NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Cần sớm xây dựng ngành Công nghiệp vi sinh vật - GS Nguyễn Lân Dũng

Chương trình Công nghệ sinh học đã được nhiều bộ, ngành triển khai và đã thu được một số thành tựu bước đầu trong các lĩnh vực phục vụ công nông nghiệp và y học. Tuy nhiên để biến công nghệ sinh học thành lực lượng sản xuất trực tiếp cần có sự phát triển của các nhà máy Công nghiệp vi sinh vật học ( Industrial Microbiology ), một ngành công nghiệp ứng dụng nhằm sử dụng vi sinh vật đã được lựa chọn hay đã được chuyển gen để tạo ra các sản phẩm có ích cho nhân loại hoặc để ức chế hay loại trừ các vi sinh vật có hại.

Công nghiệp vi sinh vật học đang là lĩnh vực mũi nhọn đem lại các lợi nhuận kếch xù cho công nghệ sinh học. Tôi đã tham quan rất nhiều nhà máy công nghiệp vi sinh vật học ở các nước phát triển và tận mắt thấy rõ cỗ máy làm tiền của các nhà máy dược phẩm sử dụng vi sinh vật. Nước ta cũng đã có các nhà máy công nghiệp vi sinh vật học, nhưng rất tiếc chỉ bó hẹp trong 3 lĩnh vực: Bia, bột ngọt và vaccine.

Một nhà máy vốn 100% nước ngoài có tới 11 nồi lên men, mỗi nồi có dung tích tới 700.000 lít. Vậy mà chắc các bạn không thể tưởng tượng nổi sau mấy ngày lên men mỗi lít dịch lên men cho ra tới 150g bột ngọt hay 100g lysine. Nguyên liệu để lên men chỉ là bột sắn thủy phân (hay gỉ đường) một ít muối khoáng, nước và không khí vô trùng (!).

Ta được gì trong số lợi nhuận thu được: việc làm cho vài nghìn công nhân, có nơi tiêu thụ sắn và gỉ đường, một ít tiền thuế các loại. Nếu đó là nhà máy của chính chúng ta thì hàng năm sẽ đóng góp biết bao nhiêu cho GDP của đất nước. Các nhà máy bia thì hầu như toàn bộ thiết bị và nguyên liệu ( đại mạch, hoa bia...) đều phải nhập khẩu. Chỉ có vaccine là lĩnh vực công nghiệp vi sinh vật học đáng tự hào nhất của ta và cũng vì là lĩnh vực từ lâu đã được đầu tư nhiều nhất cho cả lĩnh vực nghiên cứu lẫn sản xuất.

Chúng ta đã được xác nhận là một trong các nước có tính đa dạng sinh học thuộc loại phong phú nhất thế giới. Cũng như các nước Châu Á khác, chúng tôi (Viện Vi sinh vật và công nghệ sinh học thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội) thường xuyên hợp tác với Nhật để phân lập, định tên, xác định hoạt tính các loài vi sinh vật phân lập từ đất. Đã tìm thấy được rất nhiều loài mới ( đã công bố trên các tạp chí quốc tế ), trong đó có không ít những chủng thuộc các loài ( cũ và mới ) có hoạt tính sinh học rất cao, kể cả khả năng sinh ra các chất kháng sinh quý giá. Nhưng biết rồi để đấy vì chúng ta đâu có các nhà máy công nghiệp vi sinh vật học ngoài 3 lĩnh vực nói trên.

Chúng tôi được biết Nhà nước đang đầu tư 44 tỉ đồng cho Viện Công nghiệp thực phẩm để xây dựng một nhà máy dạng pilot ( thử nghiệm ) chủ yếu phục vụ cho công nghiệp thực phẩm. Chúng tôi cũng đang cố gắng tự xây dựng tại Hoà Lạc một xưởng pilot nhằm hợp tác quốc tế sản xuất các chế phẩm có giá trị cao. Nhưng như vậy là quá ít, quá nhỏ bé và không thể đáp ứng cho nhu cầu thay thế nhập khẩu rất lớn về các sản phẩm công nghiệp vi sinh vật học. Đặc biệt là thuốc kháng sinh và vitamin.

Thật khó tưởng tượng được một nước trên 86 triệu dân vậy mà cho đến nay trên thị trường chưa có 1mg của bất kỳ chất kháng sinh hay vitamin nào được sản xuất trong nước (!). Sản phẩm của công nghiệp vi sinh vật học đâu chỉ có kháng sinh và vitamin mà còn biết bao nhiêu sản phẩm có giá trị cao khác.

