NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Khủng hoảng tài chánh 2008 và các biện pháp giải nguy - Nguyễn Trường , Kiều bào Mỹ

Thảo luận chương trình cứu nguy Wall Street hết sức táo bạo với ngân khoản 700 tỉ USD của chính quyền George W. Bush, nghị sĩ Cộng Hòa từ bang Kentucky, Jim Bunning, đã phải thốt lên: "Trên mọi phương diện, thị trường tự do ở Hoa Kỳ đã dãy chết". Chúng ta chỉ có thể nói thêm: "Sự thức tỉnh đã đến khá muộn màng".

Kế hoạch cứu trợ của phe Bush nhằm mua lại các chứng khoán mất hết giá trị của Wall Street chưa hẵn đã khai tử thị trường tự do, thực ra đó chẳng qua cũng chỉ là một tiểu xảo mới, cấp thiết và thuận tiện. Trong khi phe bảo thủ đã luôn rao giảng chủ nghĩa thị trường tự do kinh điển trong suốt 35 năm qua, trong thực tế họ luôn dựa vào nhà nước để giành lấy các biện pháp cứu nguy, các hợp đồng béo bở, các đặc lợi...Với họ, nhà nước giữ vai trò cảnh sát thì ít, mà chính là vai trò giúp họ thủ lợi, cướp dật. Nhưng ít ra, đến nay, guồng máy bất lương đã bị lộ tẩy và phơi bày lộ liễu. Với những người chủ trương thị trường tự do cuồng nhiệt như Henry Paulson, bộ trưởng ngân khố, nguyên tổng quản trị Goldman Sachs, đã công khai đầu hàng, chúng ta có quyền hy vọng cuộc khủng hoảng lần nầy cuối cùng rồi sẽ chấm dứt kỷ nguyên tân bảo thủ.

Những liên minh xuyên ý thức hệ, bất ngờ và bất khả dự liệu thành hình trước khi chương trình cứu nguy được quốc hội thông qua, chứng tỏ cuộc tranh luận triết lý căn bản đã chuyển đổi bản chất: kích cỡ chính quyền không còn thiết yếu, bởi lẽ vai trò của chính quyền trong những năm sắp tới sẽ ngày một quan trọng. Vấn đề còn lại chỉ là phạm vi can thiệp, và quan trọng hơn cả, là ai sẽ hưởng lợi từ sự can thiệp đó? Liệu khuôn khổ của chương trình cứu trợ lần nầy có đem lại một "chủ nghĩa xã hội Goldman Sachs" hay một guồng máy quản trị tài chánh dân chủ hơn ?

Khủng Hoảng Tài Chánh

Cái gì phải đến đã đến.

Trong ba thập kỷ qua, nhiều nhà quan sát đã chứng kiến hệ thống tài chánh không còn bị gò bó giám sát ngày một trở nên phóng túng phiêu lưu, hố cách biệt giàu nghèo ngày một sâu rộng. Họ tin:"một ngày nào đó, chúng ta sẽ phải trả một giá đắt". Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù thỉnh thoảng hệ thống tài chánh gặp một vài khó khăn đáng kể - như nạn sụt giá chứng khoán năm 1987, khủng hoảng tiết kiệm tín dụng vào cuối thập kỷ 1980s, các cuộc khủng hoảng tài chánh ở Mexico và Á châu giữa thập kỷ 1990s, cuộc khủng hoảng dot-com vào đầu thập kỷ 2000s - nhưng kinh tế rồi cũng lấy lại được thăng bằng. Phải chăng lần nầy chúng ta đã không còn may mắn như trước ?

Mới nhìn người ta những tưởng không mấy hợp lý khi liên kết cuộc khủng hoảng tài chánh hiện nay với hiện tượng lợi tức phân cực trong trường kỳ, nhưng trong thực tế, hai sự kiện liên hệ mật thiết với nhau. Trong thời gian có hiện tượng bong bóng bất động sản, nhiều người đã vay mượn nặng nề không những để mua nhà ( giá cả thường vượt quá khả năng tài chánh của chính họ) mà còn để bổ túc cho việc làm yếu kém và gia tăng lợi tức trong thời gian kinh tế tăng trưởng kể từ sau đệ nhị thế chiến. Trong khoảng thời gian 2001 và 2007, các sở hữu chủ bất động sản đã rút ra một tổng số 5.000 tỉ USD, hoặc bằng cách thế chấp nhà cửa để vay mượn hoặc bán bất động sản lấy tiền mặt; số tiền nầy chiếm khoảng 30% số tiêu thụ gia tăng trong cùng thời gian. Con số nầy đã giúp ngụy trang sự yếu kém của thị trường lao động; thiếu số tiêu thụ gia tăng nầy, tình trạng thoái trào năm 2001 chắc đã không thể chấm dứt.

Nhưng đợt vay nợ nầy cũng chỉ tiếp nối đợt vay nợ đã bắt đầu từ đầu thập kỷ 1980s. Khởi đầu với vay mượn qua thẻ tín dụng, sau đó khi thị trường bất động sản bùng phát và nở rộ, tín dụng với thế chấp bất động sản giữ vai trò đầu tàu. Đến nay, giới tiêu thụ nợ nần quá mức chịu đựng, các thị trường tín dụng lâm vào tình trạng vỡ nợ và phá sản.

