NewYork Paris Hà Nội

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Cải Tổ và Phát Triển Kỹ Nghệ Điện Lực Tại Việt Nam - GS Nguyễn Quốc Khải , Kiều bào Mỹ

Kỹ nghệ điện lực của Việt-Nam thay đổi rất nhiều trong 20 năm qua do nhu cầu về điện gia tăng rất nhanh, sự chuyển biến từ chế độ kinh tế chỉ huy sang chế độ thị trường và do sự hội nhập vào thị trường thế giới. Việt-Nam đã thực hiện nhiều dự án điện lực nói riêng và năng lượng nói chung .

Bài nghiên cứu này sẽ phân tách hiện trạng của kỹ nghệ điện lực Việt-Nam ở phần I, việc cải tổ kỹ nghệ này ở phần II và kế hoạch phát triển ở phần III. Một số đề nghị sẽ được ghi nhận tại mỗi phần và tóm tắt trong phần kết luận ở phần cuối. Bài này dùng dữ kiện của năm 2004 vì dữ kiện của hai năm 2005 và 2006 không đầy đủ.

Tình trạng hiện nay của kỹ nghệ điện lực

- Khu vực nhiên liệu

Việt-Nam có dầu hỏa và hơi đốt ở ngoài biển miền Nam, than đá ở ngoài Bắc, và thuỷ lực tại vùng núi phía Tây chạy dài từ Bắc vào Nam. Số lượng tài nguyên này không nhiều mà chỉ tạm đủ để dùng cho nhu cầu trong nước. Hiện nay Việt-Nam xuất cảng một số lượng than đá và hầu hết số lượng dầu thô khai thác vì chưa có xưởng lọc dầu. Trị giá năng lượng xuất cảng nhiều hơn trị giá năng lượng nhập cảng.

Việt-Nam sản xuất được 16 triệu tấn dầu thô vào năm 2000 và 20 triệu tấn vào năm 2004 và thu về được 5,7 tỉ Mỹ kim, tương đương với khoảng 21% tổng số trị giá hàng xuất cảng của Việt-Nam. Dầu thô là sản phẩm mang về nhiều ngoại tệ nhất. Tuy nhiên Việt-Nam nhập cảng khoảng 11 triệu tấn dầu lọc và sản phẩm dầu hỏa trị giá khoảng 3,6 tỉ Mỹ kim. Cán cân thương mại về dầu hỏa thặng dư 2,1 tỉ Mỹ kim. Mức dầu thô sản xuất sẽ tiếp tục gia tăng một cách vừa phải trong tương lai. Mức sản xuất trung bình sẽ vào khoảng 25 đến 40 triệu tấn tính đến năm 2020.

Việt-Nam có một số lượng hơi đốt thiên nhiên lớn ở ngoài khơi. Tất cả số lượng hơi đốt này dự trù đủ dùng cho nhu cầu nội địa, đặc biệt cho kỹ nghệ năng lượng, phân bón, và một số kỹ nghệ nặng. Việt-Nam sản xuất được 6,6 tỉ thước khối hơi đốt vào năm 2005. Số lượng này sẽ tăng lên đến khoảng 15 - 20 tỉ thước khối vào năm 2015.

Mức sản xuất than đá gia tăng đáng kể trong những năm qua, từ 11 triệu tấn vào năm 2000 lên đến 16 triệu tấn vào năm 2004. Với 7,5 triệu tấn xuất cảng, Việt-Nam đã thu về được 355 triệu Mỹ kim nhờ giá nhiên liệu trên thị trường quốc tế tăng cao.

Tính đến cuối năm 2004, Việt-Nam mới khai thác được 1/4 tiềm năng thủy điện có lợi ích kinh tế. Phần lớn những nhà máy thủy điện ở vào cỡ trung bình hoặc nhỏ với sản lượng dưới 1.000 megawatts (MW), ngoại trừ những nhà máy Hòa Bình, Sơn La và Lai Châu trên con sông Đà ở miền Bắc.

