôi nghĩ Nhà nước cần nên nghiên cứu nghiêm chỉnh. Nói gì thì nói, hai yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định “về hay ở” vẫn là vật chất và tinh thần. “Vật chất” ở đây là lương bổng và môi trường làm việc, và “tinh thần” là lòng yêu quê hương, tinh thần dấn thân ... Một giáo sư không phải là doanh nhân. Doanh nhân về nước có thể tìm cơ hội kinh doanh và kiếm lời, nhưng một vị giáo sư đại học chỉ tùy thuộc vào lương bổng là nguồn thu nhập chính. Một quyết định về hay ở tùy thuộc vào sự quân hòa giữa hai yếu tố vật chất và tinh thần.

Thử tưởng tượng một trường hợp tiêu biểu: một giáo sư Việt kiều đã thành danh, đang lãnh đạo một nhóm nghiên cứu với ngân sách hàng triệu USD, mức lương 120.000 USD /năm, có cuộc sống gia đình ổn định ở Mĩ. Dù yêu quê hương cỡ nào đi nữa, vị giáo sư đó rất khó mà rời trường đại học để về Việt Nam làm việc trong một điều kiện còn nhiều khó khăn và khó đoán trước được với một mức lương 10.000 hay 20.000 USD/năm. Đó là chưa kể đến chuyện nơi ở có ổn định hay không (giá cả nhà đất ở TPHCM ngày nay thậm chí còn đắt hơn cả giá nhà ở nước ngoài). Thật ra, nếu lãnh đạo trường nghe tin vị giáo sư này sắp rời trường, họ sẽ tìm cách nâng lương hay nâng vị thế để giữ vị giáo sư này lại ở trường ( trong thực tế chuyện này rất phổ biến ở các đại học Tây phương vì họ không muốn mất những giáo sư có tài ). Có lẽ chính vì lí do này mà Hàn Quốc và Trung Quốc can đảm có hẳn một thang bậc lương riêng cho giới khoa học Hàn Kiều và Hoa Kiều và thậm chí ở trường hợp Hàn Quốc họ còn xây hẳn một khu cư trú cho giới khoa học kiều bào của họ.

Do đó, để thu hút được các chuyên gia nước ngoài, kể cả chuyên gia gốc Việt, vấn đề không chỉ là những lời kêu gọi chung chung cảm tính như yêu nước, thương quê, và cũng không phải là những con số mang tính chỉ tiêu duy ý chí, mà là một tầm nhìn xa và rộng hơn. Vấn đề không chỉ là lương bổng, mà là tạo ra một môi trường làm việc thông thoáng và minh bạch, và nhất là trao quyền tự chủ cho nhà khoa học.

2. Cần một chương trình cụ thể

Không cần phải dài dòng lí giải, ai cũng có thể nhất trí rằng nước ta không (hay ít ra là chưa) có khả năng cạnh tranh khoa học với các cường quốc khoa học Âu Mĩ và một cường quốc đang trên đường hình thành như Trung Quốc. Nhưng khía cạnh mà chúng ta có thể cạnh tranh được là chất lượng nghiên cứu khoa học và chuyển giao kết quả để phục vụ cho phát triển kinh tế. Để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, chúng ta cần có những giáo sư và chuyên gia có kinh nghiệm tốt và uy tín cao trên trường quốc tế. Một trong những nguồn nhân lực khoa học đó là các nhà khoa học nước ngoài, nhất là đội ngũ các giáo sư đại học và nhà khoa học gốc Việt hiện đang làm việc tại các nước tiên tiến.

Thế nào là những giáo sư hay nhà khoa học tầm cỡ quốc tế ? Rất khó có câu trả lời này bằng các tiêu chuẩn theo kiểu “cân đo đong đếm”, nhưng một vài tiêu chí chung cũng có thể cho chúng ta một vài ý niệm tổng quát: đó là những nhà khoa học được xếp vào hạng 10% hàng đầu quốc tế về một chuyên ngành. Nói cụ thể hơn, đó là những những nhà khoa học độc lập, có khả năng lãnh đạo một nhóm nghiên cứu, với các công trình nghiên cứu thuộc loại tiền phong (cutting edge research) có ảnh hưởng đến chuyên ngành, từng có thành tích thu hút tài trợ từ các quĩ khoa học quốc gia và quốc tế, từng đạt được những giải thưởng quốc tế, có đóng góp cho hoạt động chuyên môn (kể cả đóng vai trò bình duyệt cho các tập san khoa học quốc tế), có kinh nghiệm đào tạo nghiên cứu sinh cấp tiến sĩ và hậu tiến sĩ, đóng vai trò quan trọng trong các hiệp hội chuyên môn và có đóng góp cho cộng đồng.