Vay nợ cũng chỉ là một khía cạnh của vấn đề. Khi lợi tức phân cực - hố cách biệt giàu nghèo sâu đậm hơn - giới giàu có và các định chế tài chánh phục vụ giới nầy đầy ắp tiền mặt cần tìm cơ hội đầu tư kiếm lợi nhuận, và một trong những cơ hội tìm được là những người ở những nấc thang lợi tức thấp hơn phía dưới họ. (Đây cũng là một trong những nguồn vốn tài trợ cho thẻ tín dụng và tín dụng bất động sản). Họ cũng đổ vốn vào các quỹ đầu cơ (hedge funds), quỹ giá trị tích lũy trong bất động sản tư nhân (private equity funds), và các cổ phiếu và chứng khoán thông thường (just plain stocks and bonds). Hai mươi lăm năm ngập lụt tiền mặt đã đưa đến sự bành trướng khổng lồ trong các thị trường tài chánh. Tổng tích sản tài chánh các loại (cổ phiếu, trái phiếu...) đã đạt mức 440% GDP của Hoa Kỳ từ hồi đầu thập kỷ 1950s cho đến cuối thập kỷ 1970s; và tiếp tục gia tăng đều đặn vượt quá 600% năm 1990, và 1.000% năm 2007. Ngoại trừ một vài lần gián đoạn khó khăn, hình như Wall Street đã đi vào chốn đào nguyên hoang tưởng: một thị trường triền miên nở rộ (an eternal bull market). Các viên chức giám sát (regulators) ngưng dò xét kiểm tra, và các kiểm toán viên làm ngơ trước các thủ thuật, tiểu xảo tài chánh ngày một táo bạo thiếu cẩn mật. Không ai hiện thân sự chểnh mảng đó hơn là Alan Greenspan, viên chức, trong tư cách Chủ Tịch Cục Dự Trữ Liên Bang, mất hẵn khuynh hướng dè dặt cẩn trọng đặc trưng trong nghề ngân hàng trung ương, thay vào đó, luôn hăng hái khuyến khích. Như ông ta đã nhiều lần phát biểu trong suốt hai thập kỷ 1990s và đầu thập kỷ 2000s, ông chỉ là một người bình thường, làm sao dám xét đoán túi khôn tập thể của các thị trường. Ông ta quên rằng thị trường không hề hiện thân của túi khôn tập thể và thường chỉ phản ảnh mưu toan kỹ lưỡng của một tập đoàn tham lam thiếu lương tâm.

Như các luật gia thường nói, trong khi lý do gần gũi của cuộc khủng hoảng tài chánh hiện nay là hiện tượng bong bóng bất động sản nổ tung và sự biến đổi bất thuận lợi của khối lượng nợ có bất động sản thế chấp bảo đảm để tài trợ , đó cũng chỉ là một phần của tình trạng khó khăn lớn lao hơn nhiều. Và trong khi chính quyền chắc chắn phải chi hàng trăm tỉ để hàn gắn các tai hại trong vòng vài năm tới, trong trường kỳ cũng còn rất nhiều việc cần phải làm.

Vào thời điểm nầy, tái lập các luật lệ kiểm soát tài chánh là điều rất hấp dẫn. Và đó cũng là điều vô cùng cần thiết. Chúng ta cũng cần nhớ rõ vì sao hệ thống tài chánh, cũng như nhiều địa hạt khác trong đời sống kinh tế, đã được thoát vòng giám hộ bắt đầu từ thập kỷ 1970s. Theo quan điểm của giới thượng lưu, lợi nhuận của các doanh nghiệp ở mức quá thấp, nhân công quá đòi hỏi, và sự kiểm soát của chính quyền quá nặng tay. gỡ bỏ các luật lệ kiềm chế là một phần trong trào lưu tấn công rộng lớn nhằm giúp kinh tế mềm dẻo hơn, đưa đến mức công xá hay lương bổng ngày một sụt giảm và công ăn việc làm ngày một mất ổn định đối với dân Mỹ. Và phương thuốc nầy khá hữu hiệu dưới mắt giới thượng lưu. Doanh lợi gia tăng vượt bực kể từ đầu thập kỷ 1980s cho đến 2007. Sự phân cực trong mức lợi tức không phải là một phản ứng phụ ngoài ý muốn mà chính là một phần của phương thuốc cứu chữa.

Mặc dù ngày nay chúng ta thường nghe nói kỷ nguyên Reagan đã qua và kỷ nguyên chính quyền uy lực đã trở lại, một chính quyền mở rộng khó làm được gì khác hơn ngoài việc cứu nguy một hệ thống tài chánh thất bại. Không có gì hợp nhân tính sẽ được thực thi nếu quần chúng không được tiếp sức và động viên nhiều hơn. Sau cuộc khủng hoảng tài chánh và chương trình giải nguy lần nầy, hình như chúng ta không còn có thể trở lại trạng huống trước kia, nhưng cũng chưa mấy sẵn sàng tiến tới một cái gì mới hấp dẫn hơn.

Chủ Nghĩa Xã Hội "Goldman Sachs"

Wall Street đã đưa ra tối hậu thư cho các chính trị gia Hoa Thịnh Đốn: phải tức khắc chấp thuận chương trình giải nguy, nếu không, quý vị phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những gì sẽ xẩy ra. Tính táo bạo trong đề xuất nguyên thủy của Bộ Trưởng Ngân Khố Henry Paulson đã được phản ảnh qua những gì không nói rõ: không giải thích kế hoạch giải nguy sẽ diễn ra như thế nào, cũng không đòi hỏi gì từ các ngân hàng để đổi lấy tiền của giới chịu thuế. Bản tóm tắt của Bộ Ngân Khố chứa đựng một tuyên bố nghe đến rợn người:" Khoản 8. Duyệt xét. Các quyết định của Bộ Trưởng như dự liệu trong Luật nầy đều bất khả xét duyệt, và được đưa ra theo quyền chuyên quyết của Bộ, và không chịu sự xét duyệt của bất cứ tòa án nào hay bất cứ cơ quan hành chánh nào". Nói một cách khác, người chịu thuế hay nhà đầu tư không được khiếu kiện. Các chính tri gia bỏ phiếu cho kế hoạch về sau cũng chẳng có quyền phàn nàn. Chỉ có thể hoặc chấp thuận, hoặc bác bỏ.

Cả hai đảng chính trị đều đã phải chiều theo sự bắt chẹt của Wall Street vì làm vậy ít rủi ro bất trắc hơn là tự gánh lấy trách nhiệm. Bộ trưởng Ngân Khố Henry Paulson và Chủ Tịch Cục Dự Trữ Liên Bang Ben Bernanke đã cùng gây áp lực và hù dọa bởi lẽ những nổ lực vản hồi lòng tin giới đầu tư trước đó đều thất bại trong khi sự can thiệp nửa vời của cả hai đã gây nhiều hoang mang hổn loạn. Cục Dự Trữ Liên Bang đã cạn tiền. Gần 3/5 trong số 800 tỉ vốn của Cục nầy, giờ đây, chỉ là những chứng từ mất hết giá trị, những chứng khoán với thế chấp bất động sản mất giá, và những tích sản hữu danh vô thực mua từ các đối chiếu biểu (balance sheets) của Wall Street.

