NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Cần có chính sách toàn diện và đồng bộ đối với Kiều bào ở nước ngoài - Chuyên Gia Tài Chính Bùi Kiến Thành , Kiều bào Mỹ

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là “một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc”, chính sách của nhà nước Việt Nam đã khẳng định và Nghị quyết ngày 26.03.2004 của Bộ Chính Trị cũng đã xác định điều này.

Người Việt Nam ở nước ngoài

Hiện nay có gần 3 triệu người Việt Nam sinh sống trên hơn 90 quốc gia. Từ ngày một nửa anh em theo Mẹ lên non và một nửa theo Cha xuống biển, dân tộc ta chưa từng có cơ hội để toả rộng ra khắp năm châu như vậy. Mặc dầu hoàn cảnh lịch sử có phần đặc biệt, nhưng thực tế là dân ta đã thực hiện một đợt di dân vĩ đại để bám rễ trên mọi châu lục của địa cầu. Người Việt Nam ta đến với quê hương thứ hai với ý chí xây dựng một đời sống mới và đã thực hiện được những thành công rực rỡ.

Riêng ở Mỹ, hơn 30% người gốc Việt có bằng đại học, trên 10% có trình độ cao học. Các nhà khoa học Việt Nam có tên trên hầu hết các lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Trong số các nhà kinh doanh Việt Nam đã có người được liệt vào hàng thành đạt bậc nhất. Mỗi năm học sinh Việt Nam đều dẫn đầu ở các trường tiểu học và trung học Mỹ. Cứ đến cuối năm học là toàn nước Mỹ tuyên dương thành tích của học sinh, và các trẻ em Việt Nam luôn được biểu dương để làm gương cho bạn học. Theo thống kê của Bộ Lao Động Hoa Kỳ, từ 1975 cộng đồng người Việt Nam đã góp phần đưa cộng đồng gốc Châu Á lên hàng đầu trong tất cả các sắc tộc ở Mỹ, kể cả người da trắng, về trình độ học vấn và thu nhập bình quân gia đình.

Sau thời kỳ xây dựng tư thế của mình, đồng bào Việt Nam ở nhiều nơi đã thể hiện mạnh mẽ “trọng lượng” của mình trong các hoạt động cộng đồng. Tại nhiều địa phương, tiểu Bang của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ lá phiếu của người Việt Nam đã có uy thế quyết định trong các cuộc bầu cử đại biểu thành phố và đại biểu Quốc Hội, đã có quyền lực ảnh hưởng đến nghị quyết của các cơ quan lập pháp và hành pháp.

Nhưng dù ở phương trời nào, ở cương vị nào, đa số người Việt Nam vẫn không quên dòng máu trong tim, luôn luôn hướng về quê hương đất tổ. Người Việt khắp nơi hoan nghênh tinh thần đoàn kết dân tộc và mong muốn góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam an bình, hạnh phúc, ấm no, tự do, độc lập, một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Nhưng làm thế nào để tạo cái khí thế để trăm người như một, “xoá bỏ mặc cảm, định kiến, xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai”?

Nghị Quyết 36 đã khẳng định: “Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài… đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết dân tộc”. Quyết tâm là như vậy nhưng làm thế nào để chính sách thật sự đi vào cuộc sống, được thể hiện bằng những quyết định và hành động có sức thu phục lòng người?.

Đa số bà con ra đi trong hoàn cảnh đất nước loạn lý, gia đình phân tán. Một phần ba thân nhân chìm trong đáy biển. Số còn lại mang trong tâm khảm những ác mộng kinh hoàng ngày đêm lênh đênh trên sóng, dở sống dở chết, không biết sẽ trôi dạt về đâu; hay sẽ làm mồi cho hải tặc? Làm sao hàn gắn những vết thương này để anh em ngồi lại với nhau bàn chuyện tương lai?

