NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Một cái nhìn thẳng thắn về Đại học và Nghiên cứu ở Việt Nam của một nhà Vật lý nước ngoài

Gần đây, Ban biên tập tạp chí Vật Lý Ngày Nay kêu gọi đóng góp bài viết từ các nhà khoa học nước ngoài nhận định về giáo dục đại học và nghiên cứu ở Việt Nam. Bài báo này đáp ứng lại lời kêu gọi đó. Dựa vào kinh nghiệm lâu năm là một nhà vật lý tại châu Âu và Hoa Kỳ, làm việc trong lĩnh vực vật lý hạt nhân, vật lý hạt, vật lý chất rắn, đồng thời dựa vào kinh nghiệm sáu năm là giảng viên của một số trường đại học Việt Nam và là một nhà nghiên cứu tại một phòng thí nghiệm vật lý tia vũ trụ tại Hà Nội. Những quan điểm thẳng thắn ở đây hoàn toàn là quan điểm cá nhân, những cách nhìn nhận này có thể là thiển cận. Tuy nhiên, nếu được xem xét một cách nghiêm túc thì chúng vẫn có thể có ích cho một số người quan tâm.

Nói một cách ngắn gọn, tôi cho rằng, Việt Nam xứng đáng có các trường đại học và các phòng thí nghiệm chất lượng cao. Tuy nhiên, nó chưa có được điều đó. Sự phát triển nhanh chóng gần đây đòi hỏi phải cải thiện công tác đào tạo đại học và nghiên cứu để bắt kịp với sự chậm chễ mà 30 năm chiến tranh đã gây ra. Điều này đã được đề cập trong nhiều diễn đàn khác nhau và theo tôi điều đó không có gì phải bàn cãi. Trong bài báo này, tôi tập trung vào các hành động và công việc nên thực hiện để cải thiện chất lượng đào tạo đại học và nghiên cứu ở Việt Nam. Xin nhắc lại, đây là các ý kiến cá nhân, chúng cũng có thể là sai.

1. Sự cần thiết phải có đường lối chỉ đạo chung

Bình luận đầu tiên liên quan đến các câu hỏi rất cơ bản yêu cầu câu trả lời từ đó xác định một khung chung để các trường đại học và nghiên cứu ở Việt Nam có thể dựa vào đó mà phát triển. Đó là Tại sao Việt Nam cần đại học? và Tại sao Việt Nam cần nghiên cứu? Đây không phải là những câu hỏi tầm thường; câu trả lời của chúng khác nhau từ nước này đến nước khác và trong cùng một đất nước câu trả lời cũng khác nhau tại các thời điểm khác nhau trong lịch sử. Chỉ khi những câu hỏi này được trả lời thì người ta mới hy vọng trả lời được các câu hỏi liên quan: Việt Nam cần loại đại học nào? và Việt Nam cần nghiên cứu gì? Những câu trả lời đó phản ánh kiểu xã hội mà đất nước đó muốn có, chúng là các lựa chọn chính mà chính phủ chọn thay cho nhân dân; không cần phải nói, tôi hoàn toàn không thể đưa ra, thậm chí gợi ý, câu trả lời có thể cho các câu hỏi trên. Tôi chỉ đơn giản nhấn mạnh rằng Việt Nam không nên copy một cách mù quáng những cách các nước khác đã và đang làm. Tốt hơn là tìm những câu trả lời rõ ràng, phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, phổ biến chúng, sử dụng chúng như là một khung chung để từ đó xác định đường lối chỉ đạo và đi lên.

Một vài ví dụ minh hoạ cho quan điểm của tôi

Cách đây năm mươi năm, các nước phương tây quyết định dân chủ hoá các trường đại học, có nghĩa là mở các trường đại học tới một số lượng lớn hơn nhiều sinh viên so với trước đó. Nhìn chung, đó là một ý tưởng tuyệt vời, và tôi cho rằng đó là một thành công. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách kỹ hơn có rất nhiều thất bại đã xảy ra do đó cần nhìn lại ý tưởng ban đầu. Rất nhiều sinh viên vào đại học trong đó có những người hoặc là không thể theo hết khoá học hoặc bất đắc dĩ phải cố gắng học. Do đó người ta phải tạo ra các khoá học ngắn hơn, một hoặc hai năm, để hướng họ tới các trường học nghề khi còn chưa muộn (điều này nói lên rằng không thể nghĩ đại học một cách cô lập mà phải đặt nó trong một hoàn cảnh lớn hơn, một hình thức giáo dục cao). Những sinh viên kém không thể ra trường phải đối mặt với những vấn đề lớn là tìm kiếm công việc sau khi “mất” một vài năm tại đại học. Những câu hỏi đặt ra ở đây là sự lựa chọn rất cơ bản của xã hội. Ví dụ như dân chủ hay công bằng (mọi người đều có quyền học nhưng những sinh viên giỏi cũng phải có quyền tiến bộ với tốc độ nhanh hơn và không bị chậm trễ bởi các sinh viên kém). Từ kinh nghiệm ở Việt Nam của tôi, dường như trong vấn đề này còn có rất nhiều việc phải làm. Rất rất nhiều sinh viên không đủ trình độ hoàn thành bậc học đại học nhưng vẫn tiếp tục theo đuổi đến tận năm cuối cùng của bậc học này; họ không những làm giảm giá trị của bằng tốt nghiệp mà còn cản trở những sinh viên khá tiếp tục được đào tạo ở mức độ cao hơn mà họ xứng đáng được hưởng. Các lớp cử nhân khoa học tài năng không giải quyết được vấn đề này, sự lựa chọn sinh viên thực hiện ở các lớp này là quá sớm. Theo tôi nên xem xét một cách nghiêm túc việc thay đổi hệ thống lớp học hiện nay, đó là một hệ thống quá cứng nhắc khó thay đổi nếu không muốn nói là không thể. Nên xem xét thay thế hệ thống hiện nay bằng hệ thống đang được sử dụng ở hầu hết các trường đại học trên thế giới, một hệ thống mà sinh viên có thể chọn, theo một vài quy tắc chung, phụ thuộc vào kỹ năng và tham vọng của họ, môn học nào và khoá học nào mà họ muốn theo và theo bao lâu. Hệ thống này linh động hơn tạo ra các khoá học ngắn cho những sinh viên không đủ khả năng hoàn thành tất cả các môn học của đại học. Đồng thời, nó cũng tạo cơ hội để đưa vào giảng dạy các môn học mới, ví dụ như vật lý thiên văn, môn học gần đây chưa được dạy tại các trường đại học ở Việt Nam. Nên có khả năng dừng việc học của các sinh viên tại các mức độ khác nhau tương ứng với các bằng khác nhau phù hợp với đòi hỏi của đất nước.

