NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Cây trồng biến đổi gen ở Việt Nam : Vẫn còn mơ hồ

Ở Việt Nam, có ba cây trồng biến đổi gen đã hiện diện là lúa, ngô và bông. Một tỷ lệ nhất định các sản phẩm biến đổi gen đã có mặt trong thức ăn chăn nuôi. Song, các nhà quản lý, nhà khoa học hiện vẫn chưa nắm được có bao nhiêu diện tích, chủng loại cây biến đổi gen.

Chủ trương của Việt Nam là cho phép trồng cây biến đổi gen và đẩy mạnh phát triển loại thực vật, động vật này. Mới đây nhất, Thủ tướng Chính Phủ đã ký quyết định đồng ý về Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng Công nghệ sinh học trong lĩnh vực Nông Nghiệp - Phát Triển Nông Thôn đến năm 2020.

Theo đó, ngoài việc đưa một số giống cây trồng biến đổi gen vào sản xuất, Việt Nam sẽ tiến tới ứng dụng thành công nhân bản vô tính ở động vật... Mỗi năm, Ngân sách Nhà nước chi khoảng 100 tỷ đồng cho chương trình.

Tất nhiên, Chính phủ cũng yêu cầu phải bảo đảm 100% sinh vật biến đổi gen lưu hành trên thị trường đã qua đánh giá rủi ro tại Việt Nam, được dán nhãn và bị theo dõi, giám sát theo quy định; trên 50% dân số được tiếp cận với thông tin và được tham gia ý kiến trong quyết định cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học.

Kết quả điều tra của Bộ Nông Nghiệp - Phát Triển Nông Thôn, công bố tại một cuộc hội thảo về thực phẩm biến đổi gen hồi tháng 9/2007 cho thấy, hầu hết các mẫu thức ăn chăn nuôi (TACN) có mặt trên thị trường đều chứa sản phẩm biến đổi gen (ngô và đậu tương) với một tỷ lệ nhất định nào đó. Phần lớn TACN được nhập theo con đường chính thức thông qua các công ty liên doanh với nước ngoài.

Bộ Nông Nghiệp - Phát Triển Nông Thôn cũng nhận định, rất có thể một số thực phẩm chế biến từ đậu tương, ngô, cải dầu... trên thị trường cũng có chứa sản phẩm biến đổi gen mà ngoài nhãn mác không hề ghi thông báo "sản phẩm biến đổi gen".

Hiện nay, ba cây trồng biến đổi gen hiện có mặt tại Việt Nam là lúa, ngô và bông. Trong một số mẫu ngô biến đổi gen (mang gen BT) được trồng lẫn với ngô bình thường tại TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, các nhà khoa học đã xác định có hiện tượng trội gen. Đáng lưu ý, các giống ngô mới này trên đồng ruộng Việt Nam được một số công ty nước ngoài, thông qua trung gian, đưa trực tiếp cho nông dân trồng và bao tiêu toàn bộ sản phẩm.

Người dân tại Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cũng đã trồng bông biến đổi gen một cách tự phát. Thậm chí, tại ĐBSCL và các tỉnh phía Bắc như Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Nghệ An có tình trạng nhập giống lúa biến đổi gen từ biên giới về bán lại cho các hộ nông dân gieo trồng.

Song, tại Hội thảo về "Thành tựu và hiện toàn cầu về thương mại Công nghệ sinh học / cây trồng biến đổi gen năm 2007", do Viện Di truyền Nông nghiệp ( Bộ Nông Nghiệp - Phát Triển Nông Thôn ) và Cơ quan Dịch vụ quốc tế về khuyến khích ứng dụng Công nghệ sinh học nông nghiệp , diễn ra hồi đầu tuần, các nhà quản lý, nhà khoa học thừa nhận, chưa có một con số thống kê chính xác về diện tích, chủng loại cây trồng biến đổi gen ở Việt Nam. Rồi những băn khoăn về việc sử dụng thực phẩm biến đổi gen với gia súc và con người, liệu có đảm bảo an toàn ?