Trong cơ thể “một bộ phận không tách rời”, dù là đầu mình hay tay chân, nếu thiếu một thì con người trở thành tàn phế. Trong cộng đồng dân tộc, đã nhận nhau là anh em một nhà, đồng bào ruột thịt, thì tình như thủ túc, có phước cùng hưởng, có hoạ cùng chịu. Nhưng thực tế ra sao? Từ chính sách đến hành động, giữa lời nói và việc làm còn có bao nhiêu khoảng cách?

Tuy rằng được thừa nhận là thành phần không tách rời của cộng đồng dân tộc, vậy mà mỗi khi về thăm bà con, viếng mộ tổ tiên, chỉ được “tạm trú” với thời gian hạn định rồi phải xếp áo ra đi. Tuy rằng chủ trương chính sách là xoá bỏ quá khứ, nhưng tội “xuất ngoại bất hợp pháp” vẫn chưa có quyết định nào hủy bỏ. Tuy rằng cốt nhục, nhưng cửa nhà, tài sản vẫn bị Nhà nước sung công, tiếp quản. Tuy rằng cơ chế đổi mới khuyến khích tự do kinh doanh, làm giàu cho bản thân và đất nước… nhưng những quyết định tịch thu tài sản vì lý do “tư sản mại bản” vẫn còn nguyên đó.

Tâm tư nguyện vọng của bà con người Việt Nam ở nước ngoài không gì hơn là được đối xử theo tình nghĩa anh em, và đạo lý của tổ tiên nghìn năm để lại. Bất kỳ sinh sống cư trú nơi đâu, người Việt Nam vẫn là người Việt Nam.

Tôi vẫn thường được nghe những biện chứng rằng: “Nếu công nhận tất cả người Việt Nam ở nước ngoài là hoàn toàn bình đẳng, đồng quyền lợi với người Việt Nam trong nước thì phức tạp lắm. Hiện nay tình hình chưa cho phép, Nhà nước còn phải bảo vệ an ninh quốc phòng, ổn định chính trị, ngăn ngừa những phần tử phản động. Nhà đất tài sản “vắng chủ” do nhà nước quản lý nay đã quốc hữu hoá, một phần đã hoá giá hoặc phân cho cán bộ. Những công ty xí nghiệp trước giải phóng nay đã biến đổi rất nhiều, một số đang hoặc đã cổ phần hoá. Biết xử lý ra sao? Lấy đâu phương tiện để đền bù nếu phải hoàn trả lại cho chủ cũ?” Vậy thì đạo lý, tình nghĩa anh em ở đâu? đại đoàn kết là như thế nào? Những lý lẽ này có hợp tình hợp lý hay không?

Về lý do bảo vệ an ninh, ổn định chính trị, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam anh hùng đã từng lập nên những chiến công hiển hách “vang dội địa cầu, chấn động năm châu” lẽ nào lại sợ một thiểu số người quấy phá đến đỗi phải hy sinh tình cốt nhục, tinh thần đoàn kết với đại đa số đồng bào ở nước ngoài?

Nhà nước Việt Nam đã tịch thu tài sản của một số người nước ngoài sau ngày giải phóng, nhưng trong quá trình thương thảo đi đến bình thường hoá quan hệ ngoại giao, nhà nước Việt Nam cũng đã giải quyết bồi thường, hoặc trả lại tài sản cho họ. Thậm chí đối với người Mỹ, người Pháp là “đế quốc thực dân, kẻ thù xâm lược” mà vẫn tìm ra được giải pháp để “các bên cùng có lợi”. Các khu khai thác dầu khí trên biển đông, các bất động sản của công dân Mỹ tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các nơi khác, đều nằm trong danh sách những tài sản tranh chấp. Tất cả đều được giải quyết thoả đáng. Vì sao không có thể tìm ra phương thức hợp tình hợp lý đối với bà con anh em người Việt Nam?

Nghị Quyết 26-3 của Bộ Chính Trị khẳng định: “Công tác nghiên cứu, tham mưu về chính sách chưa theo kịp những chuyển biến mới. Công tác bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức. Các chính sách ban hành chưa đồng bộ và chưa thể hiện đầy đủ tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc”. Vậy ta phải làm gì để giải đáp những khiếm khuyết này?