Ví dụ thứ hai:

Gần đây chúng ta có nghe nhiều tranh luận về nhu cầu thành lập các trường đại học tư. Dĩ nhiên, đây là một câu hỏi lớn, xác định Nhà nước phải đầu tư bao nhiêu phần và sinh viên sẽ chịu bao nhiêu phần chi phí đào tạo. Câu hỏi chính này một lần nữa là sự lựa chọn của xã hội; câu trả lời của chúng phải xuất phát từ những người lãnh đạo Nhà nước. Không nên nghĩ rằng Harvard là một đại học tốt vì nó là một đại học tư và tất cả các đại học tư đều tốt và tất cả các đại học công đều tồi (thậm chí, đôi khi tôi được nghe các lập luận này dưới những dạng kém hài hước hơn một chút).

Ví dụ thứ ba : Vai trò của nghiên cứu trong các trường đại học. Ở các nước phát triển nhất, các đại học không tiến hành nghiên cứu là các đại học kém chất lượng. Việt Nam nên có một chính sách rõ ràng cho vấn đề này. Nên có các viện thực hiện nghiên cứu và cần phải xác định một cách rõ ràng mối quan hệ giữa các viện này và các trường đại học (theo tôi, cần phải giúp đỡ và khuyến khích một cách mạnh mẽ mối quan hệ này). Ở Pháp, sự bình thường hóa quan hệ giữa các trường đại học và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia (CNRS, Centre National de la Recherche Scientifique) là một vấn đề lớn trong nhiều năm (ngày nay nó vẫn tồn tại trong một phạm vi nào đó). Ở Việt Nam, cũng tồn tại vấn đề tương tự. Bộ Giáo dục - Đào tạo và Bộ khoa học công nghệ, tôi không đề cập tới các đơn vị khác, cần hợp tác một cách chặt chẽ để xác định hoàn cảnh và xác định rõ vai trò của các trường đại học và các viện nghiên cứu.

Ví dụ cuối cùng :

Nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Rõ ràng trong giai đoạn phát triển nhanh hiện nay, Việt Nam cần dành ưu tiên cho nghiên cứu ứng dụng, tuy nhiên hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, ít nhất tôi hy vọng như thế, phải dành không gian cho nghiên cứu cơ bản. Kinh nghiệm cho thấy không có nghiên cứu ứng dụng tốt nếu thiếu nghiên cứu cơ bản chất lượng cao. Tiêu chí lựa chọn chủ đề cho nghiên cứu cơ bản là không khó. Tuy nhiên, cần có đường lối chính sách khoa học để xác định phương hướng ủng hộ nghiên cứu cơ bản. Một lần nữa những quyết định này chỉ có thể thực hiện ở cấp Chính phủ.

Tôi không nghi ngờ câu trả lời cho những câu hỏi trên đã có trong phạm vi Chính phủ, nhưng nó dường như chưa được phổ biến tới các cấp thấp hơn những cấp mà tôi có cơ hội trao đổi, với đồng nghiệp và với các sinh viên. Làm rõ những câu trả lời này và phổ biến làm sao cho mọi người có thể được thông tin một cách đầy đủ nội dung của chúng là rất quan trọng cho sự phát triển.

2. Điều gì cần phải được ưu tiên thực hiện?

Nếu được hỏi hãy chỉ ra một hành động cần được tiến hành để cải thiện chất lượng đào tạo đại học và nghiên cứu ở Việt Nam, không do dự một giây: Tôi có thể nói rằng lương của các giảng viên và các nghiên cứu viên cần phải tăng lên. Lương hiện tại của họ thường chỉ bằng một phần tư số họ cần để trang trải cho cuộc sống. Hệ quả là họ phải tìm một công việc thứ hai, chiếm nhiều thời gian và công sức của họ và làm giảm một cách nặng nề chất lượng giảng dạy và nghiên cứu. Hơn nữa, với mức lương thấp như vậy (so với phần còn lại của xã hội) không đem lại cho họ phẩm chất mà người ta nghĩ họ xứng đáng có được trong một đất nước giàu truyền thống lịch sử văn hoá và nền giáo dục với sự kính trọng cao. Nhiều người thấy khó khăn trong những điều kiện như vậy để tiếp tục giữ động lực cải thiện chất lượng giảng dạy và nghiên cứu. Những hệ quả của mức lương thấp như vậy là cực kỳ nguy hiểm ở nhiều khía cạnh. Nó tạo ra những thói quen xấu, thậm chí có thể dẫn đến tham ô. Đại học không nên chỉ mang lại sự đào tạo tốt mà còn phải là những tấm gương sáng về đạo đức cho sinh viên; các sinh viên phải được đào tạo không chỉ tính nghiêm túc mà còn liêm khiết và công bằng; các nội dung đạo đức này là rất quan trọng.

Tôi không ngây thơ mà nghĩ rằng thực hiện những công việc này là dễ. Tôi nhận thức rõ rằng, nó đòi hỏi thời gian và công sức để xây dựng lại nguồn nhân lực với một lựa chọn giảng viên, nghiên cứu viên và các dự án nghiên cứu khắt khe hơn nhiều so với hiện nay. Để thực hiện được điều này là rất khó khăn và tốn kém. Một lần nữa, chính sách chung từ các cấp lãnh đạo là rất quan trọng. Có trả lương như nhau cho hai giảng viên, một người không làm công tác nghiên cứu mà chỉ đơn thuần đọc giáo trình và một người làm công tác nghiên cứu và viết giáo trình cho các bài giảng của họ? Đánh giá số lượng và chất lượng các công trình công bố của họ như thế nào? Ở đây một lần nữa, có những câu hỏi cần có câu trả lời, ít nhất theo nghĩa rộng, ở cấp lãnh đạo. Một số lựa chọn là cần thiết nếu người ta mong muốn có công bằng. Hệ quả của nó sẽ tạo động lực và quyết tâm đem lại chất lượng cao cho giáo dục và nghiên cứu mà đất nước xứng đáng có được.

