NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Tại sao các nước Đông Nam Á không tạo dựng được các công ty có tầm vóc quốc tế

Nay nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ tăng trưởng rầm rộ, thiên hạ đã quên cách đây mười năm Đông Nam Á là khu vực phát triển nhanh nhất thế giới, thu hút sự chú ý của giới đầu tư và tạo nên những cột tăng trưởng nhìn đứt hơi mà giờ đây hai anh khổng lồ đang thụ hưởng . Khu vực này đã từ từ hồi phục sau những tai hoạ những năm 1997-1998. Họ tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm gần đây và ngân khố chính phủ đã được cải thiện rất nhiều. Mặc dù vậy, sau bấy nhiều thời gián năm nền kinh tế quan trọng nhất của khu vực – Indonesia, Malaysia, Phi luật tân, Singapore và Thái lan – vẫn hầu như thiếu vắng các công ty đáng được gọi là có tầm vóc quốc tế.

Khu vực này có đến 570 triệu dân và họ đi tiên phong trong phát triển kinh tế hơn hẳn phần còn lại của châu Á. Nhưng tại sao họ vẫn không có được những thương hiệu toàn cầu tầm cỡ như Samsung hay LG của Nam Triều Tiên ? Những nhà sản xuất hàng đầu về công nghệ đang nổi lên của nó, giống như AU Optronics và Taiwan Semiconductor của Đài Loan chẳng hạn, hiện nay họ ở đâu ? Những hãng tương đương với Tata Steel, Ranbaxy và Wipro đang lan tràn thế giới của Ấn Độ nay ở đâu ? Hoặc những hãng tràn ngập thị trường như Huawei và Lenovo của Trung Quốc ở đâu ? Nếu quý vị hỏi một nhà đầu tư ở Luân-Đôn hoặc Nữu-Ước cho biết tên những hãng Đông Nam Á đáng nể trên phạm vi toàn cầu và câu trả lời là không còn hăng nào ngoài Singapore Airlines.

Trong quyển sách mới phát hành Asian Godfathers ( Các Bố Già Á Châu ), ký giả Joe Studwell đã tìm hiểu sự thất bại này qua những lời lẽ thẳng thắn. Ông nói bối cảnh kinh doanh trong vùng vẫn bị chế ngự bởi những tập đoàn lạc hậu, tồi dở, trì trệ, vận hành theo ngẫu hứng của các ông chủ nhân gia trưởng già nua. Năng lực cốt lõi của những xí nghiệp này, như hiện hành, là khai thác các mối kết giao tốt lành với nhóm lãnh đạo chính phủ. Lợi nhuận của họ là do vay mượn : họ chớp những hợp đồng và chuyển nhượng được nhà nước ưu ái trao tay, hoặc vận dụng thế lực của họ với giới quan chức để loại trừ những đối thủ tiềm tàng. Nếu họ cần kỹ thuật, họ mua của nước ngoài. Ông Studwell nói kết quả là vùng này « không có các công ty vĩ mô bản địa sản xuất các sản phẩm và dịch vụ tầm cỡ quốc tế”.

Những sự kiện tương tự đã từng được nhắc đến phần lớn ở châu Á – và đôi khi vẫn còn tiếp diễn như vậy. Nhưng bằng cách nào đó các doanh nghiệp hàng đầu của các nước khác, ngay cả ở Ấn Độ, quê hương của thứ giấy phép Raj , đã không rơi vào cái bẫy hủ bại này. Trong khi sự tăng trưởng xuất khẩu ở Nam Triều Tiên và Đài Loan chủ yếu phát xuất từ các hãng bản địa tạo nên những sản phẩm có sức cạnh tranh toàn cầu với kỹ thuật riêng của họ. Phần lớn hàng xuất khẩu có giá trị cao của Đông Nam Á lại được sản xuất bởi các công ty nước ngoài. Thái Lan đã thành công xây dựng kỹ nghệ sản xuất động cơ bằng cách thu hút các hãng đa quốc. Tuy nhiên họ sẽ luôn phải gánh chịu những rủi ro vì những xí nghiệp này có thể dời đi một nơi nào đó ở Trung Quốc, nơi mà giá thành thấp hơn và thị trường nội địa lớn hơn.