Tôi xin kể qua những sản phẩm cũng chỉ từ nguyên liệu chính là bột sắn hay gỉ đường và các chủng vi sinh vật hữu hiệu mà đang thu được những lợi nhuận kếch xù cho những nước có công nghiệp vi sinh vật học phát triển. Ngay những sản phẩm đã có từ vài thế kỷ trước bằng công nghệ lên men thì chúng ta vẫn đang phải nhập khẩu với số lượng khá lớn.

Các sản phẩm phục vụ nông nghiệp chúng ta đã có rất nhiều nghiên cứu nhưng không ra được thị trường chỉ vì thiếu công nghiệp vi sinh vật học. Về thực phẩm từ sữa chúng ta chỉ mới có sữa chua mà chưa làm được phomát ( cheese ). Các enzyme sản xuất ở quy mô công nghiệp hầu như chỉ mới có a-amylase thô được sản xuất ở quy mô rất nhỏ còn hàng chục loại enzyme quan trọng khác chúng ta chưa sản xuất nổi.

Một enzyme được sản xuất theo công nghệ chuyển gen hiện đại là Taq Polymerase được viện chúng tôi sản xuất thành công với giá thành hạ hơn nhập khẩu rất nhiều nhưng cũng rất khó tiêu thụ hoặc xuất khẩu vì nhiều khó khăn rất khó hiểu. Những sản phẩm quan trong nhất, đem lại nhiều lợi nhuận lớn nhất của ngành công nghiệp vi sinh vật học ngoài các chất kháng sinh, vitamin, vaccine ra còn là các sản phẩm mới dùng để chẩn đoán và điều trị bệnh tật.

Quốc hội năm tới dành cho Khoa Học & Công Nghệ tới khoảng 600 triệu USD. Đó là khoản tiền không nhỏ. Vấn đề là chúng ta sử dụng số tiền đó thế nào, có nên dàn trải cho các tỉnh, cho rất nhiều đơn vị nghiên cứu như hiện nay, hay là tập trung giải quyết dứt điểm từng vấn đề quan trọng mà thực tiễn đang đòi hỏi một cách cấp thiết.

Chúng ta đã có những trung tâm nghiên cứu cơ bản về Vi sinh vật học, về công nghệ sinh học. Hãy giao nhiệm vụ và tạo điều kiện cho họ như ta thường giao nhiệm vụ sản xuất vaccine cho một số đơn vị. Nhiều sản phẩm quan trọng không thua kém gì vaccine. Đều là các công nghệ sử dụng sắn, gỉ đường làm nguyên liệu chính nhưng để sản xuất ra các sản phẩm có giá trị cao.

Các nhà sinh học không đồng tình việc đầu tư quá nhiều tiền cho các nhà máy chuyển hóa tinh bột sắn thành cồn sinh học, vì hiệu quả không tương xứng với nguồn đầu tư cho một công nghệ khá đơn giản này. Ngay một ngành công nghiệp vi sinh vật học thật đơn giản là Công nghệ trồng nấm thì chúng ta đã làm từ lâu, chi phí từ ngân sách không ít, nhưng ở đâu có dự án thì dân làm, hết dự án thì dân cũng thôi luôn (!). Các cửa hàng Lẩu nấm toàn nhập nấm từ Trung Quốc. Nguyên nhân là chúng ta không tổ chức sản xuất theo quy mô công nghiệp do các Doanh nghiệp đứng ra hỗ trợ nông dân về công nghệ và thu mua như ở Trung Quốc.

Một chuyện hết sức quan trọng là thay thế thuốc trừ sâu hóa học bằng thuốc trừ sâu sinh học để sản xuất rau an toàn mà hầu như không nơi nào đã làm được, mặc dầu nguồn kinh phí bỏ ra cũng đâu có nhiều? Quy trình thật là đơn giản nhưng nhất thiết phải trồng rau trong nhà lưới ( không có bướm thì hầu như không có sâu, những loại sâu nhỏ như bọ nhạy thì lại rất mẫn cảm với thuốc trừ sâu sinh học ). Điều kiện thiết yếu là phải có các doanh nghiệp đứng ra để tích tụ ruộng đất và nông dân sẽ trở thành các công nhân nông nghiệp. Tôi rất tiếc là ở Hà Nội chưa có doanh nghiệp nào đứng ra làm công việc quan trọng này và các siêu thị ở Thủ đô chưa có mặt hàng Rau có bảo đảm!

Đã đến lúc các cấp quản lý khoa học, kế hoạch, công thương và tài chính cần thấy rõ nếu không xây dựng ngành công nghiệp vi sinh vật học thì không thể phát triển được công nghệ sinh học .