3. Tự tin hơn vào Việt Nam và mở hơn ra thế giới

Một khó khăn lớn mà Việt Nam nói chung và các trường đại học và nghiên cứu nói riêng cần phải vượt qua là sự chảy máu chất xám thảm khốc mà đất nước đã phải chịu nhiều năm nay. Việt Nam nhận được nhiều sự giúp đỡ và ủng hộ từ nước ngoài dưới dạng các học bổng, tạo điều kiện cho sinh viên có thể ra nước ngoài học tập và nghiên cứu. Nhưng chỉ Việt Nam mới có thể đảm bảo rằng những sinh viên giỏi trong số các sinh viên này sẽ trở về Việt Nam; điều này là cần thiết cho nguồn nhân lực mà đất nước đã đầu tư không bị phí. Chỉ Việt Nam mới có thể tạo cho các sinh viên này một tương lai, thúc đẩy họ trở về đất nước của mình. Đôi lúc đại học Việt Nam dường như thiếu sự tin tưởng vào thế hệ trẻ và không sẵn sàng trao cho họ trách nhiệm mà họ có thể đảm nhiệm được. Trong lịch sử, cách mạng và chiến tranh đã đem lại cơ hội cho những người Việt Nam trẻ tuổi, thông minh đảm trách những trọng trách quan trọng của đất nước, và chúng ta đã thấy họ thành công như thế nào. Tại sao bây giờ chúng ta lại không tin tưởng vào những sinh viên thông minh và có khả năng để xây dựng một đất nước hiện đại và hoà bình? Đây là một câu hỏi làm tôi rất trăn trở bởi vì tôi thường sợ rằng những cố gắng mà tôi bỏ ra đào tạo sinh viên của mình thành các nhà khoa học sẽ bị bỏ phí nếu đất nước không thể giữ họ; Tôi biết mong muốn thúc đẩy sự phát triển đất nước của họ nhiều như thế nào. Tôi cho đó là một sự thất bại nếu đất nước để cho họ ra đi. Nhưng chảy máu chất xám sẽ không dừng trừ khi đất nước cho thấy sự quyết tâm ngăn chặn điều đó, đồng nghĩa với việc tạo tương lai cho các sinh viên giỏi.

Sự thiếu tự tin vào khả năng và kỹ năng của thế hệ trẻ Việt Nam ngược với sự tự hào quá đáng khi cần những lời khuyên từ nước ngoài hoặc các chuyên gia nước ngoài về lựa chọn chính sách khoa học, lựa chọn dự án nghiên cứu và thậm chí đội ngũ nghiên cứu. Ở nước ngoài trong hội đồng xét tuyển gồm các chuyên gia nước ngoài là một điều bình thường, đó là một thực tế tạo ra sự công bằng trong đánh giá đồng thời mở ra thế giới, tạo ra sự liên kết với các trường đại học và các viện nghiên cứu trên thế giới. Theo tôi thực tế này cần được khuyến khích ở Việt Nam cũng như khuyến khích mọi sáng kiến tạo ra sự liên hệ với thế giới bên ngoài. Một ví dụ là sự phát triển đào tạo nghiên cứu sinh dưới sự đồng hướng dẫn của hai giáo sư, một từ đại học ngoài nước và một từ Việt Nam. Luận văn được viết và trình bày bằng một trong hai thứ tiếng, hoặc là tiếng Anh, bản tóm tắt viết bằng hai thứ tiếng. Sinh viên nhận bằng tiến sỹ từ hai trường. Khả năng này là một cơ hội cho Việt Nam mở ra với các đại học uy tín trên thế giới và chúng ta nên nghĩ rằng phương thức hợp tác này cần được khuyến khích và hết sức ủng hộ. Tuy nhiên, với kinh nghiệm bản thân tôi cho thấy sự hợp tác với các trường đại học nước ngoài lại dễ hơn so với các đại học ở Việt Nam. Hợp tác với các nhóm nghiên cứu nước ngoài không nên chỉ nhìn dưới góc độ là một phương thức nhận tiền mà nên nhìn với góc độ xa hơn là một cách đưa nghiên cứu của Việt Nam ra với thế giới và cải thiện chất lượng của nó.

Đến đây tôi đã có thể kết luận. Tôi đã chọn ba chủ đề mà theo tôi là đặc biệt quan trọng và tôi cũng đã trình bày rất thẳng thắn những phản ứng mà những vấn đề này gợi nên trong suy nghĩ của tôi. Tôi nhận thức rõ rằng còn nhiều khó khăn làm cho những vấn đề này không đơn giản như tôi nghĩ: Tôi xin lỗi cho sự quá đơn giản trong việc giải quyết các vấn đề này. Tuy nhiên, tôi hy vọng không bị trách vì những điều mình vừa nói, tôi không có ý gì khác ngoài mong muốn giúp cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo nói chung và khoa học Việt Nam nói riêng. Tôi đã gặp nhiều người được biết trong nước và đọc nhiều bài báo phân tích sâu sắc về các vấn đề này, họ bắt đầu phê phán nặng nề hệ thống đại học và nghiên cứu hiện nay của Việt Nam. Thậm chí nhiều người nói rằng, không còn hy vọng cải thiện hệ thống hiện nay: Họ cho rằng phải có cái gì đó mới bắt đầu từ một mớ hỗn độn. Họ biết họ nói gì và người ta sợ rằng họ đúng. Chúng ta chỉ có thể hy vọng họ sai nhưng, để cho những suy nghĩ đó chỉ đơn giản là mộng tưởng, các trường đại học nên có các phong trào mạnh mẽ tạo nên sự thay đổi và tạo ra sự quyết tâm để cải thiện một cách đáng kể chất lượng đào tạo và nghiên cứu của mình.

Đại học và nghiên cứu ở Việt Nam cần gì ?

Với kinh nghiệm lâu năm làm việc trong lĩnh vực vật lý hạt nhân, vật lý hạt, vật lý chất rắn tại châu Âu và Hoa Kỳ đồng thời dựa vào kinh nghiệm sáu năm là giảng viên của một số trường đại học Việt Nam và là một nhà nghiên cứu tại một phòng thí nghiệm vật lý tia vũ trụ tại Hà Nội, GS.Pierre Darriulat, một trong số những nhà vật lý hàng đầu của thế giới, người bạn thân thiết của Việt Nam, trong cuộc phỏng vấn của TS đã lý giải nguyên nhân vì sao cho đến nay Việt Nam chưa có các trường đại học và các viện nghiên cứu chất lượng cao mà đáng ra Việt Nam xứng đáng đã có; đồng thời kiến nghị các giải pháp và công việc nên tập trung thực hiện để cải thiện chất lượng đào tạo đại học và nghiên cứu ở Việt Nam.

