NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Cần lắm thay tiếng nói đồng thuận từ cộng đồng khoa học Việt Nam nói chung và giới công nghệ sinh học Việt Nam nói riêng - TS Nguyễn Đức Thái

Tin về hãng Roche phản kháng NanoGen sản xuất interferon đang gây nhiều xôn xao dư luận ở Việt Nam và đã có những ý kiến rất đa dạng và phức tạp, từ bênh vực cho đến chê trách NanoGen. Bênh vực dựa trên yếu tố xã hội vì con người Việt Nam còn nghèo cần có nguồn thuốc đặc trị nội địa sản xuất rẻ, bên chê trách thì cho rằng NanoGen phạm luật bản quyền sẽ làm mất uy tín và gây ảnh hưởng tiêu cực cho đầu tư ở Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy đã có rất ít ý kiến về khía cạnh khoa học của vấn đề, vì là sản phẩm công nghệ cao nên đây là mấu chốt rất quan trọng có thể quyết định kết quả tranh chấp giữa Roche và NanoGen.

Luật bản quyền đặt ra để khuyến khích đầu tư nghiên cứu qua việc bảo vệ các phát minh khoa hoc. Theo đó, những khám phá đầu tiên và ứng dụng (first discovery and its applications) là hai nền tảng cần và đủ cho việc thành lập bản quyền phát minh. Tuy nhiên trên thực tế, nền tảng của bản quyền không phải là chân lý mà mọi nơi phải tuân theo, đặc biệt là với những sản phẩm sinh học mà người nghiên cứu chỉ tìm thấy từ thiên nhiên cứ không phải do họ tạo ra. Trước kia các nhà nghiên cứu lấy bản quyền cho các gen mà họ tìm thấy, nhưng ngày nay họ chỉ có thể lấy bản quyền ứng dụng chẩn đoán trị liệu của gen đó. Do đó, nếu gen được thay đổi do đột biến hoặc kết hợp với một nhóm hóa học hay gen khác thì một bản quyền mới sẽ được thay thế. Quan niệm mới về bản quyền này đòi hỏi những dự kiến cụ thể (composition of matters) nhằm khuyến khích cạnh tranh để tiến bộ và có những sản phẩm mới hơn.

Dựa trên nguyên tắc này, hãng Human Genome Sciences (USA) đã tạo ra Albuferon do kết nối interferon với albumin để thay đổi cấu trúc và gia tăng độ bền của dược phẩm nhằm giảm thiểu số lần trị liệu cho bệnh nhân. Như thế, những đặc tính về cấu trúc interferon của NanoGen sẽ đóng vai trò rất quan trọng cho việc thẩm định NanoGen có vi phạm bản quyền của Roche hay không. Cho đến nay, Roche chưa có bằng chứng khoa học để kết luận NanoGen đã sao chép (copy) sản phẩm interferon của họ. Theo chúng tôi được biết thì có một số thay đổi về cách cấu tạo và cấu trúc interferon của NanoGen, tuy nhiên, những khác biệt này cần được thẩm định bởi cơ quan hữu trách. Vì hiện tại còn thiếu những thông tin khoa học này, cho nên nhận định chê trách NanoGen phạm luật bản quyền là quá sớm và thiếu dữ kiện cần thiết.

Nhìn vào thị trường dược sinh học thế giới, đã có một số sản phẩm interferon khác nhau được lưu hành ở nhiều nước như Iran (tạo Ziferon), Egypt (tạo Reiferon Retard) và các sản phẩm interferon của Cuba được xuất khẩu qua nước khác cạnh tranh với interferon của Roche. Ngoài ra còn có những sản phẩm interferon không dùng phương pháp tái tổ hợp gene mà ly trích từ máu hoặc tế bào gây nhiễm. Tóm lại, hiện nay có nhiều nguồn interferon trên thế giới được cấp phép bởi nhiều lý do khác nhau.