- Khu vực điện lực

Sản xuất điện lực

Với nguồn nước ở cả ba vùng, thủy điện trở thành nguồn nhiên liệu chính của Việt-Nam từ cuối thập niên 1980 cho đến mới đây. Sau đó Việt-Nam sản xuất thêm nhiệt điện từ than đá ở miền Bắc, hơi đốt thiên nhiên, và một số lượng dầu hỏa ở miền Nam kể từ cuối thập niên 1990. Khả năng sản xuất tổng cộng là 11.200 MW vào năm 2004. Trung bình trong 3 năm 2002-2004, 44,7% điện sản xuất bằng hơi đốt thiên nhiên và dầu hỏa, 42% bằng thủy lực, và 13,3% bằng than đá. Nhiệt điện sản xuất bằng dầu và hơi đốt lần đầu tiên vượt quá số lượng thủy điện khi nhà máy Phù Mỹ bắt đầu hoạt động vào năm 2003. Nhiệt điện nói chung chiếm trung bình 58% trong 2002-2004, sẽ tiếp tục gia tăng tỉ lệ so với thủy điện.

Điện ở ba miền được nối bởi một đường giây truyền điện với điện áp 500 KV. Một đường giây 500 KV đang được hoàn tất. Ngoài ra Công Ty Điện Lực Việt-Nam (Electricity of Vietnam – EVN) dự trù xây đường giây truyền điện với điện áp cao chung quanh thành phố Hà Nội và Saigon. Đồng thời các đường giây nối với Trung Quốc, Campuchia, và Lào sẽ được phát triển nhanh chóng trong tương lai.

Kỹ nghệ năng lượng của Việt-Nam tương đối thành công trong việc thỏa mãn nhu cầu nội địa trong thập niên vừa qua. Tuy nhiên Việt-Nam từng trải qua những trường hợp mất điện trong thời gian ngắn và thiếu điện như vào mùa hè 2005. Sự thiếu điện tiếp tục xẩy ra trong năm 2006 và sẽ xẩy ra trong năm 2007. Mức điện thiếu hụt ước tính vào khoảng 800 – 1.300 MW vào lúc mức tiêu thụ lên cao nhất. Có hai lý do làm thiếu điện. Thứ nhất là mức sản xuất thủy điện giảm vào mùa khô. Nếu hạn hán xẩy ra lâu nhà máy sẽ thiếu nước để sản xuất điện. Thứ hai, là khả năng tăng cường sản xuất điện của Việt-Nam trong hoàn cảnh nguy ngập rất thấp.

Nhu cầu tiêu thụ điện lực

Vào năm 1995, mức tiêu thụ điện của Việt-Nam trung bình vào khoảng 156 KWh cho mỗi người hàng năm. Trong thời gian 1996 - 2004, mức tiêu thụ tăng gấp ba lần, lên đến 484 KWh. Tuy nhiên so với mức tiêu thụ 1.265 KWh tại những nước có lợi tức thấp và trung bình trên thế giới, mức tiêu thụ điện của Việt-Nam rất thấp. Nhu cầu tiêu thụ điện của khu vực công nghệ và dân cư chiếm 85% - 90%. Khuynh hướng này sẽ tiếp tục trong tương lai. Trong khi đó tỉ lệ tiêu thụ điện của khu vực nông nghiệp giảm một cách đáng kể.

Các ngành công nghệ tiêu thụ điện rất nhiều, kể cả những ngành công nghệ nhẹ như biến chế nông phẩm, may dệt, hoá phẩm, sản phẩm lân bền cho người tiêu thụ, kỹ nghệ dự trữ lạnh. Việt-Nam ngày càng kỹ nghệ hoá khiến cho nhu cầu tiêu thụ điện càng tăng. Dân cư cũng dùng nhiều điện hơn vì nhiều yếu tố. Trước hết là chương trình điện hóa nông thôn đã mang điện đến cho thêm 30 triệu người dân, tương đương với 37% của dân số trong khoảng thời gian 1995 - 2004. Tỉ lệ gia đình ở nông thôn có điện tăng từ 50,7% vào năm 1996 lên đến 88% vào năm 2004 và dự trù 100% vào 2010. Yếu tố thứ hai là kinh tế phá triển, lợi tức gia tăng khiến một số gia đình có khả năng mua sắm máy móc gia dụng chạy điện.