Theo GS, trong giai đoạn phát triển hiện nay, Việt Nam cần loại đại học và cơ cở nghiên cứu nào?

Theo tôi, để trả lời cho câu hỏi rất cơ bản có tính chất khung cho sự phát triển của đại học và nghiên cứu này trước hết cần lý giải thấu đáo câu hỏi: Tại sao Việt Nam cần đại học? và Tại sao Việt Nam cần nghiên cứu? Câu trả lời của chúng khác nhau từ nước này đến nước khác, và trong cùng một đất nước câu trả lời cũng khác nhau tại các thời điểm khác nhau trong lịch sử. Chỉ khi những câu hỏi này được trả lời thì người ta mới hy vọng trả lời được các câu hỏi Việt Nam cần loại đại học nào? và Việt Nam cần nghiên cứu gì? Những câu trả lời đó phản ánh một hình thái kinh tế - xã hội mà đất nước muốn có ; là chiến lược phát triển của đất nước mà chính phủ thay mặt nhân dân lựa chọn. Tôi hoàn toàn không thể đưa ra, thậm chí gợi ý, câu trả lời có thể cho các câu hỏi trên. Tôi chỉ đơn giản nhấn mạnh rằng Việt Nam không nên copy một cách mù quáng những hình mẫu và cách các nước khác đã, đang làm và quá coi trọng lời khuyên của các chuyên gia nước ngoài. Tốt hơn cả là tìm những câu trả lời rõ ràng, phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, phổ biến, sử dụng chúng như là một khung chung để từ đó xác định đường lối chỉ đạo và đi lên.

GS có thể đưa ra một vài ví dụ minh họa cho quan điểm của GS ?

Cách đây năm mươi năm, các nước phương Tây quyết định đại chúng hóa các trường đại học, có nghĩa là mở các trường đại học tới một số lượng lớn hơn nhiều sinh viên so với trước đó. Nhìn chung, đó là một ý tưởng tuyệt vời, là một thành công. Tuy nhiên, cũng có một số thất bại buộc ta cần nhìn lại ý tưởng đó. Rất nhiều sinh viên vào đại học trong đó có những người hoặc là không thể theo hết khóa học do đó người ta phải tạo ra các khóa học ngắn hơn, một hoặc hai năm, để hướng họ tới các trường học nghề khi còn chưa muộn, hoặc bất đắc dĩ phải cố gắng học những khi ra trường phải đối mặt với những vấn đề lớn là tìm kiếm công việc sau khi “mất” một vài năm tại đại học. Có thể nói cùng với việc bảo đảm dân chủ và công bằng trong giáo dục đại học cần phải làm sao để mọi người đều có quyền học nhưng những sinh viên giỏi cũng phải có quyền tiến bộ với tốc độ nhanh hơn và không bị chậm trễ bởi các sinh viên kém.

Thực tế là ở Việt Nam, rất nhiều sinh viên không đủ trình độ hoàn thành bậc học đại học nhưng vẫn tiếp tục theo đuổi đến tận năm cuối cùng của bậc học này; họ không những làm giảm giá trị của bằng tốt nghiệp mà còn cản trở những sinh viên khá tiếp tục được đào tạo ở mức độ cao hơn mà họ xứng đáng được hưởng. Các lớp cử nhân khoa học tài năng không giải quyết được vấn đề này, sự lựa chọn sinh viên thực hiện ở các lớp này là quá sớm. Theo tôi nên xem xét một cách nghiêm túc việc thay đổi hệ thống lớp học hiện nay, đó là một hệ thống quá cứng nhắc khó thay đổi nếu không muốn nói là không thể. Nên xem xét thay thế hệ thống hiện nay bằng hệ thống đang được sử dụng ở hầu hết các trường đại học trên thế giới, một hệ thống mà sinh viên có thể chọn, theo một vài quy tắc chung phụ thuộc vào kỹ năng và tham vọng của họ, môn học nào và khóa học nào mà họ muốn theo và theo bao lâu. Hệ thống này linh động hơn tạo ra các khoá học ngắn cho những sinh viên không đủ khả năng hoàn thành tất cả các môn học của đại học. Đồng thời, nó cũng tạo cơ hội để đưa vào giảng dạy các môn học mới, ví dụ như vật lý thiên văn, môn học gần đây chưa được dạy tại các trường đại học ở Việt Nam. Nên có khả năng dừng việc học của các sinh viên tại các mức độ khác nhau tương ứng với các bằng khác nhau phù hợp với đòi hỏi của đất nước.

Ví dụ khác là: Vai trò của nghiên cứu trong các trường đại học. Ở các nước phát triển nhất, các đại học không tiến hành nghiên cứu là các đại học kém chất lượng. Do vậy ở Việt Nam, Bộ giáo dục và Đào tạo và Bộ khoa học và Công nghệ, tôi không đề cập tới các đơn vị khác, cần hợp tác một cách chặt chẽ để xác định rõ vai trò và mối quan hệ giữa các trường đại học và các viện nghiên cứu (theo tôi, cần phải giúp đỡ và khuyến khích một cách mạnh mẽ mối quan hệ này). Ở Pháp, sự bình thường hóa quan hệ giữa các trường đại học và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia (CNRS, Centre national de la recherche scientifique) là một vấn đề lớn luôn được quan tâm trong nhiều năm.

Một trong những giải pháp phát triển đại học và nghiên cứu ở Việt Nam mà GS Hoàng Tụy nhiều lần kiến nghị là phải tăng lương cho cán bộ giảng dạy và khoa học. GS có đồng tình với quan điểm của GS Hoàng Tụy?