Về mặt khoa học kỹ thuật, chúng ta có thể hãnh diện rằng Việt Nam đã có công nghệ cao sản xuất sản phẩm sinh học đặc trị như interferon của NangoGen để sánh vai cùng thế giới. Theo dõi tiến trình phát triển công nghệ sinh học ở trong nước từ thời buổi phôi thai vào khoảng những năm 1995, chúng tôi nhận thấy cơ sở khoa học của hãng NanoGen là một bước đột phá quan trọng của công nghệ gen ở Việt Nam. Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở các đại học hoặc trung tâm nghiên cứu ở Việt Nam dùng phương pháp tái tổ hợp gen để tạo sản phẩm sinh học quan trọng như insulin cho trị liệu tiểu tiểu đường, kích thích tố tăng trưởng (growh hormone) trị bệnh ốm còi và suy dinh dưỡng, các cytokine như interferon, GM-CSF, TNF, TGF, IL-2 v.v... để trị liệu các bệnh hiểm nghèo gồm ung thư và miễn nhiễm. Hầu hết các kết quả chỉ dừng lại ở giai đoạn của phòng thì nghiệm mà không có những bước tiến cần thiết để trở thành sản phẩm ứng dụng. Lý do cũng dễ hiểu vì Việt Nam chưa phát triển vững bền về công nghệ sản xuất dược phẩm sinh học (bio-processing). Công nghệ này đòi hỏi khả năng kỹ thuật và một số lượng tài chính thường là vài chục triệu Mỹ kim. Về kỹ thuật, các protein tái tổ hợp ở dung lượng cao (vài ngàn lít so với vài lít ở phòng thí nghiệm) rất khó xử lý vì nhiều yếu tố phức tạp của protein. Một khía cạnh quan trọng khác là do tính sạch cần phải gần như tuyệt đối (99% và hơn nữa), đặc biệt là tiêu chuẩn an toàn không thể nhiễm các độc tố (toxin) và những tạp chất như DNA/RNA thường dễ bị nhiễm từ tế bào cấy (như CHO, COS). Tiếp đó là các thử nghiệm an toàn sinh học trên súc vật và sau đó là thử hiệu ứng lâm sàng ở người cũng không kém phức tạp và tổn phí thường rất cao. Đạt được các tiêu chuẩn này là một thách thức lớn lao của công nghệ gen mà không phải mỗi nước làm khoa học đều có được. Khi trình bày về tổ chức và thành quả của hãng NanoGen với các trung tâm và hãng sinh học nước ngoài, chúng tôi nhận được sự bày tỏ ngưỡng mộ, và có khi ngạc nhiên về thành quả khoa học này ở Việt Nam. Nói một cách công bằng Tiến sỹ Hồ Nhân đã đặt một cột mốc tiến bộ quan trọng đối với Công nghệ sinh học của Việt Nam cho ngành sản xuất thuốc đặc trị sinh học. Đây là lúc chúng ta cần minh định và phổ biến với cộng đồng trong nước và quốc tế về tiến bộ khoa học này ở Việt Nam. Hiện tại dư luận đang coi NanoGen như một cơ sở chỉ biết sao chép (copy), cóp nhặt công nghệ của nước ngoài!

Dù đồng ý hay không về tranh chấp giữa NanoGen và Roche, Chính phủ và cộng đồng khoa học Việt Nam cần khuyến khích và yểm trợ mạnh mẽ cơ sở khoa học này vì đó là trung tâm với kỹ thuật cao có khả năng sản xuất sản phẩm sinh học đặc trị rất cần thiết cho các bệnh hiểm nghèo đang bộc phát và đe dọa sự an toàn y tế của nhiều tầng lớp dân chúng ở Việt Nam.

Cảm nghĩ về phản kháng của Roche đối với sản phẩm interferon của Công ty TNHH công nghệ sinh học Dược Nanogen

Tin đại diện hãng Roche phản kháng và yêu cầu NanoGen đình chỉ việc sản xuất interferon ở Việt Nam là một thử thách lớn về quyền lợi không chỉ cho hãng NanoGen, mà còn là một sự kiện cần được sự lưu tâm và chuẩn bị một chiến lược thích hợp cho việc phát triển công nghệ sinh học ở Việt Nam. Dưới đây chúng tôi xin phân tích vấn đề này theo hai khía cạnh pháp lý và trách nhiệm khoa học với xã hội.