Nhìn dưới cái lọng che của một xí nghiệp xem ra có vẻ được quản lý tốt, một công ty kỹ nghệ địa phương ở Đông Nam Á, ví dụ như Astra, một hãng sản xuất xe hơi của Indonesia, quý vị thấy họ đang lắp rắp xe hơi với môn bài Nhật Bản và một nhóm người Hong Kong kiểm soát. Con số xí nghiệp vượt ra khỏi thị trường nội địa không có là bao. Một bản nghiên cứu gần đây của Boston Consulting Group (BCG) ( Nhóm Thám Vấn Boston ) về 100 công nghiệp đa quốc lớn nhất của những nền kinh tế cất cánh ( không kể đến Singapore ) chỉ có năm công nghiệp trong toàn vùng. Trái lại Brazil có đến 13 công nghiệp, một nước chỉ bằng một phần ba dân số của Đông nam Á và cách đây khoảng mười năm trước họ không hề có những hãng tầm vóc quốc tế .

Phân biệt đẳng cấp

Để được liệt vào hạng tầm vóc quốc tế, một xí nghiệp không phải vận hành tốt và to lớn là được. Nó cần phải có một thương hiệu có giá trị toàn cầu, hoặc kỹ nghệ mũi nhọn của riêng mình, hoặc một phưong pháp kinh doanh thực sự đổi mới và mọi người đều thán phục. Đây là những tiêu chuẩn khắt khe: chỉ có một vài hãng được xếp trong thứ hạng 100 hãng đứng đầu trong danh sách của BCG được xem là thực sự lớn. Tại Đông nam Á có rất ít công ty đạt được tiêu chuẩn này. Có một số tiến gần đến tiêu chuẩn này, đặc biệt là Singapore, một quốc gia tiên tiến nhất trong vùng. Singapore Airlines là hãng hàng không quốc tế lớn thứ tư thế giới và có lẽ là thương hiệu nổi tiếng nhất trong vùng được thế giới biết đến. Keppel và SembCorp, hai nhà sản xuất lớn nhất thế giới trong ngành thiết bị khoan dầu ngoài khơi biển. Họ bao trùm kỹ nghệ toàn quốc.

Tuy nhiên, Garry Evans, một chuyên gia về vốn cổ phần của ngân hàng HSBC, lo ngại một vài ngôi sao sáng trong ngành kỹ thuật của Singapore có triệu chứng lu mờ dần. Chartered Semiconductor and Creative là một ví dụ, họ hiện đang thối lui trước các đối thủ ở nơi khác như Đài Loan, một nước ông cho là hiện có «một tích lượng về kỹ thuật và một nền văn hóa kinh doanh rất mạnh».

Trong ngành ngân hàng, vùng này có một số địch thủ đáng ngại, ví dụ như OCBC của Singapore và Public Bank của Malaysia, họ đang bành trướng ra ngoài biên giới của họ. Nhưng giờ đây họ phải đương đầu với những ngân hàng khổng lồ và vai u thịt bắp của Trung Quốc cũng như các đối thủ phương Tây có cội rễ bám sâu trong vùng, ví dụ như HSBC và Standard Chartered. Cũng như những lĩnh vực kinh doanh khác, các quán quân địa phương trong khu vực thiếu hẳn chuẩn mực trong một thế giới mà xem ra tích lượng đóng một vai trò quan trọng.