Mặc dù kích cở lớn, quỹ giải nguy 700 tỉ cũng chỉ nhằm cứu trợ và làm nhẹ gánh các ngân hàng, các quỹ đầu tư, với hy vọng vãn hồi trật tự trong sinh hoạt kinh tế. Còn có rất nhiều lý do có thể khiến kế hoạch giải nguy thất bại. Tiền ứng cứu của Hoa Thịnh Đốn rất có thể giúp lôi kéo các định chế tài chánh lùi khỏi bờ vực thẳm, nhưng không bảo đảm được các ngân hàng sẽ bắt đầu cho vay bình thường trở lại, chưa nói gì đến đầu tư gây vốn. Các nhà đầu tư quốc tế đã bị phỏng lửa và có thể từ chối bơm vốn liếng vào định chế tài chánh èo uột của Hoa Kỳ.

Bí mật, kín đáo và mù mờ là thiết yếu để thành đạt những mục tiêu của Wall Street và có thể cho phép Paulson trả quá đáng cho các bằng hữu cũ để đổi lấy những tích sản vô giá trị, như vậy, cho phép những vị nầy gầy lại vốn liếng tích sản của các ngân hàng bị thương tổn, đồng thời tuyên bố với quần chúng và các chính trị gia là đã cứu nguy được hệ thống tài chánh. Để đạt mục đích nầy, Wall Street cần kiểm soát cho bằng được trọn vẹn quá trình diễn tiến, bất cứ ứng viên nào đắc cử vào chức vụ Tổng Thống vào tháng 11 tới.

Đã hẵn, không phải mọi người đều sẽ được ứng cứu, nhưng ưu tiên vẫn là Goldman Sachs, doanh nghiệp cũ của Paulson và Morgan Stanley. Hai qũy đầu tư hàng đầu nầy bị ngắc ngoải sau những biến động gần đây, do đó, Cục Dự Trữ Liên Bang đã vội vàng chấp thuận cho cải biến thành ngân hàng. Rồi Warren Buffett bỏ ra 5 tỉ yểm trợ Goldman Sachs nhưng khôn khéo sắp xếp tự bảo vệ khỏi mọi thua thiệt. Các chính trị gia cần phải cho Wall Street biết "chúng tôi cũng muốn được đãi ngộ và bảo vệ như Buffett". Nhiều người đang nghĩ đây chính là "chủ nghĩa xã hội kiểu Golden Sachs".

Nếu canh bạc Paulson thất bại, cuối cùng chính quyền có lẽ phải can thiệp một cách mạnh mẽ hơn, thay vì phục tùng, ân cần săn sóc Wall Street. Hoa Thịnh Đốn phải giám sát chặt chẻ khu vực ngân hàng và tài chánh, và sử dụng quyền hạn khẩn cấp để lèo lái các xí nghiệp tư doanh nầy và phải cương quyết cắt bỏ mọi trợ cấp công đối với các ngân hàng không muốn hợp tác. Kế đó, chính quyền có thể hành xử quyền giám sát tạm thời buộc các ngân hàng phải hợp tác để phục hồi sinh hoạt kinh tế qua các nghiệp vụ cho vay và đầu tư bền vững vào đời sống kinh tế đích thực, ra lệnh chấm dứt mọi xảo thuật tài chánh và kế toán thổi phồng các hoạt động tín dụng và ngụy tạo giá trị các tích sản, tháo gỡ các bom mìn nổ chậm được biết dưới tên gọi "các xảo thuật tín dụng"(credit derivatives), và cấm đoán lề lối làm ăn nầy. Cùng lúc, thay vì xua đuổi các chủ hộ và con nợ ra khỏi nhà hay vào chỗ phá sản, chính quyền phải tạm thời bảo vệ họ và giúp họ tìm các phương cách phải chăng để phục hồi. Sau hết, chính quyền cần tiếp sức cho sinh hoạt kinh tế đích thực qua các khoản công chi vào các công trình công cộng và gầy vốn. Đã hẵn, thực hiện những đề xuất nầy đòi hỏi những khoản công chi lớn lao. Nhưng giải nguy nước Mỹ ít ra cũng đáng giá như cứu nguy các ngân hàng đang thương tổn vì quá tham lam.

Kiềm Chế Các Tay Chơi Tham Lam Và Liều Lỉnh

Chế độ thù đáp ở Wall Street là một huyền thoại. Không một nhà quản lý nào trên thế giới được đải ngộ hậu hĩ như thế. Một thiểu số giàu có và quyền lực đã xuất thân từ cái nôi Goldman Sachs. Chính họ là những kẻ phải gánh chịu trách nhiệm. Đứng đầu bảng là Paulson, đương kim Bộ Trưởng Ngân Khố và nguyên Tổng Quản Trị Goldman Sachs. Paulson lấn át cả Cục Dự Trữ Liên Bang, trở thành nhà trọng tài nắm trong tay quyền sinh sát ở Wall Street. Vào thời điểm nầy, hai trong số những công ty cạnh tranh quan trọng với Goldman Sachs - Bear Stearns và Lehman Brothers - đã mai một. Công ty cạnh tranh thứ ba, Merrill Lynch, đã lọt vào tay ngân hàng thương mãi khổng lồ Bank of America. Trong khi đó, Paulson đã thành công chuyển dịch các rủi ro, bất trắc của Wall Street qua Hoa Thịnh Đốn, với cái giá 1.400 tỉ USD hay hơn nữa.