Thay vì dựa vào những sáng kiến lẻ tẻ cá nhân, đóng cửa nghiên cứu, có một phương thức khác là tổ chức một đại hội các tầng lớp đồng bào người Việt Nam từ mọi quốc gia về cùng nhau thảo luận, nêu lên tâm tư nguyện vọng, đề ra chính sách.

Về cơ bản có những đề tài sau đây đề nghị được xem xét:

Xếp lại quá khứ

Cái hố chia cách giữa người Việt Nam trong nước và nước ngoài bắt nguồn từ trong chiến tranh. Trong mọi gia đình Việt Nam đều có anh em người ở bên này, người ở bên kia chiến tuyến. Nay những định kiến đã đổi thay. Vậy ta không nên tiếp tục tranh luận đúng sai, phải quấy mà nên có quyết định dứt khoát “xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai” (trích Nghị Quyết 36).

Để quyết định này có cơ sở pháp lý và tác động tâm lý lớn, đề nghị Chính phủ nghiên cứu và trình lên Quốc Hội thông qua một nghị quyết chính thức huỷ bỏ những định chế không còn phù hợp, xoá bỏ tội trạng, hình phạt liên quan đến chiến tranh, ngoại trừ những trường hợp cụ thể, đích tội, đích danh, cần phải truy tố trước pháp luật.

Trang sử chiến tranh cần phải được xếp lại, có như vậy thì những vướng mắc pháp lý, định kiến, mặc cảm, mới hoá giải hết.

Công nhận người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam

Chính sách nhà nước là vận động khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước, nhưng lại còn dè dặt không công nhận quyền công dân của bà con, anh em, thì chưa đủ sức thuyết phục mọi người đồng tâm nhất trí.

Đây là một đề tài cần phải được nghiên cứu trên cơ sở pháp lý và đạo lý.

Chúng ta thử suy nghĩ về kinh nghiệm của Israel đối với cộng đồng người Do Thái trên thế giới. Suốt hơn 2.000 năm lưu vong người Do Thái bất kỳ ở nơi đâu, bất kỳ có quốc tịch nào, cũng là con dân và công dân Do Thái. Và từ khắp mọi nơi người Do Thái luôn luôn ghi tạc trong tâm trí tinh thần đoàn kết dân tộc. Dù là cư trú tại Pháp, quốc tịch Đức, tỷ phú Mỹ, nhưng ưu tiên vẫn là đất nước Israel.

Chỉ có non 5 triệu người trong số gần 280 triệu dân Mỹ, nhưng với uy thế của mình trong cơ chế quyền lực của nước Mỹ, cộng đồng Do Thái đã áp lực chính quyền Liên Bang Mỹ ủng hộ cho lập trường của Israel trong bất cứ cuộc tranh chấp nào, trên chiến trường cũng như trên diễn đàn quốc tế. Chiến tranh tại Trung Đông, những cuộc tranh luận và bỏ phiếu tại Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc đã minh chứng điều này. Mỹ luôn luôn ủng hộ Israel. Có thể nói cộng đồng người Do Thái thế giới là một sức mạnh bảo vệ an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế cho đất nước Israel.

Một triệu người Việt Nam bên Mỹ đã bắt đầu dựng lên cái uy thế của mình. Rồi đây cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài từ 3 triệu người sẽ tăng lên 5 -10 -20 triệu người, cái uy thế ấy sẽ là một sức mạnh đáng kể nếu được tập hợp thành một khối đại đoàn kết hướng về quê cha đất tổ.

Đề nghị Mặt Trận Tổ Quốc phối hợp với Chính phủ thành lập một tổ nghiên cứu, tổ chức một đại hội lấy ý kiến của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, và thực hiện một cuộc trưng cầu ý dân lấy quyết định trình lên Quốc Hội phê duyệt.

