NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Liệu Nhà Nước Có Thể Còn Bao Cấp Đến Bao Lâu ?

Thị trường tài chánh Hoa Kỳ trong những ngày qua đã bị tụt giá nặng nề khi những lo ngại về cơn khủng hoảng nợ nần của chính phủ Hy Lạp chưa đem lại niềm tin cho giới đầu tư. Ngược lại, nhiều chuyên gia còn lo sợ rằng cuộc khủng hoảng này có thể lan rộng đến nhiều quốc gia khác như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ái Nhĩ Lan và kéo theo sự xuống dốc của cả nền kinh tế của Âu Châu, đương nhiên sẽ tác động đến nền kinh tế tại Hoa Kỳ vốn đang có nhiều dấu hiệu lạc quan cho một sự hồi phục trở lại, tuy có phần chậm chạp nhưng vẫn đều đặn. Sự lo ngại này đã được manh nha từ vài tháng qua, và trong những tuần lễ gần đây đã càng âm ỉ nhiều hơn, và dường như giới đầu tư bắt đầu nhận thức và đánh giá xác suất nó có thể xảy ra khá cao.

Trong ngày thứ Năm 20-5-2010, chỉ số trung bình của Dow Jones tại thị trường Wall Street đã tụt xuống 376 điểm, một con số tụt giảm cao nhất kể từ tháng Hai năm 2009 đến nay. Nếu tính từ mức cao nhất gần đây vào ngày 26-4-2010, chỉ số Dow Jones coi như đã mất đến 1.137 điểm, tức là khoảng 10,2%. Tất cả các chỉ số của các thị trường trao đổi khác cũng đều bị mất giá khoảng 3%. Mức phân lời trên thị trường cũng tụt giảm khi mọi giới đầu tư đổ xô mua công khố phiếu của chính phủ Mỹ cho chắc ăn. Nhiều chuyên gia giải thích rằng đây là hậu quả của việc giới đầu tư lo ngại về tình trạng khó khăn tại Hy Lạp -- dù đã được Liên Hiệp Âu Châu và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế hứa giúp đỡ cho vay đến 110 tỷ Euros ( tương đương cỡ 146 tỷ Mỹ-kim ) trong thời gian 3 năm sắp tới -- sẽ lan rộng đến các nước khác khiến cho nhiều đại ngân hàng sẽ bị thua lỗ và dẫn đến những hậu quả thê thảm như cuộc khủng hoảng tài chánh vào năm 2008 tại Hoa Kỳ, và từ đó cũng sẽ khiến cho sự phục hồi kinh tế hiện nay sẽ bị đình trệ.

Một chuyên gia phân tích độc lập là Edward Yardeni ví von rằng tình trạng hiện nay giống như một thảm cảnh khi một người bị rớt xuống hồ nước đang đóng băng đá khiến cho mọi người đổ xô đến cứu giúp để rồi cuối cùng mọi người đều chết chìm theo luôn. Ông Yardeni giải thích rằng giới đầu tư càng ngày càng tin tưởng rằng các quốc gia Âu Châu sẽ bắt buộc thi hành những biện pháp thắt lưng buộc bụng một cách cứng rắn để giải quyết tình trạng thâm thủng ngân sách và nợ nần ngập đầu ( như trường hợp quốc hội Hy Lạp vừa mới thông qua dù biết rằng sẽ gặp sự chống đối dữ dội của nhiều thành phần dân chúng ). Những biện pháp cắt giảm chi tiêu nghiêm nhặt này sẽ dẫn đến tình trạng trì trệ kinh tế trong một thời gian dài, và do đó đã khiến cho giới đầu tư tìm cách bán bớt cổ phiếu và đồng tiền Euro là đồng tiền chung của 16 nước tại Âu Châu. Ông Yardeni cho rằng sự tụt dốc của đồng Euro chỉ là bước đầu của một thời kỳ đi xuống của nền kinh tế Âu Châu trong nhiều năm sắp tới.