Tôi có thể trả lời không do dự một giây: Tôi hoàn toàn đồng quan điểm với GS Hoàng Tụy. Lương hiện tại của họ thường chỉ bằng một phần tư số họ cần để trang trải cho cuộc sống. Hệ quả là họ phải tìm một công việc thứ hai, chiếm nhiều thời gian và công sức của họ và làm giảm một cách nặng nề chất lượng giảng dạy và nghiên cứu. Hơn nữa, với mức lương thấp như vậy (so với phần còn lại của xã hội) nhiều người cảm thấy bị ngược đãi, đắng cay đồng thời không đem lại cho họ sự kính trọng cao mà họ xứng đáng có được trong một đất nước giàu truyền thống lịch sử văn hóa. Hệ quả của mức lương thấp như vậy là cực kỳ nguy hiểm ở nhiều khía cạnh. Nó triệt tiêu động lực cải thiện chất lượng giảng dạy và nghiên cứu, tạo ra những thói quen xấu, thậm chí có thể dẫn đến tham ô. Đại học không nên chỉ mang lại sự đào tạo tốt mà còn phải là những tấm gương sáng về đạo đức cho sinh viên; các sinh viên phải được đào tạo không chỉ tính nghiêm túc mà còn liêm khiết và công bằng; các nội dung đạo đức này là rất quan trọng.

Tôi không ngây thơ mà nghĩ rằng thực hiện những công việc này là dễ. Tôi nhận thức rõ rằng, nó đòi hỏi thời gian và công sức để xây dựng lại nguồn nhân lực với một lựa chọn giảng viên, nghiên cứu viên và các dự án nghiên cứu khắt khe hơn nhiều so với hiện nay. Và ở đây một lần nữa, có những câu hỏi cần có câu trả lời, ít nhất theo nghĩa rộng, ở cấp lãnh đạo. Có trả lương như nhau cho hai giảng viên, một người không làm công tác nghiên cứu mà chỉ đơn thuần đọc giáo trình và một người làm công tác nghiên cứu và viết giáo trình cho các bài giảng của họ? Đánh giá số lượng và chất lượng các công trình công bố của họ như thế nào?

Hệ quả của giải pháp tăng lương sẽ tạo động lực và quyết tâm đem lại chất lượng cao cho giáo dục và nghiên cứu mà đất nước xứng đáng có được.

Lãnh đạo nhiều viện nghiên cứu than phiền họ không giữ được người tài. Còn GS Ngô Việt Trung, Viện trưởng Viện Toán lo lắng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa của toán học Việt Nam vì ngay ông cũng ít có học trò giỏi để dạy. Theo GS khắc phục thực trạng này bằng cách nào?

Tôi cũng có thể trả lời ngay là: Việt Nam cần tự tin hơn vào thế hệ trẻ và mở hơn ra thế giới.

Một khó khăn lớn mà Việt Nam nói chung và các trường đại học và nghiên cứu nói riêng cần phải vượt qua là sự chảy máu chất xám ngày càng gia tăng mà đất nước đã phải chịu nhiều năm nay. Việt Nam nhận được nhiều sự giúp đỡ và ủng hộ từ nước ngoài dưới dạng các học bổng, tạo điều kiện cho sinh viên có thể ra nước ngoài học tập và nghiên cứu. Nhưng chỉ Việt Nam mới có thể đảm bảo rằng những sinh viên giỏi trong số các sinh viên này sẽ trở về Việt Nam; điều này là cần thiết cho nguồn nhân lực mà đất nước đã đầu tư không bị phí. Chỉ Việt Nam mới có thể tạo cho các sinh viên này một tương lai, thúc đẩy họ trở về đất nước của mình. Đôi lúc đại học Việt Nam dường như thiếu sự tin tưởng vào thế hệ trẻ và không sẵn sàng trao cho họ trách nhiệm mà họ có thể đảm nhiệm được. Trong lịch sử, cách mạng và chiến tranh đã đem lại cơ hội cho những người Việt Nam trẻ tuổi, thông minh đảm trách những trọng trách quan trọng của đất nước, và chúng ta đã thấy họ thành công như thế nào. Tại sao bây giờ chúng ta lại không tin tưởng vào những sinh viên thông minh và có khả năng để xây dựng một đất nước hiện đại và hòa bình? Đây là một câu hỏi làm tôi rất trăn trở bởi vì tôi thường sợ rằng những cố gắng mà tôi bỏ ra đào tạo sinh viên của mình thành các nhà khoa học sẽ bị bỏ phí nếu đất nước không thể giữ họ; Tôi biết mong muốn thúc đẩy sự phát triển đất nước của họ nhiều như thế nào. Tôi cho đó là một sự thất bại nếu đất nước để cho họ ra đi. Chảy máu chất xám sẽ chỉ dừng lại khi chính phủ có quyết tâm ngăn chặn cùng với việc tạo tương lai cho sinh viên giỏi, các nhà nghiên cứu trẻ tài năng.

Thật đáng tiếc, bên cạnh sự thiếu tự tin vào khả năng và kỹ năng của thế hệ trẻ Việt Nam lại là việc thiếu lắng nghe một cách nghiêm túc những lời khuyên từ các chuyên gia nước ngoài về lựa chọn chính sách khoa học, lựa chọn dự án nghiên cứu và thậm chí đội ngũ nghiên cứu. Ở nước ngoài trong hội đồng xét tuyển gồm các chuyên gia nước ngoài là một điều bình thường, đó là một thực tế tạo ra sự công bằng trong đánh giá đồng thời mở ra thế giới, tạo ra sự liên kết với các trường đại học và các viện nghiên cứu trên thế giới. Theo tôi thực tế này cần được khuyến khích ở Việt Nam cũng như khuyến khích mọi sáng kiến tạo ra sự liên hệ với thế giới bên ngoài. Chẳng hạn việc phát triển đào tạo nghiên cứu sinh có thể được thực hiện dưới sự đồng hướng dẫn của hai giáo sư, một từ đại học ngoài nước và một từ Việt Nam; luận văn được viết và trình bày bằng một trong hai thứ tiếng, hoặc là tiếng Anh, bản tóm tắt viết bằng hai thứ tiếng. Sinh viên nhận bằng tiến sỹ từ hai trường. Khả năng này là một cơ hội cho Việt Nam mở ra với các đại học uy tín trên thế giới và chúng ta nên nghĩ rằng phương thức hợp tác này cần được khuyến khích và hết sức ủng hộ (với kinh nghiệm bản thân tôi cho thấy sự hợp tác với các trường đại học nước ngoài lại dễ hơn so với các đại học ở Việt Nam). Hợp tác với các nhóm nghiên cứu nước ngoài không nên chỉ nhìn dưới góc độ là một phương thức nhận tiền mà nên nhìn với góc độ xa hơn là một cách đưa nghiên cứu của Việt Nam ra với thế giới và cải thiện chất lượng của nó.