Đáp số cho bài toán “1000 trí thức Việt kiều” ?

Có bao nhiêu giáo sư hay nhà khoa học gốc Việt như thế ở nước ngoài? Trước khi trả lời câu hỏi khó này, tôi muốn nói qua vài hàng về lực lượng chuyên gia Việt kiều ở nước ngoài. Theo ước tính của Nhà nước và báo chí, con số người Việt hiện đang sống và làm việc ở nước ngoài đã lên đến 3 triệu, và trong số này có khoảng nửa triệu người với trình độ đại học trở lên. Tuy cơ sở khoa học cho con số nửa triệu này chưa mấy rõ ràng, nhưng có thể khách quan nói rằng có nhiều chuyên gia Việt kiều có tài năng thật sự, là những nhà khoa học, giáo sư tầm cỡ quốc tế từng có đóng góp quan trọng cho nước sở tại. Hầu như trong bất cứ lĩnh vực công nghệ tiên tiến nào đều có tên tuổi của các nhà khoa học gốc Việt.

Nhưng cần phải ghi nhận một điều ở đây là báo chí, nhất là báo chí tiếng Việt hải ngoại, thường có xu hướng “tiếp thị” quá đáng cho khả năng của Việt kiều. Một vài quan chức trong nước khi mới ghé thăm các vùng có đông người Việt định cư như khu Little Saigon rất ấn tượng với sự có mặt nhan nhản các bác sĩ, luật sư, kĩ sư, chuyên gia, v.v… được trưng bày to tướng, và nghĩ rằng lực lượng trí thức Việt kiều quá hùng hậu. Đôi khi đọc qua những bài báo viết về những gương thành công vượt bực của một số ít chuyên gia gốc Việt, người ta tưởng rằng đội ngũ khoa học Việt kiều sẽ có thể giúp cho Việt Nam “cất cánh” trong vòng vài năm nếu họ có cơ hội. Tuy nhiên, cần phải phân biệt những người có trình độ đại học ( ở Mĩ cũng có dăm ba loại đại học! ) và những chuyên gia có chuyên môn chuyên sâu tầm cỡ quốc tế. Có thể cộng đồng người Việt có nhiều người có trình độ đại học ( hãy cứ cho là 500 ngàn ), nhưng con số chuyên gia không cao, và con số có trình độ cấp giáo sư càng hiếm hơn nữa. Sự thật là sự hiện diện của các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài trên các diễn đàn khoa học quốc tế vẫn còn quá khiêm tốn.

Cần phải nhắc lại rằng cộng đồng người Việt ở nước ngoài vẫn là một cộng đồng nghèo khó, ít học nhất, có thu nhập thuộc vào hàng thấp nhất, và có nơi có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất so với các cộng đồng người Hoa, Nhật, Philippines, và Hàn Quốc. Cố nhiên, bất cứ so sánh nào cũng khập khiễng, nhưng thực tế là con số chuyên gia gốc Việt không hùng hậu như báo chí hay “tiếp thị”.

Ở Mĩ, nơi có người Việt định cư đông đảo nhất ở nước ngoài, hiệp hội giáo sư gốc Việt chưa có đến 150 thành viên. Có lẽ con số giáo sư gốc Việt trên toàn nước Mĩ chưa đến con số 500. Ở các nước có khá đông người Việt định cư như Canada, Pháp và Úc, con số người Việt mang hàm giáo sư chỉ có thể nói là “đếm đầu ngón tay”. Đó là chưa kể một số khá nhiều các vị giáo sư đã hay đang sắp nghỉ hưu. Ngay cả nếu con số giáo sư và nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có trình độ tiến sĩ trở lên là 1000 đi nữa, thì không phải ai có học vị tiến sĩ đều có khả năng giảng dạy và nghiên cứu khoa học độc lập, và số người đứng vào hàng “tầm cỡ quốc tế” (như trình bày trên) chắc chắn không quá con số 100. Do đó, tôi có lí do để cho rằng “bài toán 1000 trí thức Việt kiều” sẽ không có đáp số, cho dù trong thời gian 10 năm.

