NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Ngân hàng nội dè chừng nhà băng ngoại

Kể từ ngày 01-04-2007, các ngân hàng con 100% vốn nước ngoài có quyền tồn tại bình đẳng, được ưu đãi và thực hiện phần lớn các nghiệp vụ như một nhà băng nội địa. Giới kinh doanh dịch vụ ngân hàng lo ngại về nguy cơ thị phần bị thu hẹp. Nhưng với các nhà băng ngoại, mở cửa như thế vẫn chưa đủ.

Theo biểu cam kết trong lĩnh vực ngân hàng, các tổ chức tín dụng nước ngoài đang hoạt động ở Việt Nam sẽ được phép phát hành thẻ tín dụng ngay khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), sớm hơn 4 tháng so với kế hoạch. Họ cũng được phép thực hiện hàng loạt nghiệp vụ quan trọng khác như các ngân hàng trong nước, trong đó có huy động tiền gửi; cho vay dưới mọi hình thức, kể cả tín dụng tiêu dùng, cầm cố, thế chấp; thuê mua tài chính; thanh toán và chuyển tiền... Các ngân hàng ngoại được phép cung cấp dịch vụ bảo lãnh và cam kết, kinh doanh trên tài khoản, môi giới tiền tệ, tư vấn trung gian...

Một số cam kết khác cũng khá thoáng so với các cam kết trước đây với Mỹ trong Hiệp định Thương mại song phương BTA. Chẳng hạn, mô hình ngân hàng con 100% vốn nước ngoài chính thức được phép hoạt động kể từ ngày 01-04-2007 , sớm hơn 2 năm so với BTA. Một khi đã thành lập ngân hàng con, họ được phép đối xử bình đẳng như các nhà băng trong nước, chỉ trừ một số quy định về quy mô tài chính và việc mở chi nhánh.

Ngoài ra, 5 năm sau khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ dỡ bỏ mức trần huy động vốn VND, miễn sao việc huy động đó vẫn đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng. Cụ thể, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép nâng dần tỷ lệ huy động vốn bằng tiền đồng từ các khách hàng không có quan hệ tín dụng. Tỷ lệ này của năm 2007 là 650% vốn mà ngân hàng mẹ cấp cho chi nhánh. Trong 3 năm tiếp theo được nâng lên lần lượt là 800-900-1.000%. Từ 01-01-2011, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép huy động tiền đồng như các nhà băng nội địa.

Nguy cơ mất miếng bánh ngon nhất

Ngân hàng Nhà nước thừa nhận những cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng rộng rãi hơn nhiều so với các thành viên WTO khác. Việt Nam còn chấp nhận dỡ bỏ những rào cản vốn được coi là công cụ quan trọng để hạn chế hoạt động của các ngân hàng nước ngoài tại thị trường nội địa. Chẳng hạn, trước đây có quy định chỉ cho phép ngân hàng nước ngoài mở chi nhánh khi nền kinh tế có nhu cầu. Nay, các ngân hàng ngoại chỉ cần đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn sẽ được phép mở chi nhánh.

"Một khi đã hoạt động dưới hình thức 100% vốn nước ngoài, họ được coi như một pháp nhân Việt Nam. Với 3 lợi thế lớn là công nghệ, vốn và quản trị, các ngân hàng nước ngoài thừa khả năng cung cấp dịch vụ với chất lượng cao hơn, quản lý rủi ro tốt hơn. Đấy là thách thức không nhỏ với các ngân hàng trong nước", Vụ trưởng Vụ Các ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) Kiều Hữu Dũng nhận định. Với ưu thế cạnh tranh của mình, các ngân hàng nước ngoài sẽ tấn công mạnh vào thị trường "ngon" nhất, nơi có những khách hàng lớn, mức độ tín nhiệm cao và đặc biệt là ở các đô thị lớn.

Ông Dũng cho biết thêm các ngân hàng nước ngoài tỏ ra quan tâm tới thị trường bán lẻ và thời gian gần đây còn xin mở chi nhánh ở các tỉnh ngoài Hà Nội, TP HCM. Tín hiệu này cho thấy các nhà băng ngoại quan tâm tới cả những khách hàng có độ tín nhiệm thấp hơn để mở rộng thị trường trong giai đoạn đầu mới xâm nhập.

"Hầu hết các lĩnh vực đều mở toang. Các ngân hàng nước ngoài được triển khai những nghiệp vụ quan trọng mà ngân hàng trong nước đang và có ý định thực hiện. Nguy cơ giảm thị phần là có thật. Việc chia xẻ khách hàng lớn cũng sẽ xảy ra", Phó tổng giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Nguyễn Thu Hà thốt lên.