Phẩm chất của dịch vụ cung cấp điện

Nói chung dịch vụ cung cấp điện lực căn bản tại Việt-Nam đã được cải thiện trong 10 năm qua, nhưng còn nhiều thiếu sót. Cuộc điều nghiên gần đây của Ngân Hàng Thế Giới về môi trường đầu tư cho thấy rằng 19% các công ty công nghệ nói rằng giá điện là một trở ngại nghiêm trọng cho hoạt động thương mại của những công ty này. Gần một nửa số công ty được điều nghiên cho rằng việc cung cấp điện không đáng tin cậy đã là một trở ngại ngại lớn. Mỗi năm xẩy ra khoảng 12 lần mất điện hoặc cường độ đột nhiên tăng mạnh. Đối với những công ty nhỏ và trung bình, mỗi lần mất điện làm giảm 2 - 3% trị giá thương vụ.

Giá điện

Hệ thống giá điện ở Việt-Nam rất phức tạp. Giá thay đổi tùy theo mức điện áp, số lượng điện tiêu thụ, giới tiêu thụ, và thời điểm tiêu thụ trong ngày. Giới tiêu thụ chia ra làm năm loại: công nghệ, thương mại, nông nghiệp, cư dân thành thị và cư dân nông thôn. Mức điện áp và thời điểm tiêu thụ trong ngày chỉ áp dụng cho ba ngành công nghệ, thương mại và nông nghiệp. Giá biểu vào lúc tiêu thụ nhiều có thể gấp 3 lần so với thời gian tiêu thụ thấp. Số lượng điện tiêu thụ chỉ áp dụng cho cư dân thành thị. Giá điện tại nông thôn được bao cấp bởi giá điện ở những nơi khác. Giá điện cho cư dân thành thị cũng được bao cấp một phần bởi giá điện áp dụng cho công nghệ, thương mại, và những cơ sở ngoại quốc.

Giá điện lẻ ở Việt-Nam là 800 đồng / KWh (5,1 cents US/KWh) vào năm 2004. Nếu kể cả thuế giá trị thặng dư (value-added tax - VAT) 10%, giá điện lẻ trung bình sẽ là 5,6 cents US/KWh, khá thấp so với với phần đông các nước khác. Ngay cả giá điện trung bình áp dụng cho công nghệ là 5,4 – 6,2 cents US, kể cả VAT cũng không cao so với tiêu chuẩn quốc tế. Thí dụ, giá điện ở Trung Quốc là 7 - 10 cents US/KWh tại các vùng duyên hải, và 12 cents US/KWh tại những khu chế xuất.

Cải tổ kỹ nghệ điện lực

Kỹ nghệ năng lượng cho đến vài năm gần đây hầu như hoàn toàn do các công ty quốc doanh bao thầu. Kể từ 1995, kỹ nghệ năng lượng do ba tổng công ty lớn nhất của Việt-Nam quản trị. Đó là Tập Đoàn Điện Lực Việt-Nam (Electricity of Vietnam – EVN), Tập Đoàn Dầu Khí Việt-Nam (PetroVietnam), và Tập Đoàn Công Nghiệp Than – Khoáng Sản Việt-Nam (Vinacomin) theo mô hình chaebol của Nam Hàn. Điện Lực Việt-Nam được thành lập bằng cách sát nhập ba công ty sản xuất năng lượng ở ba vùng. Các tổng công ty hoạt động không khác gì những cơ quan của các bộ liên hệ và được nhà nước cho độc quyền về 12 ngành bao gồm năng lượng, dầu khí, than, xi măng, giấy, ngân hàng, hàng không, thép, may dệt, máy móc, bưu điện và viễn thông, và hàng hải.

Bộ Công Nghiệp soạn thảo chính sách và quản lý khu vực năng lượng bao gồm việc kiểm tra tất cả những doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lãnh vực này, soạn thảo kế hoạch đầu tư và ấn định mức giá cả nhiên liệu để đệ trình thủ tướng chính phủ. Tập Đoàn Điện Lực Việt-Nam (ĐLVN) được tổ chức theo hàng dọc về cả ba phương diện phát triển, quản trị và điều hành. Điện Lực Việt-Nam gồm bẩy công ty điện lực vùng đảm trách truyền và phân phối điện, bốn công ty truyền điện, và bốn công ty kỹ sư tư vấn về điện, và một số công ty sản xuất dụng cụ.