Theo tôi ( chỉ nói với tư cách cá nhân ), không nên đặt ra những chỉ tiêu hay con số trong khi chưa có một cơ sở hay khảo sát đáng tin cậy. Vấn đề không phải là cần thu hút một con số ( chẳng hạn như 1000 trong vòng 10 năm ) giáo sư và nhà khoa học; vấn đề là làm sao tạo điều kiện và môi trường khoa bảng để mọi người – trong và ngoài nước – có thể góp một phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cũng như chất lượng nghiên cứu khoa học lên một tầm ngang hàng các nước trong vùng và làm cơ sở để cạnh tranh với các nước khác.

Cần một chương trình nghiên cứu

Hiện nay, có nhiều mô hình tổ chức, và kinh nghiệm từ các nước có nền khoa học tiên tiến như Mĩ, Âu châu, Úc và Canada có thể cung cấp cho chúng ta những mô hình có ích. Theo các mô hình này, một trung tâm nghiên cứu hay đại học bao gồm một số chương trình nghiên cứu ( research program ), và mỗi chương trình nghiên cứu gồm nhiều nhóm nghiên cứu nhỏ ( cũng có thể gọi là “đơn vị nghiên cứu” ), mỗi nhóm chỉ khoảng 10 nhà khoa học, kể cả nghiên cứu sinh, tập trung nghiên cứu chuyên sâu về một lĩnh vực chuyên môn. Chẳng hạn như Viện nghiên cứu y khoa Garvan tại Úc có khoảng 6 chương trình nghiên cứu, và mỗi chương trình có từ 3 đến 6 đơn vị nghiên cứu. Mỗi đơn vị nghiên cứu được sự lãnh đạo bởi một nhà khoa học thường là cấp giảng viên đại học trở lên. Tất cả các quản lí tài chính và nhân sự đều do người lãnh đạo đơn vị nghiên cứu phụ trách. Viện nghiên cứu chỉ phụ trách về cơ sở vật chất như phòng thí nghiệm, yểm trợ hành chính, máy tính, internet và phương tiện liên lạc.

Do đó, để tạo điều kiện cho các nhà khoa học Việt kiều về nước làm việc là thiết lập các chương trình nghiên cứu ( ở nước ngoài có khi người ta gọi là “fellowship program” ). Có thể gọi chương trình này là “Vietnam Fellowship Program” (VFP). Chương trình VFP này nên nhắm vào 5 mục tiêu chính là: (i) khuếch trương và nuôi dưỡng một đội ngũ khoa học gia ưu tú; (ii) đảm bảo các nhà khoa học này một sự nghiệp vững vàng ( tức họ không phải lo chuyện “cơm áo gạo tiền” ); (iii) xây dựng một môi trường tri thức và cơ sở vật chất để huấn luyện thế hệ khoa học gia trẻ; (iv) khuyến khích việc chuyển giao công nghệ và ứng dụng các thành tựu nghiên cứu vào thực hành, hoạt động sản xuất, và qua đó nâng cao tính cạnh tranh của quốc gia; và (v) khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà khoa học có những mối tương tác với các cơ quan chính phủ và công ti kĩ nghệ. Nói tóm lại, mục tiêu chính của CCNC là nhắm vào việc xây dựng một đội ngũ khoa học gia loại “hoa tiêu” để nâng cao tính cạnh tranh của nước ta trên trường khoa học quốc tế.

Có thể giao việc quản lí chương trình này cho một bộ như Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hay Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ cần lập ra một hội đồng cố vấn gồm các nhà khoa học trong và ngoài nước có uy tín và có công trình nghiên cứu tầm cỡ quốc tế cố vấn về các vấn đề chuyên môn. Hàng năm, hội đồng cố vấn ra thông cáo tuyển dụng các chuyên gia ( sẽ gọi chung là “fellow” theo cách gọi ở nước ngoài ). Thông báo không chỉ gửi đến tất cả các trường đại học và trung tâm nghiên cứu, mà còn công bố trên internet để các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có thể đệ đơn. Thông báo kèm theo tất cả các mẫu đơn, các tiêu chuẩn cụ thể cho từng hạng fellow, và qui trình cũng như thời gian xét duyệt. Tôi đề nghị nên có 3 hạng VFP: hạng một dành cho các giảng viên hay tương đương, cấp hai dành cho các nhà khoa học cấp giáo sư hay tương đương, và cấp ba dành cho các nhà khoa học cấp giáo sư hay tương đương ( có thể xem tiêu chuẩn như sau ).