Một gương mặt khác là John Thain, đồng chủ tịch Goldman Sachs dưới thời Paulson. Thain rời Goldman để điều khiển Thị Trường Chứng Khoán New York trước khi cầm đầu Merrill Lynch vào tháng 12-2008 với gói thù đáp hậu hỉ kể cả 15 triệu tiền mặt. Tại Merrill Lynch, Thain tuyển một cựu viên chức Goldman,Thomas Montag, với một gói thù đáp 90 triệu (gồm 39,4 triệu tiền thưởng gia nhập[sign-on bonus]). Một trong những cây đại thụ Wall Street, đương kim Tổng Quản Trị Goldman (CEO), Lloyd Blankfein, được thù đáp 53,4 triệu năm 2006, một trong những nhà quản lý ở Wall Street được trả lương cao nhất. Năm 2007, ông ta được trả tới 67,9 triệu, kể cả 26,8 triệu tiền mặt.

Một điệp khúc ở Wall Street là phải trả lương cao mới thu hút và giữ lại được những tài ba hàng đầu. Các tổng quản (CEO) than phiền nếu số chứng khoán của họ mất giá, tài sản thuần của họ cũng sụt giảm theo, nhưng những gì còn sót lại luôn giúp giảm bớt sự mất mát. Sau khi Bear Stearns sụp đổ, nguyên chủ tịch Jimmy Cayne vẫn còn nhận được 61,3 triệu từ số chứng khoán sở hữu.

Phe Dân chủ trong quốc hội tìm cách liên kết kế hoạch ứng cứu của Paulson với những giới hạn trong số thù đáp quá đáng các viên chức quản lý ở Wall Street. Thực vậy, kiềm chế các gói thù đáp quá trớn là một ưu tiên hàng đầu, nhất là trong giai đoạn quyết định ứng cứu Wall Street chớp nhoáng hiện nay bởi những thất bát do chính họ gây ra. Một giải pháp hiệu quả hơn những mức trần thù đáp trực tiếp có lẽ là liên kết thù đáp với mức độ bất trắc hiểm tai. Một mức trần thù đáp dựa trên mức độ hiểm tai có thể liên kết số thù đáp bằng tiền mặt tối đa hàng năm với mức độ hiểm tai công ty chấp nhận, tương đối với số vốn dự trử để đối phó với mức hiểm tai công ty chọn lựa. Đây là phương cách áp đặt một giới hạn cho mức thù đáp của Wall Street nhằm giúp ổn định mức hiểm tai không được quy định, thẩm thấu trong khắp hệ thống tài chánh thiếu giám sát hiện nay.

Vấn đề thù đáp hiển nhiên đã kích thích lòng tham của Wall Street, nhưng không chỉ sự đầu cơ cá nhân cấp cao cần được kiểm soát, mà cả sự đầu cơ trong toàn hệ thống. Thay vì cho phép tạo lập những chủ thể rộng lớn và nhiều bất trắc hơn, như tập đoàn Bank of America-Merrill Lynch hay tập đoàn ngân hàng mới Goldman Sachs và Morgan Stanley, chúng ta cần tái phân loại Wall Street đúng theo Luật Glass-Steagall Act trước đây. Thay vì cho phép những quái vật khổng lồ mới ra đời, chúng ta nên cổ súy thành lập những chủ thể, những định chế nhỏ hơn và được giám sát chặt chẻ ít gây bất trắc hiểm tai không những cho giới đầu tư mà cả cho các công dân chịu thuế.

Cơ Hội Lớn Đang Chờ Đợi Barack Obama

Trong nhiều năm qua, dân Mỹ sống trong một "nền kinh tế sòng bài", một lối sống bám trụ trong tâm khảm quốc gia. Tuy vậy, trước một viễn ảnh đen tối lâu dài vì khủng hoảng tài chánh toàn cầu, người Mỹ giật mình kinh hải và căm giận. Quốc hội hiểu rõ sẽ phải đối diện với cử tri đang thấy từ chân trời cái gì đang đến với họ khi Bộ Ngân Khố giải nguy cho Wall Street. Những quyền lợi y tế ít ỏi đang có sẽ teo tóp dần. Chương mục tiết kiệm hưu trí 401(k) cũng sắp tiêu tan. Chẳng bao lâu nữa, họ sẽ được thông báo thuế sẽ tăng cao, quỹ an sinh xã hội sẽ trở thành mục tiêu bị tấn công trở lại.

Phe Hữu bắt đầu chạy tội. Lời nhạo báng của Rush Limbaugh, đã được báo Wall Street Journal đăng tải trên trang biên tập bình luận ngày 22-9-2008, tội phạm chính trong cuộc khủng hoảng tài chánh hiện nay là người da đen. Luật Tái Đầu Tư Cộng Đồng (Community Reinvestment Act) - ra đời dưới thời Carter, nhằm khuyến khích quyền sở hữu nhà ở của dân thiểu số - đã được Clinton đẩy mạnh đưa đến việc cho vay với lãi suất cực thấp (subprime loans). Dân da đen hưởng ứng nhập cuộc rồi không trả được nợ, xô đẩy Wall Street vào đường tai họa.

Nhiều cử tri phe Tả hy vọng: Vì Obama đang gọt dũa phương cách vận động tuyển cử nên người ta không được nghe nhiều bài ca hy vọng. Điều đó chỉ đúng một phần. Nhưng khi tình hình biến chuyển thuận lợi, ít ra cho đến gần đây, Obama tỏ ra dè dặt hơn trước.

Ngoài lý do thận trọng, làm sao Obama có thể thêm dầu vào lửa lo sợ, căm giận của quần chúng, khi đứng bên cạnh Obama, Robert Rubin và Lawrence Summers luôn sẵn sàng dập tắt mọi than phiền giận dữ. Về phía Cộng Hòa, đứng bên cạnh John McCain còn có Phil Gramm, cặp bài trùng đáng ghê tởm. Gramm giữ vai trò nòng cốt trong phe Cộng Hòa, thúc đẩy Quốc Hội thông qua Luật Gramm-Leach-Bliley Act năm 1999. Luật mới hủy bỏ và thay thế luật cũ - Glass-Steagall Act có nhiều kẻ hở - do Quốc Hội biểu quyết chấp thuận trong thời kinh tế đại khủng hoảng 1929-33, cấm các ngân hàng thương mãi hoạt động trong địa hạt đầu tư và bảo hiểm. T T Clinton hoan hỉ ký ban hành luật mới.