Câu hỏi được đặt ra là phải chăng chỉ có Hy Lạp và một vài nước khác ở Âu Châu đã lâm vào cảnh khó khăn vì nợ ngập đầu và đã dẫn đến những hậu quả liên luỵ đến nhiều nước khác. Trong thực tế, tất cả các chuyên gia hoặc những người nào nghiên cứu các dữ kiện một cách nghiêm túc đều nhìn thấy rằng vấn đề công trái (số tiền nợ của một quốc gia) là một vấn nạn càng ngày càng trầm trọng hơn nhưng vẫn chưa có biện pháp giải quyết nghiêm túc vì tất cả các chính trị gia đều tìm cách tránh né, hoặc bằng những lập luận mị dân, hoặc là đẩy lùi về phía trước để dồn lại cho các thế hệ con cháu về sau phải gánh lấy.

Lý do đơn giản là nếu như có những chính trị gia nào can đảm dám đưa ra những lời nói thật lòng và đề nghị những biện pháp đối phó hữu hiệu, họ sẽ bị lập tức chống đối và sớm bị cử tri bỏ phiếu bất tín nhiệm vì những biện pháp này sẽ gây công phẫn cho mọi giới dân chúng từ bảo thủ sang cấp tiến. Trong tình cảnh hiện nay, để giải quyết nhu cầu của người dân trong nước, đa số các chính quyền đều sẵn sàng chi tiêu quá mức số tiền thu nhập từ tiền thuế, tạo ra tình trạng thiếu hụt ngân sách (deficit). Những số tiền thiếu hụt này trở thành món nợ của nhà nước đối với giới đầu tư là những người mua các công khố phiếu. Số nợ đó được chất chồng từ năm này sang năm khác để tạo thành mức công trái ( national debt ) mỗi ngày một trầm trọng hơn, vì càng cộng thêm tiền lời phải trả hàng năm. Do đó, để giải quyết vấn nạn này, chỉ có biện pháp duy nhất là phải vừa tăng thuế để có thể thêm thu nhập cho công quỹ ( khiến cho giới bảo thủ bất bình ), vừa phải cắt giảm bớt những chương trình chi tiêu công cộng như trợ cấp dân sinh (khiến cho giới cấp tiến chống đối). Đó là lý do không có vị chính khách nào, dù là theo Cộng Hoà hay Dân Chủ, đều có can đảm và thực tâm đưa ra những biện pháp thực sự để giải quyết vấn đề khó khăn này.

Nhưng không phải chỉ riêng có Hy Lạp hay vài nước khác ở Âu Châu như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha là đang lâm vào tình trạng mang công mắc nợ ngập đầu. Có thể nói một cách không sợ sai lầm rằng hầu như tất cả các nước trên thế giới ngày nay đều cũng ở trong tình trạng nợ nần quá cỡ, mà nếu đem áp dụng vào trường hợp của một gia đình hay một công ty tư nhân thì chắc khó lòng được chấp nhận thái độ vô trách nhiệm như vậy.

Trong một bài viết cũng trên trang báo này đăng vào đầu tháng 11 năm ngoái với tựa đề “Khi nhà nước có thể sẽ quịt nợ”, kẻ viết bài này có đưa ra nhiều con số đáng giật mình, tưởng cũng nên nhắc lại để mọi người nhìn rõ về tình cảnh thảm thương của các nước ngày nay.

“. . . Hoa Kỳ là quốc gia có món công trái (public debt) lớn nhất trên thế giới, được ước tính có thể lên đến 12.800 tỉ Mỹ-kim vào cuối năm 2009, do bởi hậu quả của nhiều chính sách bơm tiền ồ ạt vào thị trường để mong vực dậy nền kinh tế ra khỏi cơn suy thoái kinh tế trầm trọng nhất kể từ sau thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến. Tuy nhiên, Hoa Kỳ không phải là quốc gia có mức nợ cao nhất, nếu tính theo tỉ lệ của mức nợ với tổng sản lượng quốc gia, tức là mức GDP.

Đứng hạng nhì là nước Nhật với mức công trái tổng cộng vào khoảng 8 ngàn tỷ Mỹ-kim ( 8 trillion ), nhưng chiếm đến 170% mức GDP. Những nước giầu mạnh khác như Pháp và Ý cũng có tỉ lệ mức công trái trên mức GDP cao hơn Hoa Kỳ nhiều. Hiện nay, mức nợ của Hoa Kỳ được ước tính vào cuối năm nay sẽ lên đến 12.800 tỷ trong khi mức GDP vào khoảng 14.000 tỷ Mỹ-kim.