Về pháp lý, luật bản quyền (patent) đã được đặt ra để khuyến khích đầu tư nghiên cứu qua việc bảo vệ các phát minh. Theo đó những khám phá đầu tiên và ứng dụng (first knowledge and application) là hai nền tảng cần và đủ cho việc thành lập bản quyền phát minh. Trong kỷ nguyên qua, đã có rất nhiều sản phẩm, công nghệ, hang xưởng lớn nhỏ của đủ mọi thể loại được hình thành và phát triển dựa trên các bản quyền phát minh. Tuy nhiên trên thực tế, cái nền tảng của bản quyền không phải là một chân lý mà mọi nơi phải tuân theo, đặc biệt là đối với sản phẩm sinh học mà người nghiên cứu chỉ tìm thấy (từ thiên nhiên) chứ không phải do họ tạo ra. Trước kia, các nhà nghiên cứu lấy bản quyền cho các gen mà họ tìm thấy, nhưng ngày nay họ chỉ có thể lấy bản quyền về ứng dụng chẩn đoán hay trị liệu của gen đó thôi. Do đó, nếu gen được thay đổi do đột biến (mutation) hoặc kết hợp với một nhóm hóa học hay gen khác thì một bản quyền mới sẽ được thay thế.

Dựa trên nguyên tắc này, hãng Human Genome Sciences (USA) đã tạo ra Albuferon do kết nối interferon với albumin để thay đổi cấu trúc và gia tang độ bền của dược phẩm nhằm giảm thiểu số lần trị liệu cho bệnh nhân. Từ lâu, một số bản quyền khác cho interferon ở nhiều nước đã ra đời (xem bảng dưới đây). Đó là chưa kể các sản phẩm interferon được chế tạo từ Cuba và một số nước Đông Âu và Đông Á khác; ngoài ra còn có những sản phẩm interferon không dung phương pháp tái tổ hợp gene mà ly trích từ máu hoặc tế bào gây nhiễm. Tóm lại, hiện nay có nhiều nguồn interferon trên thế giới được cấp phép theo nhều lý do khác nhau.

Một số thuốc interferon được sản xuất trên thị trường ở các nước trên thế giới ( trích từ Wikipedia )

Nhưng phần quan trọng của vấn đề là ở khía cạnh khoa học phục vụ cho xã hội. Nếu chúng ta nhìn qua lăng kính thị trường tư bản, thì luật bản quyền được tuyệt đối bảo vệ vì lý do dễ hiểu vì nó liên hệ đến quyền lợi huyết mạch của những đại công ty lien quốc gia. Tuy nhiên ngày nay đã có rất nhiều tiếng nói phản kháng hoặc những phong trào với nhiều đề xuất để thay đổi quyền hạn của các bằng phát minh. Các phong trào này dựa trên nguyên tắc căn bản cho rằng khoa học là sản phẩm chung của nhân loại và cần được chia sè đến những nơi cần thiết. Họ đã tranh đấu khi nhận định thấy rằng 90% các nghiên cứu và thành quả khoa học đã nhằm phục vụ dân số ở các nước phát triển Mỹ và Âu Châu; ngược lại ở những nước kém hay đang phát triển phần lớn ở Phi và Á châu, chỉ được hưởng lợi ích 10% của những tiến bộ khoa học. Trong khi đó, vì điều kiện xã hội thấp kém, 90% bệnh tật đã xảy ra ở Phi và Á Châu so với 10% bệnh tật xảy ra cho các nước ở Mỹ và Âu châu. Vì sự chênh lệc quá lớn lao này, những nhà nhân quyền cho rằng việc áp dụng luật bản quyền cần được thay đổi và phân loại cho thích hợp tùy môi trường và hoàn cảnh. Ở Việt Nam, theo chúng tôi được cho biết, thì cũng có chính sách bảo vệ quyền sản xuất những sản phẩm có nhu cầu thiết yếu cho người dân trước những bệnh hiểm nghèo hay do dịch tể gây ra.