GS có điều gì muốn gửi gắm với các đồng nghiệp Việt Nam ?

Tôi đã trình bày rất thẳng thắn những quan điểm của tôi (có thể còn thiển cận) về những vấn đề mà theo tôi là đặc biệt quan trọng, với hy vọng có thể có ích nếu được xem xét một cách nghiêm túc. Tôi nhận thức rõ rằng còn nhiều khó khăn, không đơn giản như tôi nghĩ trong việc giải quyết các vấn đề này. Tuy nhiên, tôi hy vọng không bị trách vì những điều mình vừa nói, tôi không có ý gì khác ngoài mong muốn giúp cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo nói chung và khoa học Việt Nam nói riêng. Tôi đã gặp nhiều người, đọc nhiều bài báo phân tích sâu sắc, phê phán nặng nề hệ thống đại học và nghiên cứu hiện nay của Việt Nam. Thậm chí nhiều người nói rằng, không còn hy vọng cải thiện hệ thống này. Chúng ta chỉ có thể hy vọng là họ sai khi các trường đại học, cơ sở nghiên cứu có quyết tâm, có các phong trào mạnh mẽ tạo nên sự thay đổi để cải thiện một cách đáng kể chất lượng đào tạo và nghiên cứu của mình.

Gần đây, có nhiều tranh luận quanh câu hỏi: Đại học tư có phải là một nhân tố để phát triển giáo dục đại học?

Câu hỏi này một lần nữa là sự lựa chọn của xã hội; và câu trả lời của chúng phải xuất phát từ những người lãnh đạo nhà nước. Không nên nghĩ rằng Harvard là một đại học tốt vì nó là một đại học tư và tất cả các đại học tư đều tốt và tất cả các đại học công đều tồi (thậm chí, đôi khi tôi được nghe các lập luận này dưới những dạng kém hài hước hơn một chút).

Rõ ràng trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần dành ưu tiên cho nghiên cứu ứng dụng, tuy nhiên hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, ít nhất tôi hy vọng như thế, phải dành không gian cho nghiên cứu cơ bản. Kinh nghiệm cho thấy không có nghiên cứu ứng dụng tốt nếu thiếu nghiên cứu cơ bản chất lượng cao. Tiêu chí lựa chọn chủ đề cho nghiên cứu cơ bản là không khó. Tuy nhiên, cần có cần có đường lối chính sách khoa học để xác định phương hướng ủng hộ nghiên cứu cơ bản. Một lần nữa những quyết định này chỉ có thể thực hiện ở cấp chính phủ.

Xin cảm ơn GS về cuộc trao đổi này.

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC : LUẬN BÀN VÀI ĐIỀU CẤP THIẾT

Sau bài phỏng vấn của GS Pierre Darriulat Đại học và nghiên cứu ở Việt Nam cần gì?, GS đã nhận lời đề nghị của Ban biên tập TS làm rõ thêm một số quan điểm của mình về các vấn đề: trẻ hóa đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu; vai trò của Việt Kiều và các nhà khoa học nước ngoài đối với việc nâng cao chất lượng đại học.

Trong thư gửi Ban biên tập TS, GS viết: Tôi phải nhấn mạnh rằng những bình luận của tôi ở đây không phải là những ý tưởng đặc biệt, đó chỉ là những suy xét thông thường hoặc nói đúng hơn những bình luận này có được nhờ vào tuổi tác hay kinh nghiệm mà tôi có được. Có rất nhiều người có nhận thức về các vấn đề này tốt hơn tôi. Một vài người trong số họ, đặc biệt từ lớp những người đứng tuổi, đã nêu lên vấn đề này nhiều lần, rõ ràng và mạnh mẽ. Một trong số đó là Giáo sư Hoàng Tụy. Họ có thể giải quyết vấn đề tốt hơn tôi nhiều. Tuy nhiên, tôi rất vui lòng nhận lời mời của Ban biên tập vì tôi nghĩ rằng tranh luận là hữu ích; đặc biệt, thế hệ trẻ nên nhiệt tình đóng góp vào nỗ lực chung này - không phải là tương lai của họ gắn liền với nó sao? Hơn nữa, gần đây tôi vô cùng vinh dự được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp để bàn về vấn đề này. Ông cảm ơn tôi về những việc tôi đã làm, đồng thời động viên tôi tiếp tục thực hiện mạnh mẽ hơn các hoạt động của mình cho sự tiến bộ của các đại học Việt Nam.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết của ông.

Việt Nam đang trong tình trạng cấp bách phải có các trường đại học tốt hơn để ngăn chặn nạn chảy máu chất xám và bắt kịp sự chậm trễ tích lũy nhiều năm qua do chiến tranh và do chính các trường đại học tạo ra. Tôi đã tuyên bố rằng cần phải có một cuộc cách mạng, không đơn giản chỉ là các bước cải tổ nhỏ, dần dần, từng bước như chúng ta vẫn làm. Tôi cũng đã nhận xét rằng một kế hoạch làm trẻ hóa đội ngũ, bao gồm chính sách hưu sớm, cần phải được thực hiện; vấn đề về nghiên cứu (cơ bản và ứng dụng) và đào tạo đại học (đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề) cũng cần phải được quan tâm một cách đồng thời bởi vì chúng có ảnh hưởng tương tác lẫn nhau; việc đánh giá sinh viên, giảng viên, nghiên cứu viên và các đề tài nghiên cứu cần nghiêm khắc hơn, chặt chẽ hơn là yếu tố quyết định dẫn đến thành công. Tôi cũng đã nêu lên vấn đề các trường đại học phải tạo động lực cho các sinh viên xuất sắc nhất của họ tham gia đội ngũ giảng dạy của trường bằng cách đem lại cho họ những vị trí xứng đáng và làm cho họ có thể đóng góp một cách hiệu quả trong việc cải thiện trình độ đại học. Tôi sẽ làm rõ một vài câu hỏi thực tế liên quan đến những điểm này:

Thu hút được một đội ngũ cán bộ tốt

Trước hết Chính phủ phải công khai rõ ràng và rộng rãi mục tiêu và kế hoạch cho nghiên cứu và đào tạo, thể hiện rõ quyết tâm thực hiện mục tiêu. Đây là một điều kiện tiên quyết để có thể thu hút được đội ngũ cán bộ có năng lực. Hơn nữa, khi có nhu cầu tuyển người phải thông báo một cách rộng rãi trên toàn quốc thậm chí cả ở nước ngoài tới những đồng nghiệp người Việt bằng các phương tiện thích hợp. Công việc tuyển dụng phải được thực hiện bởi hội đồng tuyển dụng với thành phần không chỉ bao gồm cán bộ của trường mà phải có cả những thành viên ngoài trường: cán bộ của các trường đại học khác, các viện nghiên cứu, trong các lĩnh vực công nghiệp... Thái độ trung lập của các hội đồng tuyển dụng này phải được làm rõ và hiển nhiên là tham ô, gian lận, thiên vị và ưu đãi cho người thân phải bị cấm trong quá trình xét tuyển. Các quy định tuyển dụng phải được thông báo một cách rõ ràng: yêu cầu về phẩm chất và kinh nghiệm, triển vọng về lương bổng và sự nghiệp, quyền và nghĩa vụ...

Công dân Việt Nam, dù sinh sống ở Việt Nam hay ở một đất nước khác trên thế giới, rõ ràng nên được ưu tiên tuyển dụng, theo tôi các Việt kiều hiện nay không có quốc tịch Việt Nam cũng nên được xem xét: thật là đáng tiếc nếu không thể tận dụng được nguồn tài năng, năng lực và chuyên môn này. Tôi không muốn bình luận thêm về những điều kiện theo đó họ có thể được tuyển dụng vào đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, tôi muốn đưa ra bình luận về sự tuyển mộ các nhà khoa học được đào tạo ở nước ngoài, liên quan đến một vài truờng hợp mà tôi đã được chứng kiến.

Thứ nhất, một số nhà khoa học thành đạt do may mắn được đào tạo trong một trường đại học hoặc một viện nghiên cứu tốt ở một nước phát triển rõ ràng đã được hưởng các điều kiện làm việc tốt hơn so với những đồng nghiệp làm việc trong nước và cũng quen với môi trường có khả năng và chuyên môn tốt hơn. Tuy nhiên, chính tôi cũng đã gặp không ít sinh viên hoặc nghiên cứu sinh học ở các trường đại học hoặc các viện nghiên cứu kém chất lượng (có rất nhiều nơi như thế ở nước ngoài) hoặc họ không đủ khả năng để hoàn thành khóa học. Do đó, trước khi tuyển dụng cần đánh giá một cách chính xác giá trị và thực chất học vị và bằng cấp của các sinh viên được đào tạo ở nước ngoài, hoặc phẩm chất khoa học của các nhà khoa học  những người đã và đang tham gia giảng dạy hoặc thực hiện nghiên cứu ở nước ngoài là thiết yếu.

Thứ hai, cần tạo môi trường thuận lợi cho các thực tập sinh sau tiến sỹ được đào tạo ở nước ngoài và các nhà khoa học Việt kiều trở về quê hương làm việc. Tuy nhiên, các thực tập sinh cũng nên biết rằng họ đã được hưởng đặc ân hơn so với bạn bè đồng lứa những người không đạt được thành quả như họ và gặp rất nhiều khó khăn hơn ở Việt Nam trong khi họ được hưởng đào tạo tốt hơn. Do đó, họ nên tỏ ra nhún nhường và khiêm tốn. Họ nên xác định tư tưởng phục vụ cho lợi ích của đất nước chứ không chỉ lợi ích của riêng của mình, và đặc biệt phải tạo được sự kết nối giữa kiến thức và chuyên môn của họ với những đồng nghiệp kém may mắn hơn.

Vai trò của các nhà khoa học và sinh viên nước ngoài

Có thể khẳng định sẽ có nhiều sinh viên nước ngoài hơn đến học ở các đại học Việt Nam trong tương lai. Họ nên được tiếp tục chào đón như hiện nay và sự tiếp xúc của họ với các sinh viên Việt Nam sẽ làm giàu văn hóa lẫn nhau

Các giảng viên, nhà khoa học nước ngoài đã và đang đóng góp vào giáo dục đại học Việt Nam theo nhiều cách khác nhau qua: các khóa học ngắn, đến thăm trong một thời gian ngắn tại các phòng thí nghiệm nghiên cứu và tham dự vào các hội đồng.

Hiện nay, đã có các nhà khoa học nước ngoài có uy tín giảng dạy ở Việt Nam. Đích thân tôi đã tham dự rất nhiều lớp học mùa hè hoặc mùa đông tại Hà Nội hoặc ở các tỉnh khác nơi các nhà khoa học này đã tham gia giảng dạy. Chưa kể nhiều hội nghị quốc tế diễn ra tại Việt Nam mang lại nhiều cơ hội tiếp xúc với các nhà khoa học nước ngoài nổi tiếng.

Những sự kiện này vô cùng quan trọng. Chúng cung cấp trực tiếp những kiến thức cập nhật, cùng với khả năng tương tác trực tiếp với các giảng viên và đem lại nhiều tài liệu quý các bài giảng được viết bởi các giảng viên, các bài trình bày Power Point hoặc các tài liệu khác mà có thể dễ dàng sử dụng sau đó để dạy lại cho các sinh viên và các đồng nghiệp khác. Qua các hội nghị này đã tạo ra một mạng lưới quan hệ chuyên nghiệp và thân thiện giữa các nhà khoa học trên toàn thế giới. Hơn nữa, các sự kiện này đem lại cơ hội cho các sinh viên Việt Nam tiếp xúc trực tiếp với các nhà khoa học tầm cỡ thế giới và chứng kiến tận mắt niềm đam mê của họ đối với khoa học, sự nghiêm túc và trung thực của họ, sự kính trọng của họ đối với các khoa học ngành khác nhau, đặc biệt giữa lý thuyết và thực nghiệm.