Câu hỏi được đặt ra là liệu sẽ đến một ngày nào đó các quốc gia giầu mạnh này cũng sẽ chịu đứng hết nổi cái gánh nợ chồng chất của công trái có thể làm tê liệt bộ máy hoạt động khiến cho các chính phủ phải đi đến quyết định là không trả nợ (dù chỉ là tạm thời) để có thể hoạt động bình thường và dễ thở hơn. Và điều gì sẽ xảy ra khi đó?

Trong lịch sử chưa bao giờ xảy ra tình trạng nước Mỹ hoặc nước Nhật quịt nợ, và vì thế nên nhiều người không thể hình dung được điều đó. Trên lý thuyết, người ta đã nhiều lần đưa ra lời cảnh giác rằng đến một ngày nào đó, nhiều giới đầu tư sẽ hết còn tin tưởng vào trị giá của đồng dollar và từ đó sẽ bán dollar để mua dự trữ những ngoại tệ khác như Euro, yen hoặc là vàng, hay dầu hoả. Nếu như tất cả mọi người đều ồ ạt bán tống bán tháo kho tiền dollar của mình thì sẽ tạo ra một cơn khủng hoảng tụt giá về chứng khoán và trái phiếu của Hoa Kỳ. Nhiều người đã lên tiếng báo động về một cơn khủng hoảng tệ hại như vậy từ nhiều chục năm qua. Thế nhưng điều đó vẫn chưa xảy ra. Sự tụt giá của đồng dollar đã diễn ra khá êm thắm và nhẹ nhàng, bởi vì cho đến nay nó vẫn được coi là đồng tiền vững chắc và tạo được sự tin tưởng nhất của mọi người dựa trên nhiều yếu tố vững vàng: đó là tình trạng ổn định của chính phủ Mỹ, một chính sách điều hành trong sáng, một sự thịnh vượng của nước Mỹ cũng như là tỉ lệ lạm phát vẫn còn rất thấp. Tuy nhiên, cũng có thể xảy ra một biến cố hoặc một chuỗi những biến cố dồn dập có thể phá tan sự tin tưởng đó, và điều này có thể diễn ra bất cứ lúc nào trong tương lai.

Cuộc nghiên cứu của văn phòng CBO ( The Congressional Budget Office ) chuyên nghiên cứu về ngân sách Quốc Hội Hoa Kỳ đưa ra ước tính là chỉ riêng tiền lời phải trả hàng năm cho mức công nợ của Hoa Kỳ đã lên đến mức 170 tỷ Mỹ-kim trong năm 2009. Và nếu đà này tiếp tục kéo dài, thì đến năm 2019, số tiền lời phải trả hàng năm đó có thể lên đến 799 tỷ Mỹ-kim. Chỉ cần làm con tính nhỏ để biết rằng con số tiền lời gần 800 tỷ Mỹ-kim đó có thể làm được biết bao chương trình ích quốc lợi dân, thay vì chỉ để trả nợ.”

Không riêng các quốc gia nghèo khó hoặc như nước Hy Lạp hiện nay, các nước giầu mạnh cũng đều thấy cái khó khăn gây khốn đốn cho một quốc gia khi có món nợ quá lớn khiến cho ngân khố của nước đó mỗi năm phải xuất ra một món tiền lớn chỉ để trả phần tiền lời của món nợ, nói gì đến việc có thể giảm bớt đi món nợ. Tuy nhiên, các chính quyền khắp nơi đều đứng trước những quyết định khó khăn. Do bởi tình trạng y tế công cộng phát triển ngày nay, dân số mọi nơi đều có tuổi thọ gia tăng, và do đó khiến cho chính quyền phải tiếp tục tốn kém hơn cho các chương trình trợ giúp dân sinh ( bằng không sẽ bị mang tiếng là bất nhân, và cũng dễ bị mất phiếu vì thành phần cao niên bao giờ cũng siêng năng đi bầu ). Người dân Mỹ có thể không thích dùng từ ngữ “chính sách bao cấp” (welfare policy) vì cho rằng nó hàm ý xấu, lệ thuộc và thích dùng chữ “entitlements”, tạm dịch là ngân khoản được hưởng, để nói đến các khoản tiền trợ cấp như an sinh xã hội và bảo hiểm y tế cho người già và người nghèo trong nước. Cho dù có dùng từ ngữ nào đi chăng nữa, thì nó cũng không che đậy một thực trạng não nề cho công quỹ quốc gia đang mỗi ngày bị đè nặng vì các chương trình chi tiêu này.