Kể từ khi Luật Điện Lực được ban hành vào năm 2004, Việt-Nam bắt đầu cải tổ khu vực điện lực. Tuy độc lập mấy năm gần đây với nhà nước về phương diện tài chánh, Điện Lực Việt-Nam vẫn phụ thuộc vào nhà nước về mọi kế hoạch sản xuất, phát triển, đầu tư và giá cả. Luật Điện Lực ban hành vào cuối năm 2004 đánh dấu một thay đổi lớn trong ngành điện lực của Việt-Nam. Luật này tạo một căn bản pháp lý để thiết lập một thị trường điện lực theo định hưóng thương mại tại Việt-Nam trong ba giai đoạn kéo dài trong 20 năm. Mục tiêu của giai đoạn I là tạo một thị trường sản xuất điện lực cạnh tranh. Giai đoạn II chủ yếu thiết lập thị trường bán sỉ với sự thành hình của một số công ty sản xuất lớn để đáp ứng nhu cầu của một số công ty tiêu thụ lớn. Giai đoạn III thực hiện thị trường bán lẻ.

Luật Điện Lực 2004 cho phép thành lập vào cuối năm 2005 Cơ Quan Điều Hợp Điện Lực Việt-Nam (Electricity Regulatory Agency of Vietnam – ERAV). Cơ quan này trên nguyên tắc là một cơ quan tự trị, có nhiệm vụ thi hành một số chức năng của Bộ Công Nghiệp. Nhưng trên thực tế, ERAV vẫn đặt dưới quyền chỉ huy của Bộ Trưởng Công Nghiệp.

Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng gia tăng, Việt-Nam cần thêm nhiều vốn để tăng công suất, Việt-Nam cho phép thành lập một số những nhà máy sản xuất điện lực đứng ngoài hệ thống Điện Lực Việt-Nam, hoàn toàn do tư nhân nội địa hoặc ngoại quốc làm chủ hay với sự đóng góp cổ phần của Điện Lực Việt-Nam. Tại hầu hết các vùng ở nông thôn, cộng đồng địa phương làm chủ và điều hành những nhà máy sản xuất điện lực nhỏ với áp điện thấp. Ngoài ra, Điện Lực Việt-Nam giải tư và cổ phần hoá một phần bằng cách tách một số bộ phận và nhà máy hiện hữu thành những công ty sản xuất điện lực độc lập (independent power producers – IPP). Tuy nhiên Điện Lực Việt-Nam vẫn được phép duy trì ít nhất 51 % cổ phần tại những công ty “độc lập” này theo chính sách của nhà nước hiện nay.

Kinh nghiệm của Trung Quốc vào những thập niên 1980 và 1990 cho thấy IPP là một phương pháp để phát triển điện lực nhanh chóng và tương đối hiệu quả. Tuy nhiên tại Trung Quốc có nhiều cơ sở muốn đầu tư vào khu vực điện lực. Trong khi Việt-Nam chỉ có một ít công ty quốc doanh lớn có khả năng này như những công ty sản xuất nhiên liệu như PetroVietnam và Vinacomin hoặc làm dịch vụ xây cất. Trong trường này khó có thể tạo được cạnh tranh thực sự và hậu quả là giới tiêu thụ phải trả giá điện cao một khi chế độ bao cấp chấm dứt.

Do đó biện pháp cải tổ kỹ nghệ điện lực là phải hủy bỏ hệ thống hàng dọc hiện nay của ngành này và thay thế bằng một thị trường điện lực cạnh tranh thực sự. Do áp lực của nhà nước và việc Việt-Nam gia nhập WTO, Điện Lực Việt-Nam đã phải cổ phần hóa và đồng thời sát nhập hai nhà máy thuỷ điện nhỏ Song Hinh và Vĩnh Sơn thành một công ty vào năm 2005. Ngoài ra công ty phân phối điện Khánh Hòa và Nhà máy Phả Lại của Điện Lực Việt-Nam cũng được bán cho tư nhân kể cả những nhà đầu tư ngoại quốc vào năm 2005.