Giải quyết tài sản “vắng chủ” do nhà nước quản lý

Đa số bà con ra đi sau chiến tranh không có phạm lỗi gì đối với đất nước. Phần lớn chỉ vì không đồng chính kiến, và sợ bị hình phạt hay trả thù. Với những chuyển biến mới, chúng ta nên xem xét vấn đề này trên cơ sở đạo lý làm người và định hướng đại đoàn kết dân tộc.

Chúng ta thử nghiên cứu kinh nghiệm của các nước như Pháp, Đức sau thời kỳ thế chiến đã giải quyết vấn đề này ra sao? Sau ngày giải phóng đất nước, liên minh cầm quyền không hề xâm phạm đến nhà cửa, tài sản, xí nghiệp nào của bất kỳ ai. Các công dân Pháp tản mát khắp nơi trên thế giới đều được tự do trở về và khôi phục lại những tài sản bị trưng dụng trong thời kỳ chiến tranh. Các công nghiệp quốc hữu hoá đều được đền bù hợp lý. Do chính sách bảo hộ quyền lợi chính đáng của mọi người, vốn và nhân tài người Pháp khắp nơi đổ về đầu tư trong nước. Sau một thời gian không quá mười năm nước Pháp và nước Đức không những khắc phục được hậu quả của chiến tranh, mà còn nhanh chóng phát triển trở thành những cường quốc kinh tế.

Và nước Mỹ đã đối xử với đồng bào của họ ra sao, sau khi nội chiến 1860-1865 kết thúc? Quốc hội liên bang đã thông qua những đạo luật công bằng xã hội, xoá bỏ dấu vết chiến tranh, lập ngân sách tái thiết đất nước, phát huy tự do kinh doanh. Chính quyền liên bang áp dụng chính sách bảo vệ công bằng, dân chủ đối với mọi người. Không để xảy ra tình trạng “được làm vua, thua làm giặc”. Tất cả các tiểu bang của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đoàn kết nhất trí, nhanh chóng phát triển để trở thành một siêu cường quốc.

Đành rằng giải quyết vấn đề tài sản này trong bối cảnh Việt Nam không phải là đơn giản. Nhưng “Không có việc gì khó - chỉ sợi lòng không bền”.

Về nhà đất, nếu vì nhiều lý do chính đáng không thể hoàn trả được thì đền bù hoặc thay thế bằng một nơi khác. Chính sách này vẫn được áp dụng cho công tác giãn dân hay giải toả.

Về các tài sản khác, công ty, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, nếu không hoàn trả lại được 100% thì có thể xem xét đền bù hoặc chuyển nhượng lại một số cổ phần hợp lý.

Trong ví dụ thanh toán tài sản của người Mỹ bị tịch thu sau 1975 nói trên, về cơ sở pháp lý, Quốc Hội Mỹ ban hành một đạo luật (Public Law 96-606) qui định những điều kiện đăng ký, cứu xét, kiểm tra, thanh toán những tài sản Mỹ bị Việt Nam tịch thu. Theo tài liệu được phổ biến ngày 25.02.1988 tổng số có 192 hồ sơ được kiểm tra và thừa nhận, trị giá 99.471.983 USD theo thời điểm 1975. Tính đến năm 1994 số tiền đền bù lên đến khoảng 250 triệu USD.

Chính phủ đã thương thảo và giải quyết bồi thường với chính phủ Hoa Kỳ, mở đường cho bình thường hoá quan hệ ngoại giao.

Những gì ta đã làm được với người Mỹ, ta có thể làm được đối với đồng bào ta. Nhà nước đã nêu cao đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Giải quyết tài sản “vắng chủ” thế nào cho hợp tình hợp lý là một tiền đề để “bình thường hoá” quan hệ với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Để triển khai việc này đề nghị Chính phủ nghiên cứu và trình lên Quốc Hội một đạo luật quy định các thể thức đăng ký, kiểm tra, và giải quyết.

Mong sao những quyết định hợp tình hợp lý sớm được thực hiện, và đồng bào khắp nơi tích cực hưởng ứng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vì một đất nước Việt Nam an bình hạnh phúc.