Một năm sau, trong tư cách Chủ tịch Ủy Ban Ngân Hàng Thượng Viện, Gramm ghép một tu chính án dài 262 trang vào luật ngân sách ngay trước ngày Quốc Hội nghỉ xã hơi.Tu chính án, vì vậy, không được rà soát kỹ lưỡng và đã trở thành Luật Canh Tân các Giao Dịch Hàng Hóa Tương Lai (Commodity Futures Modernization Act), xóa bỏ mọi quy luật hạn chế (deregulation) các ngân hàng đầu tư, buông lỏng mọi giao dịch tài chánh, tín dụng, vay mượn tương lai (over-the-counter derivatives, credit derivatives,credit default swaps..., những xảo thuật tài chánh tín dụng đầy bất trắc hiểm tai) không qua sự giám sát của các cơ quan hữu trách.

Tuy nhiên, vai trò của đảng Dân Chủ cũng không kém phần quan trọng trong việc tháo gỡ mọi luật lệ giám sát ngay từ thời Clinton. Phúc trình Kinh Tế của Tổng Thống năm 2001, phúc trình cuối sau hai nhiệm kỳ của Clinton, cho thấy, Hội Đồng Lãnh Đạo Đảng Dân Chủ, kể cả Clinton và Gore, đều đồng tình thay thế Luật Glass-Steagall, và đề cao những lợi điểm của việc tháo gỡ mọi luật lệ giám sát khu vực tài chánh tín dụng đúng như nghị trình của ngành kỹ nghệ ngân hàng: "Những quy luật đó ngày nay không còn cần thiết... Đó là những bước tiến cho phép củng cố khu vực tài chánh, hiệu quả hơn và cung cấp nhiều dịch vụ mới cho giới tiêu thụ".

Nếu muốn nhận diện một gương mặt tượng trưng cho sự tham nhũng của Wall Street, người đó không ai khác hơn là chính Rubin, nguyên thành viên của nhóm Goldman Sachs. Rubin là người nòng cốt đứng sau việc hủy bỏ Luật Glass-Steagall và thụ hưởng nhiều đặc lợi sau đó, kể từ khi ông từ bỏ Bộ Ngân Khố để sang lãnh đạo tập đoàn ngân hàng thương mãi-đầu tư mới Citigroup.

Thời cơ đã đến để mai táng chủ nghĩa Tân Tự Do. Chúng ta sẽ khó thể có được cơ may như hôm nay để thay đổi viễn kiến tương lai. Obama đã đốt lửa trong lòng giới trẻ với lời kêu gọi phải có hy vọng đổi thay. Nhưng khi lần đầu tiên kết quả thăm dò dư luận cho thấy Obama đã vượt ngưỡng 50% ba ngày sau khi Quốc Hội thảo luận kế hoạch giải nguy Wall Street của Paulson, Obama mới nhận chân được mối nguy tìm cách làm ngơ quần chúng cử tri. Những điều kiện cứu nguy Wall Street do Obama đề nghị đã quá mềm mỏng nhẹ tay. Obama e ngại quẹt diêm bên ngòi nổ, và tin cần cẩn trọng mời Rubin, Summers và Volcker đến đứng bên cạnh mình. Đó là bản năng tự nhiên của Obama. Điều éo le là chính hành động mị dân của McCain đòi treo cổ vị chủ tịch Ủy Hội Chứng Khoán (SEC) đã đẩy Obama về phía tả. Khi bí lối, McCain sẵn sàng nói và làm bất cứ điều gì. McCain chọn Sarah Palin vào liên danh. Rất có thể giờ đây, ông ta sẽ đề nghị một New Deal kiểu FDR; và Obama buộc lòng phải nâng cao mức cược và bắt đầu lên tiếng như vị lãnh đạo có thể nắm bắt cơ hội do cuộc khủng hoảng tài chánh đem lại - một cơ hội trời cho rất đúng lúc.

Những Tháng Năm Trước Mặt

Hoa kỳ đang lâm vào một thời vận hiếm hoi và nguy hiểm. Trật tự cũ đã sụp đổ; các trung tâm quyền lực cầm quyền đã mất hết uy tín sau những biến động gần đây. Tổng Thống không còn thích ứng, "vịt què", và không còn được ai tin cậy, ngay cả bên trong đảng Cộng Hòa. Đảng Dân Chủ đa số kiểm soát cả hai viện Quốc Hội cũng chẳng làm được gì vì có nhiều bất cập. Bộ Trưởng Ngân Khố, qua phương cách đối phó trịch thượng trong vụ khủng hoảng tài chánh, không còn đáng tin cậy trong vai trò hoa tiêu quyền lợi công. Cục Dự Trữ Liên Bang và vị Chủ Tịch bảo thủ cũng không mấy khác. Quyền lực riêng tư của Wall Street cũng đã hoàn toàn thất sủng và vô vọng.

Tình trạng nguy hiểm nầy chắc chắn sẽ còn kéo dài không những đến lúc có Tổng Thống và Quốc Hội mới mà còn trong nhiều tháng năm trước mặt. Nói một cách ngắn gọn, cuộc khủng hoảng tài chánh hiện nay không phải chỉ mang tính thời vận (conjunctural) mà cả tính cơ cấu (structural). Trong thời gian chờ đợi, giới thượng lưu cầm quyền đang bám víu vào trật tự cũ, cố gắng cứu sống nó bằng cách tung những số tiền khổng lồ của dân chịu thuế để cứu trợ những định chế tài chánh thất bại. Người dân Hoa Kỳ đã hoàn toàn đúng khi xem giải pháp nầy như một hành động biển thủ mang tính lịch sử, lấy tiền của nạn nhân để tưởng thưởng phường biển lận. Họ tự hỏi: thay vì cứu trợ, tại sao chúng ta không kết tội ?