Vừa qua, chúng tôi có dịp tham dự hội nghị AEMI (Access to Medicine Initiative tạm dịch Quyền được hưởng những Phát minh Y tế) 2010 được tổ chức ở Cape Town Nam Phi, với mục tiêu bàn thảo những định hướng, kế hoạch y tế nhằm mang lại sự công bằng và quyền lợi y tế cần thiết cho những nước đang phát triển.

Trong hội nghị này, chúng tôi đã học được một số thành quả từ nổ lực cá nhân hoặc phong trào quần chúng đã mang lại lợi ích y tế thiết thực cho xã hội ở những nơi cần thiết nhất.

Đầu tiên là Brasil, một trong những nước đã bị tàn phá nặng nề vì bệnh AIDS ở những năm 1990. Cũng trong thời kỳ này thế giới đã có những thành tựu quan trọng về thuốc trị AIDS của các hãng dược quốc tế gồm Zidovudine (hay AZT), Nelfinavir (do Roche) và Efavirenz (do Merk Sharp&Dohme). Tuy nhiên, vì cơ chế bảo vệ chặt chẽ bằng sáng chế và giá thuốc cao, đa số bệnh nhân AIDS của Brasil đã không có khả năng trị liệu và tỷ lệ tử vong rất cao. Để đối phó, chính phủ Brasil đã mạnh dạn cho các hãng dược quốc doanh sản xuất những loại thuốc chống siêu vi HIV và đồng thời gây áp lực giảm giá thuốc của các hãng dược nước ngoài. Dưới áp lực sản xuất ồ ạt ở Brasil và họ cũng chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc chống AIDS tới các nước ở Phi châu, các hãng dược quốc tế đã phải giảm giá các loại thuốc từ 50% đến 90%. Dr. Eloan Pinherio, Giám đốc hãng dược quốc gia Brasil Far-Manguinhos, cũng là một thành viên của AEMI, đã chia sẽ nhiều kinh nghiệm quý giá trong kế hoạch khắc phục sự kiểm soát của các hãng dược phẩm quốc tế ở Brasil; chiến lược tự sản xuất để cứu mình do bà đề xướng đã mang lại quyền được trị liệu cần thiết cho người dân Brasil.

Ở Châu Á, Thái Lan là nước cùng số phận bị AIDS hoành hành. Theo kinh tế thị trường, chính phủ Thái Lan luôn tôn trọng nguyên tác bản quyền của các hãng dược phẩm trong và ngoài nước. Hậu quả là chỉ có một số rất ít những bệnh nhân AIDS ở Thái có khả năng mua thuốc trị HIV, vì đông đảo dân là thành phần có lợi tức thấp nên số tử vong vì AIDS của Thái Lan cũng đã rất cao. Một phong trào đã được phát động yêu cầu sự can thiệp của chính phủ nhằm giảm giá thuốc chống siêu vi rút HIV của các hãng dược phẩm nước ngoài. Ngoài ra họ đề nghị chính phủ có những đảm bảo y tế cho dân chúng đặc biệt đối với các bệnh hiểm nghèo như AIDS, tiểu đường, huyết áp. Trong tiến trình này, Dr. Krisana Kraisintu, cựu Giám đốc của chương trình dược phẩm quốc gia Thái Lan, đã nhanh chóng chế tạo các thuốc chống AIDS tung ra thị trường và được sự ủng hộ lớn lao của dân Thái cũng như của nhiều nước trong vùng đang cần một giải pháp tương đương. Thành công này đã dẫn đến sự chấp nhận của chính phủ cho chương trình y tế bảo vệ cho mọi người dân Thái và việc sản xuất các thuốc có khả năng chống lại những dịch tể nguy hiểm như AIDS. Về thực tế, phong trào dành quyền y tế đã cho rằng nếu mỗi người bệnh đều có thể sử dụng thuốc đặc trị với giá thấp, thì thị trường tiêu thụ sẽ lớn hơn và lợi tức của các hãng dược phẩm vẫn được đảm bảo. Nói một cách khác, luật bản quyền vẫn được tôn trọng, nhưng cần có sự tự do cạnh tranh của nhiều nhóm và sự kiểm soát về giá cả để phục vụ đại đa số quần chúng.