Chính vì thế, tuy 23 nước trên thế giới đã cho phép trồng cây biến đổi gen với tổng diện tích 114 triệu ha (năm 2007), 29 quốc gia đồng ý nhập loại sản phẩm này, nhưng chính TS. Randy Hautea, điều phối viên toàn cầu của Cơ quan Dịch vụ quốc tế về khuyến khích ứng dụng Công nghệ sinh học nông nghiệp , thừa nhận, rất nhiều nước đang chần chừ với loại cây trồng này.

GS.TS Võ Tòng Xuân, thành viên điều hành của Cơ quan Dịch vụ quốc tế về khuyến khích ứng dụng Công nghệ sinh học nông nghiệp tại Việt Nam, nhận xét, trong khi có nhiều nước mạnh dạn phát triển cây trồng biến đổi gen thì nhiều quốc gia vẫn rất phân vân, dè dặt. Điển hình, tại EU, ngoại trừ Ba Lan và một số nước, hầu hết các thành viên còn lại đều không nhập thực phẩm biến đổi gen. Ở Ấn Độ - nước đã cho phép trồng cây biến đổi gen, đến nay vẫn còn rất nhiều ý kiến tranh cãi.

Lý giải nguyên nhân này, TS. Randy Hautea cho rằng, đó là do các nước chưa đủ điều kiện đồng bộ, chưa tiếp cận được KHCN hoặc có vướng mắc về thủ tục, cơ chế, chính sách...

GS. Võ Tòng Xuân nói thêm, ở các quốc gia đó, người dân, nhà quản lý chưa hiểu rõ về cây trồng biến đổi gen, mới nhìn thấy mặt bất lợi của giống biến đổi. Đối với Việt Nam, do giá lương thực thực phẩm cao, cây trồng năng suất còn hạn chế. Vì vậy, để thúc đẩy sản xuất hàng hoá lớn, cần ứng dụng hài hoà cả kỹ thuật mới ( Công nghệ sinh học ) và sản xuất truyền thống của người dân. Bước khởi đầu, phải thông báo rộng rãi kiến thức về cây trồng biến đổi gen tới các nhà lập pháp, nhà khoa học, bà con nông dân... để mọi người hiểu biết về cây trồng mới.

Thời gian tới, các tổ chức quốc tế sẽ phối hợp với Việt Nam sản xuất giống lúa chịu hạn, không chỉ trồng được ở vùng trung du thiếu nước mà cây lúa này sẽ sống được ở cả vùng miền núi khô cạn. Việt Nam có thể sẽ ứng dụng Công nghệ sinh học vào việc trồng bông vải, khoai lang, ngô, đậu tương, đu đủ.

Liệu sản phẩm từ cây trồng biến đổi gen có an toàn ? GS.TS Lê Đình Lương - Đại học Quốc gia Hà Nội, khẳng định: "Nhiều tổ chức khoa học quốc tế đã nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng sử dụng thực phẩm có nguồn gốc từ ADN tái tổ hợp là an toàn".

TS. Randy Hautea cũng cho biết, tại Mỹ, thực phẩm biến đổi gen chiếm tới 70%, điển hình như đu đủ, bí ngô; tại Nam Phi là ngô trắng, Philippines là ngô vàng... Tất cả đều được sử dụng làm thực phẩm cho gia súc và con người. Với kinh nghiệm 12 năm trong lĩnh vực này, Randy Hautea nói thẳng ông chưa thấy có trường hợp nào bị ngộ độc hay gặp vấn đề về sức khoẻ do ăn các sản phẩm biến đổi gen.

Hà Yên

Chuyển gen, tăng năng suất 4 loại cây trồng Việt Nam

Bốn loại cây được sử dụng cho chăn nuôi gồm : ngô, đậu nành, khoai mì, khoai tây là những cây mà Việt Nam cần áp dụng chuyển gen để tăng năng suất càng nhanh càng tốt. Và chưa nên ứng dụng đối với các cây khác như: hồ tiêu, lúa, cà phê để tránh ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà nhập khẩu trên thế giới.

Thông tin trên được TS. Nguyễn Quốc Bình, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ sinh học TP.HCM cung cấp tại hội thảo “Công nghệ sinh học cho cây trồng ở Việt Nam: Hướng phát triển cho tương lai” do Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán Hoa Kỳ tổ chức ngày 29/9.