Truy tố và kết tội có thể đợi, cùng với các cải tổ căn bản. Điều cấp bách hiện giờ là cần dập tắt hỏa hoạn đang tàn phá hệ thống tài chánh, đe dọa người dân và các tích sản mang tính sản xuất trong nền kinh tế đích thực. Thức tỉnh và căm giận, công chúng, đã đổi thay, có thể giữ vai trò quyết định trong địa hạt chính trị, như khi Hạ Viện bác bỏ trọn gói giải nguy. Cú "sốc" đối với hệ thống tài chánh là phương cách trị liệu đáng giá. Người dân có thể thúc đẩy các chính trị gia bắt đầu đối diện với thực tế và khai triển một chiến lược mạnh mẽ hơn để phục hồi quốc gia, một cách tiếp cận phụng sự toàn bộ quốc gia và một cơ may thành công tốt hơn nhiều. Các cấp lãnh đạo càng sớm nhận thức được trật tự cũ đã quá vãng, người dân Hoa kỳ càng sớm có thể bắt đầu tái xây dựng một nền kinh tế có thể thượng tồn và công bình hơn.

Sự sụp đổ tai hại của các định chế tài chánh trong những tháng qua có nhiều nét tương đồng với những biến cố tiếp theo sau sự suy sụp của thị trường chứng khoán trong năm 1929, khi ba năm liên tiếp các đợt sóng thất bại của các ngân hàng và kinh tế thoái trào đã gây ra bao nhiêu đau khổ cho người dân. Chính quyền, dưới sự dẫn dắt của Cục Dự Trữ Liên Bang, đã sao lãng nhiệm vụ một cách lố bịch trong cuộc khủng hoảng. Lần nầy, Hoa Thịnh Đốn đã phản ứng ồ ạt hơn, nhưng vẫn chưa tìm được một chiến lược để ổn định tài chánh hay đảo ngược được cơn suy thoái đang diễn tiến.

Một sự sụp đổ hoàn toàn như đầu thập kỷ 1930s vẫn còn có thể tránh được nếu cấp lãnh đạo chính trị kịp thời đổi hướng. Ngày nay, ngừơi Mỹ còn có một số yếu tố thuận lợi. Trước hết, mực sống của họ cao và phong phú hơn, mặc dù nước Mỹ nợ nần các nước ngoài nhiều hơn. Thứ đến, chương trình New Deal đã để lại những cơ chế ổn định kinh tế tự động, như chương trình bảo hiểm ký thác liên bang nhằm ngăn ngừa nạn vội vả rút tiền khỏi ngân hàng như đã xẩy ra và gây sụp đổ trên 10.000 ngân hà thời đó.

Trước sự tê liệt chính trị hiện nay, người dân phải tự tìm lấy lối thoát. Bước đầu cần thiết là phải lương thiện - phải nhận chân rõ chúng ta đang phải đối phó với tai họa gì và có thể làm được gì - sau đó, phải áp đặt những nhận thức và quan niệm của mình lên lãnh đạo lưỡng đảng. Thảm kịch chua cay của kỷ nguyên chúng ta là những bài học xương máu trong những năm khủng hoảng New Deal trước đây đã bị gạt qua một bên - hoặc hủy bỏ hoặc phá hoại một cách có hệ thống - bởi các thế hệ lãnh đạo thượng lưu hiện nay. Những đảng viên Dân Chủ tự nhận là vô can đang ngụy tạo quá khứ. Vì lẽ thế hệ Dân Chủ vừa qua đã đồng lỏa với giới bảo thủ trong quá trình hủy hoại các luật lệ và nguyên tắc New Deal. Và thành viên Dân Chủ cũng chưa có một ý niệm rõ ràng bằng cách nào để phục hồi và cập nhật những bài học đã đánh mất để giải quyết tình trạng khó khăn hiện nay.

Để hiểu rõ tình hình, chúng ta phải bắt đầu với nhận chân cuộc khủng hoảng thực sự - vết thương lớn đối với quốc gia , một vết thương Bộ Trưởng Ngân khố Paulson và tay chân đã che mờ qua những lời lẽ báo động đại ngôn, cao ngạo, thiếu trung thực. Hoa kỳ đã thực sự trải nghiệm một mất mát tài sản khổng lồ - vốn tư bản trong hệ thống tài chánh cũng như số tiết kiệm trong đời sống kinh tế thực sự của mọi gia đình và giới lao động sản xuất. Với sự sụp đổ của cung cách lượng định dối gạt của Wall Street, tư bản tài chánh đã tan biến tựa không khí thoát ra từ một quả bóng xìu xẹp. Các ngân hàng đã lâm nguy vì đã mất đi lối 1.000 tỉ hay còn hơn thế nhiều. Vì vậy, kỹ nghệ ngân hàng sẽ co rút lại rất nhiều. Ngay bây giờ chúng ta đang chứng kiến cảnh tượng đổ máu - các doanh nghiệp phá sản và một số khác bị cưởng đoạt (forced mergers), hoặc được chính quyền tăng cường hoặc lọt vào tay kiểm soát của các nhà đầu tư tư nhân như Warren Buffett.

Hệ thống ngân hàng co rút một cách nhanh chóng. Điều nầy đưa đến mất tin tưởng và hoảng sợ trong giới đầu tư, trái chủ, và cổ đông, nhưng một hệ thống tài chánh nhỏ bé hơn rất có thể là một điều tốt cho xứ sở - tập trung vào mục đích chính của ngành ngân hàng, điều hướng đầu tư tư bản vào nền kinh tế. Trong những năm gần đây, các nhà tài chánh đã thu tóm những tài sản đầu cơ kếch sù qua việc buôn bán đủ loại chứng khoán phức tạp.