Krisana đã đi xa hơn nữa với nhận định rằng những dược phẩm trọng yếu như thuốc trị AIDS, sốt rét và lao cần phải được sản xuất tự do ở các nước Phi châu để ngăn chặn làn sóng tử thần của các bệnh này. Krisana đã liên kết với những hội đoàn quốc tế và đi sâu tới nhiều nước ở các vùng Phi châu gồm Congo, Ethiopy, Tanzia, Bernin, Sengal, Kewil, Mali, Zambia để phục vụ. Krisana đã nhiều khi phải đối diện với hoàn cảnh hiểm nghèo của bệnh tật và nội chiến ở Phi châu để lập phòng thí nghiệm bào chế những dược phẩm căn bản như AZT, Nelfinavir để chống AIDS hoặc Artesunate kết hợp với Quinin dành cho bệnh nhân sốt rét.

Qua những công tác đầy khó khăn và hy sinh của Dr. Krisana và Eloan để mang những dược phẩm căn bản đến cho các bệnh nhân của thế kỷ ở Phi và Á châu, chúng ta thấy các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện nay ở những nước phát triển đã đóng góp rất ít ỏi cho vấn nạn y tế của các nước chậm tiến. Phần lớn các chương trình nghiên cứu ở nước phát triển đã nhằm vào lợi ích kinh tế cho các nhu cầu y tế của họ. Từ các tổng kết cho thấy nỗ lực bảo vệ quyền y tế cho những người nghèo khởi xướng từ Brasil và Thái Lan ở những năm 1990 đã giúp giảm thiều 80% số tử vong ở nước họ vì bệnh AIDS. Những thành tựu của Dr. Krisana va Eloan cũng đã tạo được một tiền đề cho các nước kém phát triển làm giảm thiểu sự chi phối của những hãng dược phẩm quốc tế, đặc biệt đối với dược phẩm cho những bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng trên một số lớn quần chúng do các dịch tể gây ra.

Việt Nam chúng ta là một nước mà đại đa số dân chúng còn có mức sống kinh tế thấp, chương trình phát triển công nghệ của hãng NanoGen để tạo các sản phẩm sinh học đặc trị cho những bệnh hiểm nghèo như ung thư, và các dịch tể là một thành quả rất cần thiết về mặt y tế, và đó cũng là những đóng góp quan trọng cho mục tiêu phát triển khoa học ở Việt Nam. Phản kháng của Roche cần được cứu xét ở nhiều khía cạnh và mức độ gồm so sánh sự khác biệt về đặc tính khoa học giữa hai sản phẩm interferon của Roche và NanoGen; ngoài ra cần đánh giá đúng nhu cầu cấp thiết sản xuất interferon nội địa cho các bệnh hiểm nghèo ở Việt Nam. Về thực tế, vì tiềm năng lớn lao của công nghệ sinh học, Việt Nam cần khai triển tối đa công nghệ này để tạo nội lực y tế cho việc phòng ngừa và chữa trị cho dân chúng như Cuba đã thực hiện được. Việc triển khai công nghệ chuẩn đoán bằng gen và kháng thể, chương trình trị liệu bằng sản phẩm của công nghệ tái tổ hợp gen, kháng thể đơn dòng hoặc dung tế bào tua miễn dịch (Dendritic cell), tế bào gốc sẽ có những tác động tích cực và lớn lao cho việc cải tiến y tế ở Việt Nam. Đạt được các mục tiêu khoa học trên trong hoàn cảnh và điều kiện hiện tại của đất nước không chỉ đòi hỏi kiến thức khoa học và kinh nghiệm kỹ thuật mà còn cần sự hợp tác đa phương trong và ngoài nước và sự tham gia đầu tư của những hãng dược phẩm nội đia. Với sự khai triển kỹ thuật cao và với lợi thế về nhân sự và môi trường bệnh lý, nghiên cứu dược phẩm sinh hoc ở Việt Nam có thể đóng vai trò tích cực trong nỗ lực chung ở Á và Phi châu để giải quyết những vấn nạn y tế cho Việt Nam và chia sẻ cho toàn vùng.