Biểu đồ so sánh mức công trái của một nước so với tỉ lệ của GDP.

Dĩ nhiên, các chính quyền không thể nào cứ tiếp tục đi mãi con đường chi tiêu phung phí mãi (cho dù được biện minh với nhiều chiêu bài rất kêu như an ninh quốc phòng hoặc cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu) và từ đó cứ tiếp tục vay nợ mãi mãi (qua các quyết định khiến cho ngân sách tiếp tục bị thiếu hụt). Càng đẩy lui việc lấy các quyết định mạnh mẽ như tăng thuế và cắt giảm chi tiêu, các chính quyền hiện thời chỉ càng làm cho tình hình mỗi năm thêm trầm trọng và khó khăn hơn nhiều cho các thế hệ con cháu sau này.

Tình trạng kinh tế toàn cầu suy trầm đã khiến cho vấn nạn này càng trở nên khó khăn hơn khi các nước không thể tăng trưởng mạnh để mong có thể đạt được mục tiêu thặng dư ngân sách. (Xin mở một dấu ngoặc ở đây để nói rằng ở điểm này, cho dù có ưa thích hay chê bai ông tổng thống thích mê gái là Bill Clinton, người ta phải khách quan công nhận rằng chỉ có dưới thời của ông ở nhiệm kỳ hai là đạt được thành tích thặng dư ngân sách. Thành tích này càng đáng khen hơn nữa nếu như người ta chịu nhìn lại cái di sản tệ hại về ngân sách mà ông Clinton đã thừa hưởng được sau 12 năm dưới các tổng thống Reagan và Bush Bố của phe Cộng Hoà. Vào năm 1980, mức nợ của Hoa Kỳ đang từ con số 909 tỷ để rồi sau đó tăng gấp 4 lần và trở thành 3,600 tỷ Mỹ-kim vào năm 1992. Sau 8 năm dài của ông Bill Clinton với thành tích hi hữu thặng dư ngân sách khiến cho đà gia tăng công trái không bị gia tăng mạnh thì đến phiên TT Bush Con cũng tiếp tục đi vào con đường gây ra thâm thủng ngân sách trầm trọng và liên tục khiến cho mức công nợ nhảy vọt, từ 5.600 tỷ lúc ông mới lên nhậm chức vào năm 2001 để trở thành 10.700 tỷ Mỹ-kim lúc gần hết nhiệm kỳ.)

Điều đáng lo ngại nhất là các chính phủ khó tìm được ra giải pháp hữu hiệu và êm thắm. Bởi vì tất cả những biện pháp ảnh hưởng đến ngân sách quốc gia đều có thể khiến cho tình hình thêm khó khăn vì có thể làm cho nền kinh tế bị trì trệ hoặc lâm vào suy thoái. Nếu như chính quyền để cho tình trạng thiếu hụt ngân sách tiếp tục, nó có thể dẫn đến một tình trạng khủng hoảng khi một ngày nào đó, không ai biết trước lúc nào, giới đầu tư chủ nợ hết còn tin tưởng vào khả năng của nước này có thể trả nổi ( như đang xảy ra với Hy Lạp ), và từ đó không còn tiếp tục cho vay nợ dễ dàng hoặc là đòi phải trả với giá lãi thật cao. Ngược lại, nếu như chính quyền áp dụng các biện pháp thắt lưng buộc bụng như cắt giảm các chương trình chi tiêu công cộng hoặc tăng thuế, thì nó cũng dẫn đến tình trạng làm trì trệ nền kinh tế trong đoản kỳ, chưa kể đến việc có thể tạo ra bất an trong xã hội vì nhiều thành phần dân chúng nổi loạn chống đối. Trớ trêu là tình trạng kinh tế bị trì trệ thì càng khiến cho khả năng của quốc gia để trả nợ càng khó khăn hơn.