Diễn giả chính của buổi hội thảo là TS. Paul S.Teng (Đại học Nanyang, Singapore) - một trong những người có nhiều kinh nghiệm về công nghệ sinh học trên thế giới. Ngoài ra, hội thảo còn có sự tham dự của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ sinh học đến từ các viện, trường đại học trên địa bàn TP.HCM và các tỉnh khu vực phía Nam, miền Trung và Tây Nguyên.

Trong phần báo cáo của mình tại hội thảo, TS. Paul S.Teng đã trình bày vai trò của công nghệ sinh học cũng như những công việc cần thiết để phát triển việc sử dụng Công nghệ sinh học trong nông nghiệp.

Theo TS. S.Teng, những ứng dụng của Công nghệ sinh học trong nông nghiệp gồm việc cải tiến chọn giống truyền thống bằng chọn giống nhờ chỉ thị phân tử; các phương pháp xác định sớm, chẩn đoán và nâng cao kiến thức về di truyền và sinh thái quản lý đa dạng sinh học. Công nghệ sinh học sẽ giúp tăng tiềm năng năng suất và năng suất thực tế cũng như giảm thiểu mất mát do sâu bệnh và cỏ dại cũng như giảm chi phí công lao động cho việc làm cỏ và phun thuốc trừ sâu.

Nói về lợi nhuận của cây trồng biến đổi gen, TS. Paul S.Teng đã chỉ ra những ưu điểm cụ thể của việc áp dụng cây chuyển gen như: tăng năng suất và thu nhập, giúp bảo vệ đa dạng sinh học; tác động tốt đến môi trường, giảm các tác động từ bên ngoài vào; lợi ích về mặt xã hội cũng như việc cung cấp thực phẩm thức ăn cho chăn nuôi được cung cấp nhiều hơn.

Cũng tại buổi báo cáo, các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ sinh học Việt Nam cũng có những báo cáo về việc nghiên cứu chuyển gen như: “Nghiên cứu chuyển nạp gen ở đậu tương và tạo dòng đậu tương biến đổi gen kháng sâu” của TS. Trần Thị Cúc Hoa ( Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long ); “Nghiên cứu khả năng làm tăng tuổi thọ hoa cúc nhờ chuyển gen IPT tạo CyTokinni” của tác giả Nguyễn Hữu Hồ và cộng sự ( Viện sinh học nhiệt đới )…

Sau khi nghe các nhà nghiên cứu khoa học Việt Nam trình bày tại hội thảo, TS. Paul S.Teng cho biết ông rất ấn tượng với năng lực triển khai của các viện, trường đại học Việt Nam. Tuy nhiên, việc đưa những ứng dụng nói trên ra đồng ruộng, tới bàn ăn cũng như tới tay người tiêu dùng còn rất xa vời. Nguyên nhân là các nhà khoa học Việt Nam còn thiếu cơ sở pháp lý để có thể triển khai áp dụng nghiên cứu của mình vào thực tế.

Để thực hiện được điều mà các đồng nghiệp Việt Nam báo cáo tại hội thảo, TS. Paul Teng cho rằng nhất thiết phải triển khai các ruộng mẫu, sau đó thử nghiệm nhân giống tại nhiều địa phương trên cả nước. Sau cùng là đảm bảo và chứng minh được tính an toàn của thực phẩm bằng các chứng cứ khoa học.

Mai Loan

Đến 2015, Việt Nam sẽ trồng đại trà cây biến đổi gien

Việt Nam đã tạo ra được một số dòng cây trồng biến đổi gien và hiện đang được đánh giá ở phòng thí nghiệm. Muộn nhất là năm 2015, Việt Nam sẽ có giống cây biến đổi gien để đưa ra trồng đại trà.

Thông tin trên được PGS.TS Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp ( Viện Khoa học Nông nghiệp ), xác nhận tại hội thảo do Bộ Nông Nghiệp - Phát Triển Nông Thôn tổ chức ngày 13/2, tại Hà Nội.