Luật bản quyền cần được thay đổi

Làm thế nào để người nghèo không rơi vào tình cảnh chờ chết vì không tiền mua thuốc đặc trị giá cao? Các nước nghèo, kém phát triển phải làm gì cho quyền được trị bệnh của dân mình?

Đó là hai câu hỏi lớn chúng tôi đặt lên bàn TS Nguyễn Đức Thái - trưởng ban và cố vấn khoa học công nghệ sinh học, Khu công nghệ cao TP.HCM. Ông mở đầu cuộc trò chuyện: “Đại diện Hãng Roche phản ứng và yêu cầu Công ty Nanogen ngừng ngay việc sản xuất interferon ở VN là một thách thức lớn về quyền lợi không chỉ cho Công ty Nanogen mà còn là một sự kiện cần được quan tâm và chuẩn bị một chiến lược thích hợp cho việc phát triển công nghệ sinh học ở VN”.

Ở góc độ pháp lý, ông nhìn nhận vụ khiếu nại bản quyền sáng chế của Roche đối với Công ty Nanogen như thế nào?

Về pháp lý, luật bản quyền đặt ra để khuyến khích đầu tư nghiên cứu qua việc bảo vệ các phát minh. Theo đó, những khám phá đầu tiên và ứng dụng là hai nền tảng cần và đủ cho việc thành lập bản quyền phát minh. Tuy nhiên trên thực tế, nền tảng của bản quyền không phải là chân lý mà mọi nơi phải tuân theo.

Ý ông muốn nói là ở khía cạnh khoa học phục vụ xã hội, phục vụ sự sống con người?

Đúng vậy! Nếu nhìn qua lăng kính thị trường tư bản thì luật bản quyền được tuyệt đối bảo vệ vì liên quan đến quyền lợi huyết mạch của những đại công ty liên quốc gia. Tuy nhiên, ngày nay đã có rất nhiều tiếng nói phản kháng hoặc những phong trào với nhiều đề xuất để thay đổi quyền hạn của các bằng phát minh. Các phong trào này dựa trên nguyên tắc căn bản cho rằng khoa học là sản phẩm chung của nhân loại và cần được chia sẻ đến những nơi cần thiết.

Một số tổ chức, cá nhân đã đấu tranh khi nhận thấy 90% các nghiên cứu và thành quả khoa học nhằm phục vụ dân số ở các nước phát triển như Mỹ và châu Âu. Ngược lại, những nước kém phát triển phần lớn ở châu Phi và châu Á chỉ được hưởng 10% của những tiến bộ khoa học. Trong khi đó, vì điều kiện xã hội thấp kém, 90% bệnh tật lại đang xảy ra ở hai châu lục này so với 10% bệnh tật xảy ra cho các nước ở Mỹ và châu Âu.

Vì sự chênh lệch quá lớn lao này, những nhà nhân quyền cho rằng việc áp dụng luật bản quyền cần được thay đổi và phân loại cho thích hợp tùy môi trường và hoàn cảnh. Ở VN cũng đã có chính sách bảo vệ quyền sản xuất những sản phẩm có nhu cầu thiết yếu cho người dân trước những bệnh hiểm nghèo hay do dịch bệnh gây ra.

Trên thế giới đã có những nỗ lực gì để mang lại lợi ích y tế thiết thực cho dân nghèo, thưa ông?