Điện Lực Việt-Nam còn có kế hoạch cổ phần hóa tất cả những nhà máy điện lực hiện hữu ngoại trừ những nhà máy thuỷ điện lớn trong vòng 2 năm tới. Bộ Công Nghiệp Mới đây tuyên bố Việt-Nam sẽ tư nhân hóa tất cả những công ty phân phối điện trong 2006 - 2007, kể cả những công ty nhỏ tại 64 tỉnh mà phần lớn thuộc quyền sở hữu của Điện Lực Việt-Nam. Những nhà máy sản xuất nhiệt điện cũng sẽ chuyển giao cho các nhà đầu tư tư nhân. Tuy nhiên nhà nước sẽ tiếp tục độc quyền về hệ thống truyền điện (power transmission) và điều hành luật lệ liên quan hệ thống phân phối điện trên toàn quốc.

Tiến trình cổ phần hóa kỹ nghệ điện lực hiện nay là một kế hoạch cải tổ hữu ích, là một bước tiến trong việc thương mại hóa và hữu hiệu hóa những công ty quốc doanh.

Kế hoạch phát triển kỹ nghệ điện lực

- Giải pháp cho việc thiếu hụt điện lực

Một trong những giải pháp để giải quyết tạm thời nhanh chóng việc thiếu hụt điện là dùng những máy sản xuất điện nhỏ chạy bằng dầu hỏa hoặc hơi đốt. Những máy này có thể thiết kế nhanh chóng. Việt-Nam dự trù xây thêm tại miền Bắc bốn đơn vị chạy bằng dầu hỏa, mỗi đơn vị có thể sản xuất 37 MW và một số máy lớn hơn chạy bằng dầu hỏa hoặc hơi đốt ở miền Nam. Giải pháp thứ hai là mua điện của Trung Quốc. Điều này hầu như chắc chắn sẽ gia tăng trong những năm sắp đến. Trong năm 2005, Việt-Nam đã thương thuyết với Trung Quốc để có thể tăng số lượng điện mua của Trung Quốc lên đến 400 MW trong những năm sắp đến.

Về mặt tiêu thụ, những chuyên viên điện lực cho rằng Việt-Nam có triển vọng giảm bớt mức tiêu thụ điện được khoảng 600-800 MW trong vài năm tới chỉ bằng cách giảm thiểu sự lãng phí, tăng cường hiệu năng sử dụng nhiên liệu. So sánh cường độ tiêu thụ điện (mức tiêu thụ điện / GDP) của Việt-Nam với một số nước Á châu, người ta thấy con số của Việt-Nam khá cao (0,89), chỉ thua Trung Quốc (1,29). Điều đó phản ảnh sự phung phí điện lực và chính sách bao cấp nặng nề sự tiêu thụ điện lực tại hai quốc gia này. Trong khi đó cường độ tiêu thụ điện của Nhật Bản ở mức thấp nhất (0,20). Hiệu năng thấp của nền kinh tế Việt-Nam còn thể hiện qua chỉ số đầu tư / GDP ở mức cao là 25-30% trong năm 2006.

- Bành trướng kỹ nghệ điện lực

Trong dài hạn, Việt-Nam cần phải bành trướng kỹ nghệ điện lực để thoả mãn nhu cầu tiêu thụ điện gia tăng do kết quả của sự tiếp tục phát triển kinh tế. Việt-Nam cần xây dựng thêm nhà máy điện, đường giây truyền điện cao thế, và hệ thống đẫn điện đến người tiêu thụ.

Theo ước tính của Việt-Nam, nhu cầu về điện lực của Việt-Nam sẽ gia tăng 16% mỗi năm trong giai đoạn 2006 - 2010, 11% trong những năm 2011 - 2015 và 9,1% trong 2016 - 2020. Đây là một thử thách rất lớn. Khả năng sản xuất điện của Việt-Nam sẽ phải tăng gấp đôi trong 2005 - 2010 và tăng gấp 2,5 lần nữa trong thời gian 2011-2020.