Giải pháp của Paulson là làm nhẹ gánh các ngân hàng khỏi các tích sản mất hết giá trị - nhất là các chứng khoán có bất động sản bảo đảm - và đổ vốn vào thay thế số đã mất. Paulson không giải thích rõ ràng điều nầy vì hiểu rõ ngay cả con số 700 tỉ cũng chẳng đủ để cứu nguy mọi ngân hàng. Vì vậy, quyền hạn lớn lao đặc biệt của Paulson đã đặt ông ta hay người kế nhiệm vào vị trí cứu tinh hay tử thần nắm quyền quyết định ngân hàng nào được sống, ngân hàng nào phải chịu chết. Tuy nhiên, ngay cả khi ông ta lựa chọn khôn ngoan, việc đó cũng không thể giải quyết vấn đề căn bản. Đằng nào, hệ thống tài chánh cũng sẽ co rút. Với kế hoạch Paulson, dân Mỹ rốt cuộc cũng phải gồng gánh mọi lỗi lầm tốn kém của hệ thống.

Phân nửa còn lại của tổng số tài sản mất mát lớn lao của quốc gia do người dân gánh chịu - phần lớn là những người làm công bình thường, vay mượn quá nhiều để duy trì mực sống đang bị chao đảo vì lợi tức lúc một sụt giảm. Với giá nhà tăng cao như bong bóng, người ta vay mượn dễ dàng từ tiết kiệm - số tiền tích lũy trong giá trị gia tăng của bất động sản. Khi giá nhà tuột dốc, theo ước tính của kinh tế gia Dean Baker, số tài sản mất mát lên đến từ 4 đến 5.000 tỉ. Ba thập kỷ trước đây, các chủ hộ Hoa kỳ nắm 70% giá trị căn hộ; ngày nay, con số nầy tụt xuống dưới mức 50%. Nhiều gia đình đã phải chi dụng hết số tiết kiệm để hồi hưu và phải tiếp tục làm việc.

Khi hệ thống tài chánh phải co rút, hàng triệu người cũng phải trải nghiệm một sự sụt giảm đau đớn trong mức sống. Không còn lựa chọn nào khác. Nhưng nếu người dân phải chấp nhận thực tế, họ có thể bắt đầu chú tâm đến những gì có thể và gây áp lực đòi hỏi chính quyền phài có biện pháp cứu chửa để giảm thiểu nổi đau và tránh tình trạng tồi tệ hơn. Hiện nay, mọi người đều lo sợ, chờ đợi.

Chỉ có chính quyền là đũ thế lực để hành động. Không một khu vực nào khác có đủ điều kiện để gầy vốn. Chỉ chính quyền có thể huy động hay vay mượn của người dân đang âu lo không dám chi tiêu, và của các định chế giữ tiền không dám cho vay, để bơm tiền vào các hoạt động kinh tế thực sự. Chính quyền mới có thể cho vay nhẹ lãi nếu hệ thống ngân hàng không dám làm việc đó. Chính quyền có thể xóa nợ hay nới lỏng điều kiện cho vay nếu việc đó đem lại công ăn việc làm cho dân chúng và giúp họ giữ được ngôi nhà đang ở. Chính quyền có thể chuyển tiền cho các tiểu bang và chính quyền địa phương và thúc đẩy những cấp nầy chi tiêu. Đó chỉ là lý thuyết Keynes sơ đẳng, một chủ thuyết đã được mang ra thực nghiệm trong thời New Deal đầu thập kỷ 1930s. Trong tình trạng hiện nay, chính quyền không còn đủ lý do để lo ngại khiếm hụt ngân sách. Người dân cần bắt đầu tiết kiệm trở lại, và giới doanh thương và ngân hàng sẽ không bắt đầu tái đầu tư vào nền kinh tế chừng nào chưa thấy chính quyền trực tiếp đứng ra dẫn lối.

Hoa Thịnh Đốn cần phải khẳng định tất cả các quyền hạn khẩn cấp của mình và giải quyết tức khắc hai vấn đề cùng lúc: quản lý/giám sát quá trình thu hẹp hệ thống tài chánh một cách bình tỉnh và trật tự, để đồng thời hổ trợ, duy trì diễn tiến cho vay và phục hồi sản xuất và công ăn việc làm qua các hành động tiếp sức đủ loại. Đây không thể là một chương trình tự nguyện mời mọc các ngân hàng tham gia theo điều kiện riêng. Chính quyền phải áp đặt quyền kiểm soát theo qui trình khẩn cấp buộc hệ thống tài chánh phải tuân thủ các mục đích chung của quốc gia. Ngân hàng nào không đồng thuận phải bị loại , và cô lập hóa khỏi sự trợ giúp giải nguy công.

Quốc gia đang ở trong quy trình thay đổi chính trị năng động và sẽ không ngừng lại với kế hoạch giải nguy dao to búa lớn của Paulson. Mặc dù kế hoạch của Paulson đã được quốc hội thông qua, Paulson có thể chuyển tiền cho Wall Street trong những tháng tới. Các lực lượng đối trọng nhằm tìm kiếm những giải pháp được người dân hậu thuẫn cần tiếp tục gấp rút hơn. Giới trí thức và năng động chính trị, các công dân cử tri, và những đại gia tài chánh nặng ký, ngay cả một số dân biểu, nghị sĩ đã và đang tham vấn, cân nhắc các chi tiết của giải pháp. Khi tái nhóm trong một "phiên họp vịt què", những biện pháp nầy đã được mang ra thảo luận trước quốc hội và trước công luận.

Cốt lỏi của những biện pháp nầy là vay mượn những ý niệm và mô hình thời New Deal, sau khi cập nhật, để phù hợp với trạng huống hiện nay. Đây không phải thuần túy hoài cổ, mà là một sự nhận chân sáng suốt quyền lợi chung phải được bảo vệ tối đa và cuộc khủng hoảng phải thực sự được đẩy lùi.

Một giải pháp thực sự tiến bộ đòi hỏi chính quyền phải trực tiếp tái đầu tư vào các ngân hàng thất bại, đánh thuế trên các chuyển nhượng chứng khoán nói riêng và khu vực dịch vụ tài chánh nói chung để lấy lại những tổn phí, và quan trọng hơn hết, một gói các biện pháp thuế vụ mang tính kích thích kinh tế nhằm trực tiếp giới lao động: cải cách thủ tục phá sản, thay đổi tín dụng giúp các gia đình có nhà ở bị đe dọa tịch biên, gia tăng trợ cấp thực phẩm, mở rộng bảo hiểm thất nghiệp,và đầu tư qui mô nhằm xây dựng "hạ tầng cơ sở xanh" để tạo công ăn việc.