Vào thập niên 1990, Brazil là một trong những nước bị tàn phá nặng nề bởi bệnh AIDS. Cũng trong thời kỳ này thế giới đã có những thành tựu quan trọng về thuốc trị AIDS do các hãng dược quốc tế lớn như Roche, Merk Sharp&Dohme... bào chế. Vì sự bảo vệ bằng sáng chế và giá thuốc cao của các hãng thuốc này, đa số bệnh nhân AIDS của Brazil đã không có khả năng điều trị và tử vong rất nhiều.

Chính phủ Brazil đã mạnh dạn cho các hãng dược quốc doanh sản xuất những loại thuốc chống HIV, đồng thời gây áp lực giảm giá thuốc với các hãng dược nước ngoài. Trước áp lực sản xuất ồ ạt ở Brazil, các công ty đa quốc gia đã phải chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc chống AIDS tới các nước châu Phi và phải giảm giá thuốc từ 50-90%.

Như vậy, thành tựu khoa học ở các nước phát triển đóng góp không được bao nhiêu cho xã hội và cuộc sống của loài người?

Các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện nay ở những nước phát triển đóng góp rất ít ỏi cho vấn nạn y tế của các nước chậm tiến. Phần lớn các chương trình nghiên cứu ở nước phát triển đã nhằm vào lợi ích kinh tế cho các nhu cầu y tế của họ. Tuy nhiên những thành tựu, nỗ lực của Brazil và Thái Lan đã tạo tiền đề cho các nước kém phát triển làm giảm thiểu sự chi phối của những hãng dược phẩm quốc tế, đặc biệt đối với dược phẩm cho những bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng số đông người dân do các dịch bệnh gây ra.

Việt Nam là một nước mà đa số dân chúng còn có mức sống thấp. Chương trình phát triển công nghệ của Công ty Nanogen để tạo các sản phẩm sinh học đặc trị cho những bệnh hiểm nghèo như ung thư và các bệnh dịch khác là một thành quả rất cần thiết về mặt y tế. Đó cũng là những đóng góp quan trọng cho mục tiêu phát triển khoa học ở Việt Nam.

Phản ứng của Roche cần được xem xét ở nhiều khía cạnh và mức độ, gồm so sánh sự khác biệt về đặc tính khoa học giữa hai sản phẩm interferon của Roche và Nanogen. Ngoài ra, cần đánh giá đúng nhu cầu cấp thiết sản xuất interferon nội địa để trị liệu các bệnh hiểm nghèo như ung thư gan và nhiều bệnh ung thư khác đang có tần suất bột phát mạnh ở Việt Nam

Về định hướng tương lai, Việt Nam cần triển khai mạnh mẽ hơn nữa công nghệ sinh học để tạo một nội lực y tế cho việc phòng ngừa và chữa trị cho dân chúng. Chúng ta cần tự chủ trong việc xây dựng công nghệ tân tiến này để tạo những sản phẩm có ứng dụng chẩn đoán và điều trị cao.

Lê Thanh Hà

Đang xác minh khiếu nại của Nanogen

Thông tin từ Bộ Y tế hôm 23-12-2010 cho biết tổ công tác của bộ đang xác minh khiếu nại của Công ty Nanogen về việc đăng ký thuốc Pegnano điều trị bệnh viêm gan. Các nội dung xem xét gồm có hay không việc chậm trễ trong cấp phép và vi phạm nguyên tắc bảo mật dữ liệu trong, sau quá trình cấp phép lưu hành ( điều này dẫn đến việc Roche khiếu kiện Nanogen ). Dự kiến kết quả xác minh sẽ có trong tuần tới đây.

Theo Bộ Y tế, Pegnano không phải là loại thuốc đầu tiên bị khiếu nại liên quan đến sở hữu trí tuệ. Hiện Việt Nam đã cấp phép sản xuất hàng chục hoạt chất điều trị HIV/AIDS, thuốc điều trị rối loạn cương, rối loạn lipit máu... Bộ Y tế cho biết trong một số tình huống nhằm bảo đảm an sinh xã hội và quyền tiếp cận thuốc, các quy định bảo hộ sở hữu trí tuệ của thế giới mà Việt Nam đã ký kết cho phép cơ quan quản lý dược được quyền cưỡng chế nhượng quyền.