Tình trạng Hy Lạp đang trải qua là một thí dụ điển hình nhất. Để có thể nhận được trợ giúp từ các nước .

Âu Châu và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế số tiền trợ giúp cho vay nợ 110 tỷ Euros, chính phủ Hy Lạp phải áp dụng các biện pháp thắt lưng buộc bụng đúng nghĩa. Tính trung bình, tiền trợ cấp hưu bổng của người dân bị cắt giảm 11%; tiền lương của công chức trên toàn quốc gia bị cắt giảm 14%; tiền thuế trị giá gia tăng (TVA) bị tăng từ 21% lên thành 23%. Tất cả những biện pháp này đều dễ dẫn đến hậu quả đẩy Hy Lạp tiến vào một cơn suy thoái lâu dài. Trong năm 2009, tỉ lệ thất nghiệp tại Hy Lạp ở con số khá cao là 9%, nhưng nhiều kinh tế gia tiên đoán rằng tỉ lệ thất nghiệp này có thể sẽ lên đến 19% trong những ngày tháng tới.

Những công chức như nhân viên chữa lửa cũng xuống đường biểu tình phản đối các biện pháp thắt lưng buộc bụng.

Giá như chỉ có một vài nước lẻ tẻ bị lâm vào tình trạng khó khăn nợ ngập đầu như Hy Lạp thì vấn đề cũng không có gì khó giải quyết. Những nước gặp khó khăn sẽ chỉ bị khốn đốn trong vài năm đầu khi cắt giảm ngân sách và sau đó phục hồi lại tăng trưởng bằng cách xuất cảng sang các nước giầu mạnh khác chịu tiêu thụ hàng hoá trong một hành động tương trợ và giúp đỡ. Nhưng trong tình hình hiện nay, các nước giầu mạnh đã chiếm đến khoảng phân nửa nền kinh tế của toàn cầu, và hầu như các nước này đều áp dụng những chính sách trợ giúp dân sinh theo chiều hướng xã hội chủ nghĩa dù không dùng danh xưng này. Trong thực tế, tất cả những chương trình trợ cấp về an sinh xã hội, tiền hưu bổng, các chương trình trợ cấp y tế cho người già (Medicare) hoặc cho người nghèo (Medicaid) và một lộ các chương trình cứu giúp khác nổ ra liên tục mỗi năm (cho các nạn nhân thiên tai bão lụt v.v.) đều góp phần tạo thêm gánh nợ của quốc gia. Ngay cả chương trình bảo hiểm y tế qua đạo luật cải tổ vừa mới được thông qua hồi tháng Ba, cho dù với những mục đích đầy cao cả và nhân bản, cũng sẽ góp phần tạo thêm gánh nặng cho công quỹ của Hoa Kỳ.

Câu hỏi đặt ra là điều gì sẽ xảy ra khi các nước này -- Hoa Kỳ, Nhật, Pháp, Anh và nhiều quốc gia giầu mạnh khác hiện nay – cũng sẽ rơi vào tình trạng như Hy Lạp? Liệu còn có những nước giầu mạnh nào hoặc một Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế từ một hành tinh nào khác có thể nhảy ra để cứu giúp cho các nước đó?

Đây mới chính là nỗi lo sợ thực sự cho một cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu kinh hồn có thể sẽ xảy ra trong tương lai nếu như các chính trị gia cầm quyền không thực sự lưu tâm để giải quyết vấn đề thâm thủng ngân sách một cách nghiêm chỉnh. Và từ đó, người ta mới thấy cái chủ trương xem thường vấn đề thâm thủng ngân sách của ông cựu PTT Dick Cheney của đảng Cộng Hoà với câu nói bất hủ “Deficits don’t matter”, tạm dịch là Khiếm Hụt Ngân Sách Chẳng Có Gì Đáng Kể, đã biểu lộ một thái độ vô trách nhiệm đáng lên án và nguyền rủa.

Mai Loan

23/05/2010