Trọng tâm của kế hoạch bành trướng kỹ nghệ điện lực là xây dựng thêm một hỗn hợp ba loại nhà máy theo công thức 20% chạy bằng than đá, 40% chạy bằng dầu hỏa hay hơi đốt, và 40% chạy bằng sức nước. Về phương diện truyền điện, Việt-Nam sẽ thiết kế thêm một đường giây cao thế Bắc Nam 500 KV thứ hai và hai đường giây cao thế 500 KV chạy quanh Hà-Nội và Saigon. Về phương diện phân phối điện, Việt-Nam cần tối tân hóa những trạm biến điện để giảm những thất thoát điện lực qua những đường giây, máy biến thế, và những bộ phận cũ kỹ. Tỉ lệ điện bị thất thoát trong khu vực công nghiệp vào năm 2003 ở vào khoảng 14,2% bao gồm 2,3% phát xuất tư trong tiến trình sản xuất điện, 11,9% còn lại phát xuất từ việc truyền và phân phối. Tỉ lệ thất thoát điện giảm xuống còn 13% trong năm 2005. Điện Lực Việt-Nam dự trù giảm tỉ lệ này xuống còn 10% trong năm 2010 và 8% trong năm 2020.

Việc xây dựng thêm nhà máy thủy điện là giải pháp ít tốn kém nhất. Giải pháp tương đối nhanh chóng là phát triển những tài nguyên thủy điện sẵn có. Việt-Nam sản xuất được 4.227 MW thủy điện vào năm 2004. Hai nhà máy mới ở Sơn La (2.400 MW) và Lai Châu (1.100 MW). Ngoài ra Việt-Nam còn dự trù xây cất 30 nhà máy thuỷ điện cỡ trung bình ở rải rác từ Bắc vào Nam với công suất tổng cộng khoảng 6.000 MW . Nhà máy Sơn La đã khởi công và dự trù sản xuất điện vào khoảng 2012 - 2015. Việc xây dựng nhà máy Sơn La đòi hỏi phải di 70.000 dân ra khỏi khu vực. Đây là một thử thách lớn. Ngoài ra, Việt-Nam cũng đang đầu tư để thiết lập nhà máy thủy điện ở Lào với sự thỏa thuận là Việt-Nam sẽ mua lại số điện lực do nhà máy sản xuất.

Để gia tăng công suất từ 11.200 MW lên đến 81.000 MW, Điện Lực Việt-Nam dự trù xây thêm 74 nhà máy phát điện từ nay cho đến năm 2020 bao gồm 48 nhà máy thủy điện, 17 nhà máy nhiệt điện chạy bằng than đá, năm nhà máy chạy bằng dầu khí, và hai nhà máy chạy bằng năng lượng hạt nhân với kinh phí là 109 tỉ Mỹ kim. Trong khi đó Điện Lực Việt-Nam chỉ đủ khả năng cung cấp một nửa số vốn cần thiết.

Việc lựa chọn loại máy sản xuất nhiệt điện phải dựa trên giá cả nguyên liệu là than đá và dầu hỏa. Với giá than đá nội địa hiện nay, sản xuất điện bằng than nội địa sẽ giảm được phí tổn. Tuy nhiên nếu dùng than đá nhập cảng, chi phí sản xuất điện sẽ cao hơn một cách đáng kể. Hiện nay Việt-Nam dựa vào thủy điện, nhất là tại miền Bắc. Nhưng thủy điện không đáng tin cậy vì cần nước trong khi đó Việt-Nam thỉnh thoảng vẫn bị hạn hán kéo dài làm nhà máy thiếu nước. Ngoài ra nhà máy thủy điện còn chịu rủi ro về động đất, khủng bố và các tai nạn khác.

Nhà máy điện lực nguyên tử đầu tiên với công suất là 2.000 MW trị giá khoảng 3 - 4 tỉ Mỹ kim. Từ năm 2002, Việt-Nam đã nhận được đề án xây cất nhà máy nguyên tử này từ các nước Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Hàn và Đức Quốc. Nhà máy này lúc đầu dự trù hoàn tất vào năm 2015 và khởi sự sản xuất điện vào năm 2020. Dự án này cho tới nay còn trong giai đoạn sơ khởi nhưng những chuyên viên Việt-Nam đã có một suy nghĩ nghiêm chỉnh về dự án này.

