NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Bảo vệ môi trường trong sản xuất Nông nghiệp - GS TS Lê Văn Khoa

Điều tra nghiên cứu về thực trạng môi trường nông thôn Việt Nam cho thấy, vấn đề môi trường bức xúc nhất trong nông nghiệp và nông thôn hiện nay là suy thoái các loại tài nguyên (rừng, đất, nước và đa dạng sinh học); ô nhiễm môi trường do chất thải (chủ yếu là chất thải rắn); sử dụng hóa chất trong nông nghiệp; nước sạch và vệ sinh môi trường; xung đột môi trường (tranh chấp về đất đai, nguồn lợi hải sản...) và sự phân hóa giàu nghèo.

Là một nước nông nghiệp, với 75% số dân và nguồn lực lao động xã hội đang sinh sống và làm việc ở khu vực nông thôn, với hơn 13 triệu hộ nông dân, lực lượng sản xuất này chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, nông thôn mới tạo ra khoảng một phần ba tổng sản phẩm quốc dân. Tỷ trọng công nghiệp chiếm 13,8%, dịch vụ 14,7%, nông nghiệp 71,45% trong tổng giá trị sản xuất. Sự chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn gấp hơn ba lần và có khả năng tăng. Hộ giàu ít, 90% số hộ nghèo thuộc chương trình 135 là ở nông thôn. Trong khi đó, khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp bị hạn chế, tỷ lệ tăng dân số còn khá cao, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn chiếm tới 24,7% tổng quỹ thời gian lao động.

Hiện nay, Ðảng và Nhà nước ta có chủ trương điều chỉnh cơ cấu sản xuất, phát triển khoa học công nghệ và mở rộng thị trường trong nông nghiệp. Trong đó thị trường là vấn đề xuyên suốt, là cơ sở để chuyển dịch cơ cấu, là căn cứ để định hướng cho khoa học công nghệ nhằm tạo cho nông nghiệp nước ta trở thành ngành sản xuất hàng hóa hướng ra xuất khẩu có bước phát triển về chất, với mức tăng trưởng cao và khả năng cạnh tranh bền vững. Người dân nông thôn với bản chất giàu sức sáng tạo đã vận dụng thành công việc kết hợp những nét tinh túy của công nghệ sản xuất hiện đại với kinh nghiệm bản địa giàu truyền thống trở thành những công nghệ thích hợp từng kiểu vùng sinh thái. Nhiều loại hình sản xuất nông nghiệp đã được lồng ghép hài hòa với công tác bảo vệ môi trường và đang được các địa phương trong cả nước học tập và áp dụng. Từ nhiều đời nay, nhân dân khu vực miền núi, trung du đã thiết kế hệ thống ruộng bậc thang hùng vĩ để giữ đất, giữ nước hạn chế phá rừng và cho phép canh tác lúa nước bền vững. Nếu sử dụng các giống lúa mới và bón thêm phân thì năng suất lúa gần tương đương lúa ruộng ở đồng bằng: 2,5 tấn-5,0 tấn/ha. Nếu trước đây một ha lúa nương chỉ thu được một tấn thóc, và sau vài vụ gieo trồng phải bỏ hoang một số năm thì hiện nay một ha ruộng bậc thang thu được khoảng 4-5 tấn thóc với giống lúa mới và có thể canh tác liên tục không cần có thời kỳ bỏ hóa.

Ðối với vùng đồng bằng sông Hồng, các mô hình VAC như mô hình vườn cây - ao cá - ruộng lúa xã Phú Diễn, Nam Sách (Hải Dương) đã giúp 36 hộ trong vùng đất trũng có thu nhập ổn định, tạo cảnh quan đẹp và cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của người dân nơi đây. Ở xã Phụng Công, Văn Giang (Hưng Yên) người dân đã dành 1/3 diện tích đất úng trũng để đào ao nuôi cá, đất đắp lên vườn trồng các loại cây cảnh, kết hợp xây dựng chuồng trại chăn nuôi lợn và các loại gia cầm, tạo thu nhập từ 150 đến 200 triệu đồng/ha/năm. Các loại phụ phẩm nông nghiệp, rác thải nông nghiệp đã được thu gom và ủ trong những hố rác di động vừa bảo đảm vệ sinh môi trường, nhà cửa thoáng mát, vừa có thêm lượng đáng kể phân hữu cơ bón ruộng.

Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhiều vùng đã thiết kế các mô hình nông - lâm kết hợp bền vững, người dân đắp ụ đất, lên luống trong ruộng để trồng cây ăn quả, cây rau mùa khác vừa đa dạng hóa sản phẩm thu nhập, vừa hạn chế sâu hại và duy trì độ màu mỡ của đất. Những năm gần đây, tỉnh Ðồng Tháp đã xây dựng nhiều mô hình sản xuất hiệu quả kinh tế cao như lúa - sen, lúa - bắp, bắp lai 2-3 vụ, lúa củ ấu thu lãi hàng chục triệu đồng; cây cảnh, nuôi cá tra thu lãi hàng trăm triệu đồng.

Ở những vùng ven biển, nơi phân bố diện tích lớn rừng ngập mặn (RNM) giàu tiềm năng và có ý nghĩa nhiều mặt đối với cuộc sống con người thì nhiều năm nay đã xảy ra sự tranh chấp quyết liệt giữa con tôm và cây rừng. Nhiều cánh rừng ngập mặn đã bị tàn phá để thay thế bằng những đầm nuôi hải sản. Tuy nhiên, những rủi ro trong nuôi trồng hải sản, sự xâm nhập mặn, sự xói lở bờ biển đã thức tỉnh nhiều hộ nông dân, buộc họ phải thay đổi phương pháp nuôi trồng. Những mô hình nuôi tôm bán thâm canh, nuôi tôm sinh thái với tỷ lệ 65-75% diện tích RNM và 20-25% diện tích nuôi trồng hải sản đang được nhiều nơi áp dụng. Tuy năng suất hải sản không cao, nhưng ít rủi ro và bền vững đem lại thu nhập và duy trì được hệ sinh thái RNM vốn rất nhạy cảm.

Nhìn chung, các mô hình đã tập trung vào việc sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên tái tạo gắn liền cuộc sống đem lại sự tăng trưởng về kinh tế, cải thiện đáng kể đời sống của người dân và tạo dựng những cảnh quan sinh thái đẹp và hấp dẫn.

Việc xây dựng các mô hình bảo vệ môi trường là một công việc khó khăn, đòi hỏi sự sáng tạo bền bỉ của các cộng đồng tại địa phương. Nhưng việc duy trì và nhân rộng các mô hình lại khó khăn hơn nhiều. Ðể làm được điều này cần tăng cường năng lực, trách nhiệm của các tổ chức cổ vũ và bằng nhiều phương tiện để nhân rộng các sáng kiến, các hương ước và luật tục về bảo vệ môi trường của nhân dân. Tổ chức và lôi kéo sự tham gia của cộng đồng; các cấp chính quyền T.Ư và địa phương cần có những chính sách, quy chế để thu hút các tổ chức quốc tế thuộc Chính phủ và phi chính phủ trong các hoạt động bảo vệ môi trường ở địa phương. Tạo điều kiện để các tổ chức này chuyển giao các công nghệ mới và lồng ghép bảo vệ môi trường vào các chương trình, dự án mà các tổ chức này thực hiện.