Tuy nhiên, qua kinh nghiệm của tôi cho thấy, số đông người tham dự thường không phù hợp, sự kiện không được phổ biến rộng rãi, và hiếm khi được thông báo ra bên ngoài bức tường của trường đại học nơi sự kiện diễn ra. Trình độ của sinh viên nghe giảng thường quá thấp để có thể thực sự tiếp thu được các bài giảng. Điều này ngược với các trường đại học ở những nước phát triển nơi mà các chuyên đề nghiên cứu, các hội thảo chuyên ngành và các bài giảng trình bày bởi những người không phải của trường luôn được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các giảng viên của khoa. Một bình luận cuối cùng đó là phần lớn sinh viên Việt Nam không sử dụng thành thạo tiếng Anh, ngôn ngữ khoa học hiện nay, điều này là một cản trở lớn đến khả năng của họ trong việc tiếp thu kiến thức từ các bài giảng này.

Những cuộc viếng thăm của các nhà khoa học nước ngoài tới các phòng thí nghiệm Việt Nam, dù rằng đôi khi là những chuyến thăm ngắn một hoặc hai tháng ít nhất cũng manglại nhiều lợi ích như những chuyến thăm của các nhà khoa học Việt Nam tới các phòng thí nghiệm nước ngoài. Như, các nghiên cứu sinh Việt Nam sẽ được làm việc dưới sự hướng dẫn của một giáo sư Việt Nam và một giáo sư nước ngoài. Nhiều quốc gia cũng có các chương trình hợp tác khoa học quốc tế như vậy.

Trong khi làm việc tại Việt Nam, các nhà khoa học nước ngoài có thể giúp các nhà khoa học Việt Nam lắp đặt và đưa vào vận hành các thiết bị, sau đó có thể được sử dụng một cách hiệu quả. Hoặc họ có thể giúp xây dựng các đường hướng chính trong nghiên cứu sau đó các nhà khoa học Việt Nam có thể dễ dàng tiếp tục theo đuổi thực hiện. Hơn nữa, họ có thể giảng bài, trình bày các chuyên đề nghiên cứu, hội thảo chuyên ngành nhân dịp chuyến thăm.

Hiện nay sự tham dự của các nhà khoa học nước ngoài dưới hình thức là các cố vấn trong các hội đồng, ban hay các nhóm giải quyết các vấn đề chung về quản lý về nghiên cứu và đào tạo của một trường, bộ môn, viện nghiên cứu hoặc một dự án nghiên cứu cụ thể thường chưa được coi trọng. Điều đó thật đáng tiếc, bởi vì các thành viên nước ngoài của các hội đồng đo, bên cạnh những ý kiến chuyên môn, họ còn mang theo nhiều kinh nghiệm, quan điểm khác nhau và cả sự trung lập; nhờ sự xuất hiện của họ có thể giúp chúng ta mất thời gian vào những cuộc tranh luận quá thiển cận1.

Thu hút thực tập sinh sau tiến sỹ trẻ về với các khoa, tạo động lực và nhiệt tình cho họ bằng cách bổ nhiệm họ vào các vị trí mà họ có thể là những nhân vật chính của cuộc đổi mới giáo dục đại học là một việc cần thiết. Tuy nhiên làm thế nào để thực hiện được các việc đó lại là một việc khác.

Tôi hoàn toàn nhận thức được sự đồ sộ và phức tạp của của khối lượng công việc phải thực hiện. Và chỉ có thể giải quyết được với một cái nhìn tổng thể về giáo dục đại học. Trường đại học Việt Nam hiện nay giống như một bậc tiếp theo của giáo dục phổ thông hơn là đại học khi so sánh với những đại học ở các nước phát triển. Hệ thống các lớp học ở đại học của Việt Nam hiện nay ngăn cản sự phát triển của giáo dục đại học phải được bãi bỏ và thay thế bởi hệ thống đảo tạo tín chỉ đang được sử dụng ở các nước phát triển nhất. Gần đây, tôi có gợi ý một chủ nhiệm khoa vật lý của một trong các trường đại học Hà Nội để trống một buổi chiều trong tuần cho phép sinh viên theo học các khóa học họ thích. Tôi nghĩ rằng đó có thể là bước đầu tiên trên đường tiến tới một hệ thống mới đào tạo theo tín chỉ. Tôi đã nghĩ về vật lý thiên văn và nhiều lĩnh vực khác cũng có thể làm như thế. Nhưng yêu cầu đó dường như không thể thực hiện được (chỉ có Bộ trưởng mới có thể thực hiện được điều đó!). Với việc kiểm tra việc học tập của sinh viên một cách nghiêm ngặt và nghiêm túc hơn hiện nay chắc sẽ có không ít sinh viên phải chuyển hướng tới các trường học nghề nơi đào tạo các kỹ thuật viên trình độ cao. Nhiều ví dụ khác có thể được dẫn để minh họa cho sự cần thiết phải có một kế hoạch tổng thể.

Người đọc có thể lo sợ rằng một cuộc cách mạng trong giáo dục đại học có thể làm hại hơn là đem lại lợi ích, vì xây dựng thì luôn khó khăn và tốn thời gian hơn nhiều so với việc phá hỏng. Đó là những lo lắng chính đáng và có lẽ bất kỳ ai sẽ cảm thấy rất có lỗi nếu bị cho là vô trách nhiệm và gây nguy hại đến những thứ đang tồn tại ngày nay. Mọi hành động cần phải được lập kế hoạch và nghiên cứu một cách kỹ lưỡng trước khi áp dụng và sự tiến triển của quá trình chuyển đổi phải được giám sát cẩn thận. Cần chọn ra một vài khoa để áp dụng thay đổi. Bắt buộc phải có kế hoạch cẩn thận và liên lạc tốt để làm cho mọi người biết đến và hiểu rõ.

Những bình luận còn nông cạn trên của tôi có thể sai hoặc rất ngờ nghệch, nhưng hy vọng bạn đọc sẽ thư lỗi cho tôi vì, ít nhất đó là những bình luận thẳng thắn, với mong muốn có thể phần nào được sử dụng giúp cho thế hệ trẻ của đất nước, và đặc biệt là các sinh viên của tôi, có được một tương lai tốt đẹp hơn.

Gần đây tôi có cơ hội đọc một báo cáo tuyệt vời viết bởi các giáo sư Mỹ theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đào tạo đại học của Việt Nam. Những sự đánh giá như thế là tài liệu vô giá nên được phổ biến rộng rãi tới những người quan tâm đến vấn đề đào tạo đại học và nghiên cứu.

GS TSHK Pierre Darriulat

Phòng Thí nghiệm tia Vũ trụ

Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân-INST