Với giá dầu tăng lên cao, sồ lượng than và dầu hỏa của Việt-Nam giới hạn và trở thành khan hiếm vào 25 năm tới, nên việc tìm một nhiên liệu thay thế như nguyên tử, gió và ánh sáng mặt trời để sản xuất điện lực là cần thiết. Theo dự án, điện lực nguyên tử sẽ chiếm khoảng 11% vào năm 2020 và 25 - 30% vào 2040 - 2050. Sáu địa điểm có thể được lựa chọn là Quảng Bình, Phú yên, và hai địa điểm tại mỗi tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận.

An toàn và thiếu chuyên viên nguyên tử năng là hai vấn đề Việt-Nam hiện phải đối phó. GS Phạm Duy Hiển, một trong những chuyên viên hàng đầu của Việt-Nam về năng lượng nguyên tử với trên 25 năm kinh nghiệm, nhận xét rằng ngoại trừ Việt-Nam có thể thoả mãn được tất cả những tiêu chuẩn về khoa học và kỹ thuật, kế hoạch xây cất nhà máy nguyên tử lực không có thể thực hiện được. Ngay cả pháp lý căn bản để đối phó với tai nạn nguyên tử Việt-Nam cũng chưa có.

Kêt luận

Việt-Nam đã bắt đầu cố gắng cải tổ khu vực điện lực từ giửa thập niên 1990, nhưng kết quả rất khiêm tốn vì Việt-Nam chủ trương cải tổ từng bước một, chú trọng về mặt thay đổi cấu trúc và củng cố quyền hạn của các tổng công ty. Quyết định hội nhập vào thị trường quốc tế qua việc gia nhập vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới đã tạo cơ hội cho Việt-Nam nhìn thấy rõ hơn nhu cầu cấp thiết phải gia tăng hiệu năng để sống còn. Để đáp ứng nhu cầu điện lực gia tăng gấp 2 lần mức tăng trưởng kinh tế hiện nay và nạn khan hiếm vốn, Việt-Nam không còn lựa chọn nào khác là phải thực sự đẩy mạnh việc cải tổ khu vực điện lực sâu rộng hơn kể từ đầu thập niên 2000 bằng cách chia cắt các tổng công ty thành những doanh nghiệp nhỏ, cổ phần hóa một số công ty này và cho phép khu vực tư nhân nội địa và ngoại quốc đầu tư vào khu vực điện lực.

Giá cả và vốn dưới chế độ kinh tế chỉ huy không có giá trị nào cả, nhưng ngày nay trong nền kinh tế thị trường hai yếu này đóng một vai trò quan trọng. Do đó Việt-Nam cần phải huy động vốn để phát triển kỹ nghệ điện và năng lượng nói chung. Nhà nước không đủ khả năng để cung cấp cho kỹ nghệ điện và năng lượng khoảng 3 – 5 tỉ Mỹ kim mỗi năm trong thời gian 2006 - 2010, chưa kể nhu cầu vốn cho những khu vực hạ tầng cơ sở khác. Do đó sự đóng góp của tư nhân vào khu vực năng lượng là một điều rất cần thiết và đáng khuyến khích.

Hạ tầng cơ sở nói chung và năng lượng nói riêng là hàng rào cản tiến bộ kinh tế của Việt-Nam trong nhiều năm qua và trong thập niên sắp tới, nếu Việt-Nam không thực hiện nhanh chóng những cải tổ cần thiết. Trong giai đoạn chuyển tiếp hiện nay, giá điện lực có thể gia tăng. Nhưng trong dài hạn, nếu Việt-Nam quyết tâm thực hiện thị trường điện lực cạnh tranh đúng nghĩa, giá cả sẽ ổn định theo luật cung cầu. Đối với Việt-Nam, hoạch định và thực hiện chính sách là hai vấn đề có thể khác nhau. Mức độ thành công của khu vực điện lực phần lớn dựa vào rủi ro này.

Giáo sư Nguyễn Quốc Khải là cựu chuyên viên của Ngân hàng Thế giới. Từng giảng dạy tại trường Cao học quốc tế vụ thuộc trường đại học Johns Hopkins ở Washington D.C