Ông Hàm cho biết, từ năm 2006, khi Chính phủ phê duyệt chương trình công nghệ sinh học trong nông nghiệp thì Việt Nam bắt đầu có một số dự án về nghiên cứu cây trồng biến đổi gien.

Đến nay, mới sau hơn 2 năm, Việt Nam đã có một số thành tựu ban đầu.

Chẳng hạn, Viện Công nghệ sinh học, Viện Di truyền nông nghiệp, Viện Lúa ĐBSCL... và một số trường đại học đã tạo ra được một số dòng cây trồng biến đổi gien, đang được đánh giá ở phòng thí nghiệm. Sau đó, chúng được nghiên cứu khi trồng trong nhà lưới, nhà kính và cuối cùng là trên đồng ruộng.

"Tới khoảng năm 2015 Việt Nam mới có giống cây trồng biến đổi gien của các nhà khoa học trong nước tạo ra", ông Hàm nói.

Các cây trồng được ưu tiên nghiên cứu để biến đổi gien là lúa, ngô, bông, đậu tương - là những cây lương thực, thực phẩm quan trọng nhất ở Việt Nam. Hằng năm, nước ta đang phải nhập khẩu nhiều triệu tấn nên việc tăng sản lượng những cây trồng này là nhu cầu rất cấp bách.

Còn với lúa, theo ông Hàm, do là nước xuất khẩu nên giai đoạn này Việt Nam sẽ hạn chế việc nghiên cứu, tạo giống lúa biến đổi gien trong phòng thí nghiệm.

Báo cáo mới nhất của Cơ quan dịch vụ quốc tế về khuyến khích ứng dụng Công nghệ sinh học nông nghiệp, công bố tại hội thảo này, cho thấy, trên thế giới, cây trồng biến đổi gien tăng mạnh về diện tích, lên tới 800 triệu ha.

25 quốc gia đang tham gia nghiên cứu, sản xuất giống cây trồng này, trong đó chủ yếu là các nước đang phát triển (15 nước).

TS. Randy Hautea, điều phối viên toàn cầu của Cơ quan dịch vụ quốc tế về khuyến khích ứng dụng Công nghệ sinh học nông nghiệp, cho biết, đến năm 2009, Burkina Faso và Ai Cập ở châu Phi đưa cây trồng biến đổi gien vào canh tác. Bolivia lần đầu tiên trồng đậu tương chuyển gien. Các nước đã trồng cây Công nghệ sinh học tiếp tục trồng thêm những giống cây mới.

Đến thời điểm này, tổng diện tích đất trồng cây biến đổi gien trên toàn thế giới đạt mức 2 tỷ mẫu Anh ( tương đương 800 triệu ha ), trong đó nhiều nhất là Mỹ ( 62,5 triệu ha ), Arghentina ( 21 triệu ha ), Brazil ( 15,8 triệu ha ), Ấn Độ ( 7,6 triệu ha ), Canada ( 7,6 triệu ha )...

Đậu tương vẫn là giống cây được trồng nhiều nhất trong năm 2008 (66 triệu ha), chiếm 53% diện tích đất trồng cây Công nghệ sinh học trên toàn cầu, tiếp đó là ngô ( 37 triệu ha ), bông ( 15,5 triệu ha ) và cải canola ( 5,9 triệu ha ). Ấn Độ là nước có số lượng người tham gia trồng cây biến đổi gien nhanh nhất.

Cây trồng biến đổi gien phát triển mạnh mẽ góp phần không nhỏ vào bảo đảm an ninh lương thực, TS. Randy Hautea đánh giá. Trong số 44 tỷ USD lợi nhuận tăng thêm nhờ Công nghệ sinh học, có 44% lợi nhuận từ việc tăng năng suất cây trồng, 56% lợi nhuận giảm từ chi phí sản xuất.

Năm 2007, tổng sản lượng tăng thêm trên toàn thế giới của bốn loại cây Công nghệ sinh học chủ yếu (đậu tương, bông, ngô, canola) là 32 triệu tấn, nếu chỉ sử dụng những giống cây thường, người nông dân sẽ phải cần thêm 10 triệu ha đất trồng để sản xuất ra số sản phẩm nông nghiệp trên.

Hà Yên