Đã hẵn, phối hợp kế hoạch và chính sách đối phó với khủng hoảng toàn cầu với các nước ngoài, nhất là nhóm G-7 và Âu châu là một điều tất yếu, vì như mọi người đã biết: "Khi Hoa Kỳ hắt hơi, thế giới rất dễ bị cảm cúm".

Riêng trong phạm vi quốc nội, những đề nghị phục hồi và tái thiết được đem ra tranh luận gần đây xoay quanh một số ý niệm chính sau đây:

(1) Chận đứng biện pháp giải nguy dễ dàng (easy-money bailout). Thay vì mua các tích sản mất hết giá trị của Wall Street một cách vô điều kiện, chính quyền phải khám xét sổ sách kế toán và quyết định ngân hàng nào có thể giải nguy và quốc hữu hóa qua việc bơm tiền đầu tư đổi lấy quyền sở hữu - theo công thức Warren Buffett khi trợ giúp Goldman Sachs (cổ phiếu ưu đải và cổ tức được bảo đảm). Những định chế thất bại cần được khai tử. Cách tiếp cận nầy cho phép chính quyền trực tiếp kiểm soát những định chế sống sót và bảo đảm quyền lợi của đại chúng. Một mô hình tương tự Công Ty Tài Chánh Tái Xây Dựng của thập kỷ 1930s có thể giúp tái gầy vốn tư bản cho ngân hàng và công ty với sự giám sát chặt chẻ.

(2) Trực tiếp giúp những nạn nhân bị thương tổn. Một công ty chuyên về quyền sở hữu nhà ở theo kiểu New Deal, được trang bị đủ vốn và quyền hạn mềm dẻo để giám sát, điều chỉnh các điều khoản vay nợ giúp hàng triệu gia đình không đủ khả năng trả hàng tháng. Đây là việc các ngân hàng thường làm với các công ty con nợ gặp khó khăn. Chính quyền có thể hành động tương tự đối với các gia đình mang nợ: chận đứng các vụ thanh lý , kéo dài thời hạn trước khi tịch thu nhà ở, và sửa đổi các điều ước khắt khe liên quan đến quá trình hoàn trái. Đây không phải là việc làm hoàn toàn từ thiện - giúp các gia đình giữ được nhà ở là một động tác kích thích nền kinh tế , và chận đứng nạn băng hoại trong các khu lao động.

(3) Biện pháp thực sự kích thích kinh tế. Chúng ta cần hàng trăm tỉ để hoàn thành nhiều mục tiêu ưu tiên bị quên lảng - sửa chửa cầu cống, trường học, cũng như để khởi động nghị trình xanh như nhiên liệu thay thế, phục hồi các hệ sinh thái và môi sinh. Chính quyền cần trợ cấp các kỹ nghệ mới đương đại, tương tự chương trình New Deal đã tài trợ phát triển các loại phi cơ hiện đại, kỹ nghệ hóa dầu, sắt thép và các kỹ nghệ then chốt khác trong thập kỷ 1930s.

(4) Tái quy định các ngành bị lạm dụng và truy tố các phạm nhân. Bắt đầu với sự phục hồi luật chống cho vay nặng lãi - những lề lối cho vay cắt cổ gây đổ vỡ cho những con nợ yếu kém không được bảo vệ. Chính quyền cần ban hành những biện pháp kiểm soát mới đối với các nhà tài chánh và các nghĩa vụ công rõ ràng áp đặt không những lên các ngân hàng mà cả các quỹ đầu cơ (hedge funds), và các xí nghiệp tiết kiệm lũy tích (private equity firms). Đây không thể là những quy luật tùy thích. Nếu không chấp nhận luật chơi, các tay chơi phải đóng cửa tiệm. Các đồng nghiệp của Paulson ở Wall Street đã huy động các tay vận động hành lang sẵn sàng lâm chiến, nhưng có thể họ sẽ vấp phải một Hoa Thịnh Đốn đã đổi thay vì thời cuộc. Sự khuất phục dễ dàng trước các đại gia, các công ty khổng lồ, hình như đã bất thần trở nên lỗi thời.

(5) Cần một đội ngũ lèo lái kinh tế mới. Cuộc khủng hoảng và quá trình lấy quyết định ngập ngừng bởi Bộ Ngân Khố và Cục Dự Trữ Liên Bang - chưa kể đến sự bí mật và mặc cả hậu trường giúp các tổ chức tài chánh - cho thấy rõ những cải cách sâu xa rất khẩn thiết. Chính quyền có lẽ cần thiết lập một cơ quan phục hồi và tái thiết đặc biệt, được quyền làm chính sách và giám sát các kiểm soát viên ngân hàng và các biện pháp kích thích kinh tế. Tính cách gọi là độc lập của Cục Dự Trữ Liên Bang là một nhượng bộ xa xưa cho các ngân hàng lớn và chẳng mấy hợp lý. Chính sách tiền tệ và chính sách thuế khóa phải luôn cân đối và phải được quyết định trong cùng một quá trình. Cách tiếp cận duy lý nầy có thể chận đứng Cục Dự Trữ Liên Bang khỏi những thiên kiến và chểnh mảng đã đưa đến cuộc khủng hoảng hiện nay.

Những ý tưởng trên đây và nhiều ý kiến khác đang trong thời kỳ thai nghén. Chúng chỉ chín mùi khi các chính trị gia và các nhà lãnh đạo nuốt đi những "cái tôi bị thương tổn" và suy nghĩ lại vị thế bất động của chính mình , tay trong tay với Wall Street. Điều nầy xem chừng khó xẩy ra trong lúc nầy. Nhưng cử tri năng động và dấn thân tích cực hơn có thể giúp họ thay đổi quan điểm. Và nếu chúng ta may mắn, những đề xuất nói trên sẽ giúp định hình viễn kiến của ứng viên Tổng Thống nào đắc cử vào tháng 11 tới.