Với các nghiệp vụ tài chính mới, chẳng hạn kinh doanh ngoại hối, ngân hàng nước ngoài tỏ ra vượt trội hơn hẳn bởi đã đi trước rất nhiều năm, có bề dày kinh nghiệm và đã gặt hái thành công. Các ngân hàng trong nước mới học theo nhưng khó đuổi kịp, bởi đây là những nghiệp vụ rủi ro cao.

Ở các dịch vụ truyền thống như huy động tiền gửi, cho vay... ngân hàng trong nước có lợi thế là người đến trước, mạng lưới hoạt động rộng khắp và am hiểu tâm lý khách hàng bản địa. Tuy nhiên, những lợi thế này cũng có thể mất đi, khi các ngân hàng nước ngoài hoà nhập vào thị trường, sẵn sàng giảm giá dịch vụ. Hơn nữa, tâm lý sính ngoại của người tiêu dùng trong nước cũng là cơ hội để các ngân hàng ngoại khuếch trương thanh thế và lấn chiếm thị phần.

Ngân hàng nước ngoài chưa thoả mãn

Cả năm nay, khối ngân hàng nước ngoài đã sốt sắng chuẩn bị cho ngay Việt Nam mở cửa thị trường tài chính. Hồ sơ xin mở thêm chi nhánh, văn phòng đại diện được gửi lên Ngân hàng Nhà nước ngày một nhiều hơn. Những chuyến viếng thăm của lãnh đạo cấp cao các tập đoàn tài chính, ngân hàng quốc tế cũng dày đặc hơn. Song khi tiếp cận với các cam kết mở cửa của Việt Nam, không ít đơn vị thấy hoang mang.

"Chúng tôi rất mong muốn mở rộng hoạt động và tăng cường sự hiện diện của mình tại đây. Việt Nam cho phép thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài từ ngày 01-04-2007 , thông tin này rất hấp dẫn. Song chúng tôi không biết cách thức tham gia như thế nào, nếu thành lập ngân hàng con, chúng tôi sẽ được phép mở bao nhiêu chi nhánh, cần bao nhiêu vốn, còn những điều kiện gì ràng buộc?", Tổng giám đốc Ngân hàng Hong Kong Thượng Hải (HSBC) Alan Cany băn khoăn.

Một nguồn tin thân cận với đoàn đàm phán về WTO của Việt Nam cho biết, dù chấp nhận mở cửa ở hầu hết các phân ngành dịch vụ ngân hàng, song phía Việt Nam đã thắng lợi khi cài thêm được một số yêu cầu mang tính kỹ thuật. Chẳng hạn, muốn lập một ngân hàng con 100% vốn nước ngoài, ngân hàng mẹ phải có tổng tài sản tối thiểu 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn. Nếu muốn mở chi nhánh, ngân hàng mẹ phải có tài sản trên 20 tỷ USD. Chưa hết, yêu cầu về vốn đối với mỗi chi nhánh là 15 triệu USD. Và khi đã thành lập chi nhánh, họ sẽ không được mở thêm các điểm giao dịch khác ngoài trụ sở chi nhánh. Với những yêu cầu này, các ngân hàng ngoại sẽ gặp khó nếu muốn mở rộng hoạt động.

Việt Nam cũng kiên quyết giữ quyền hạn chế sự tham gia mua cổ phần của các tổ chức tín dụng nước ngoài trong ngân hàng nội địa. Tổng số cổ phần mà các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trong mỗi ngân hàng cổ phần của Việt Nam không vượt quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng. Và ngay cả khi ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên sàn, hạn mức đó vẫn giữ nguyên.

Tuy nhiên, theo ông Kiều Hữu Dũng, những rào cản kỹ thuật kể trên chỉ hạn chế một phần sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài. Các ngân hàng trong nước phải tự tăng cường năng lực hơn nữa nếu muốn cạnh tranh trên sân chơi bình đẳng.

Điều mà cơ quan quản lý nhà nước lo ngại chính là nguy cơ bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ tài chính giữa người giàu, người nghèo, giữa đô thị và nông thôn, khi mở cửa thị trường. Cạnh tranh khốc liệt, cả khối ngân hàng trong nước cũng như nước ngoài đều muốn giành giật khách hàng lớn, có độ tín nhiệm cao và chiếm giữ thị phần ở khu vực đô thị. Dịch vụ tài chính nông thôn, nhất là dịch vụ cho người nghèo có thể bị bỏ ngỏ. "Khi ấy, cần tăng cường sức mạnh của các ngân hàng đang hoạt động chủ yếu ở nông thôn, như Ngân hàng Nông nghiệp hay Ngân hàng Chính sách Xã hội. Đồng thời khuyến khích sự phát triển của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân...", ông Dũng khuyến cáo.

Song Linh