Sau khi nhận đơn từ các ứng viên, hội đồng cố vấn sẽ gửi đơn cho 4 chuyên gia ( trong số này phải có 2 chuyên gia từ nước ngoài ) để bình duyệt. Khi nhận được báo cáo bình duyệt của 4 chuyên gia trong ngành, hội đồng sẽ dựa vào 4 báo cáo này để loại bỏ những ứng viên không đủ tiêu chuẩn, và chọn những ứng viên có triển vọng để phỏng vấn. Nếu ứng viên được bổ nhiệm VFP, tùy theo cấp bậc, ứng viên sẽ được cung cấp một ngân sách chủ yếu là lương bổng trong vòng 5 năm cho nghiên cứu. Ứng viên có thể chọn bất cứ đại học hay trung tâm nghiên cứu nào để nghiên cứu, hay sẽ do Bộ hay hội đồng cố vấn chỉ định. Cố nhiên, trong thời gian này, ứng viên có thể xin tài trợ nghiên cứu từ các nguồn nước ngoài, nhưng trong giai đoạn đầu Nhà nước cần phải tạo điều kiện tài chính cho họ ổn định.

Trở lại bài toán 1000 trí thức Việt kiều

Theo tôi, không nên đưa ra những con số mang tính chỉ tiêu hay những lời mời gọi chung chung khi chưa có một chương trình làm việc cụ thể hay một cơ chế khả thi. Thật ra, bài toán 1000 giáo sư Việt kiều sẽ không có đáp số, không phải giới khoa học người Việt ở nước ngoài không muốn hợp tác, mà vì trong thực tế lực lượng khoa học gia gốc Việt ở nước ngoài không hùng hậu đến như thế.

Ở một khía cạnh khác, theo tôi, không nhất thiết Việt kiều phải về Việt Nam, vì trong nhiều ngành nghề, Việt kiều vẫn có thể đóng góp cho quê hương dù ở ngoại quốc. Trong thời đại viễn thông và internet ngày nay, nơi chốn làm việc không còn là một vấn đề lớn nữa. Nhưng vấn đề là làm sao tập trung và nối kết được trí thức Việt kiều và các cơ quan nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân. Hiện nay, có thể nói, các sứ quán Việt Nam ở nước ngoài dù có cố gắng nhưng vẫn chưa phải là cầu nối thân mật giữa Việt kiều và Việt Nam. Trong thực tế, mối liên hệ giữa Việt kiều và các sứ quán vẫn còn một khoảng cách dè dặt đáng kể, cho nên việc huy động nguồn lực Việt kiều vẫn chưa được thực hiện có hệ thống.

Chúng ta không muốn mãi mãi là lao động hạng hai. Chúng ta không muốn thấy một viễn ảnh “ chỉ gia công, để Việt Nam mãi là kẻ làm thuê ”. Nhưng để thoát ra khỏi cái viễn ảnh đó, chúng ta cần phải đầu tư mạnh vào giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học và công nghệ. Nếu kinh nghiệm từ các nước như Hàn Quốc và Đài Loan là một bài học lịch sử, chúng ta có thể suy đoán rằng Việt Nam hoàn toàn có khả năng phát triển như họ, và thậm chí có thể phát triển nhanh hơn với sự hợp tác của giới khoa học Việt kiều. Ở thời điểm này, có thể nói nhà nước và Việt kiều đã gặp nhau tại một giao điểm: ước nguyện làm cho Việt Nam phát triển nhanh chóng và ổn định. Nhưng vấn đề còn lại là làm sao biến chính sách và ước nguyện thành hiện thực, tạo điều kiện cho Việt kiều tham gia vào công cuộc kĩ nghệ hóa đất nước. Chính sách và những lời nói hoa mĩ chưa đủ, mà cần phải có một cơ chế thông thoáng và cụ thể, một sự đổi mới về tư duy là nền tảng cho những bước đi cụ thể kế tiếp. Một khi đã có một chương trình cụ thể thì “ Bài toán 1000 trí thức Việt kiều ” không cần phải đặt ra nữa.