Cũng phải thừa nhận rằng khu vực này có một số bất lợi cơ bản. Mười thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có một dị biệt to lớn về ngôn ngữ, tôn giáo, hệ thống chính trị và lịch sử. Ngay cả thành viên đông dân nhất là Indonesia ( Nam Dương ), với 230 triệu người, cũng hết sức đa dạng. Indonesia được hình thành từ 17.000 hòn đảo và một pha trộn đa sắc về văn hóa và tôn giáo. Để so sánh, người Brazil ở phía Bắc có thể nhảy điệu forró và phía Nam điệu samba, nhưng xứ sở của họ là một đất nước khá thuần nhất về ngôn ngữ với 190 triệu dân, tất cả đều cùng sống trên một vùng đất.

Những nhà lãnh đạo ASEAN phải cố gắng hơn nữa để giữ những lời hứa cao thượng của họ tiến đến việc hội nhập nền kinh tế kiểu Âu Châu, để cung cấp cho các công ty địa phương một thị trường nội địa có tầm vóc để từ đó xây dựng lên những nền kinh doanh có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Sự kiện các thành viên ASEAN vẫn giao dịch với các nước không thành viên gấp ba lần giữa họ với nhau cho thấy họ không xây dựng được một thị trường thực sự đơn thuần. Thuế quan nội địa bị cắt giảm, song như McKinsey, một chuyên gia tham vấn quản lý đã ghi nhận trong một báo cáo năm 2004, các sản phẩm thông dụng và các hàng rào phi quan thuế khác thường không đồng đều giữa các nước ASEAN, khiến cho các nhà công nghiệp tại mỗi nước giảm mức sản xuất của mình.

Tất cả những điều này đã làm suy giảm khả năng cạnh tranh của các xí nghiệp địa phương, cũng như các công ty đa quốc hoạt động trong vùng. Tham nhũng là một gánh nặng lớn khác đối với kinh doanh. Tình trạng này cũng xảy ra khắp châu Á, hệ thống tư pháp bất khả tín và bại hoại tại nhiều nước Đông Nam Á - đáng lưu ý là Indonesia – gây trở ngại cho việc thực thi các hợp đồng.

Đánh liều với khuynh hướng đào thải

Mặc dù không thể tổng quát hoá toàn bộ châu Á, một trở ngại khác cho việc phát triển các doanh nghiệp tầm vóc quốc tế là năm nền kinh tế chính yếu của Đông nam Á vận hành một cách tệ hại so với những gì người ta mong đợi - liên quan đến sức thu nhập sản lượng quốc gia- đó là việc đẩy mạnh phát triển kỹ thuật và nâng cao giáo dục đào tạo. Tony Fernandes, chủ tịch AirAsia, một hãng hàng không phát triển nhanh nhất và là một tay tranh thủ thương hiệu « tầm vóc quốc tế », đã than phiền Nam Hàn đã khiến cho quốc gia của ông phải lẽo đẽo theo sau trong quá nhiều ngành vì chính phủ Nam Hàn bơm tiền cho các hoạt động nghiên cứu và huấn luyện. Ông nhăn nhó nói «Chúng tôi thường đánh bại họ trên sân bóng – nhưng bây giờ thì hết rồi».

Malaysia cũng đã chi tiêu ào ạt cho ngành đại học và phát triển kỹ thuật nhưng những cố gắng của họ đã bị ngăn trở vì chính sách hỗn loạn về sắc tộc của họ (trong đó có sự ưu đãi vào đại học cho đa số sắc dân Mã Lai ) và vì tình trạng cung cấp các hợp đồng và chuyển nhượng của nhà nước cho giới thân cận chính phủ. Sự thiếu vắng môi trường cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp và sự thất bại trong việc mở rộng con đường học vấn, cả hai sự kiện đều có một nguyên nhân tiềm ẩn chung : các quốc gia Đông Nam Á vẫn còn nằm trong vòng kiềm toả của nhóm nhỏ lãnh đạo.

Vấn đề không những được phơi bày bởi sự vắng bóng của những tên tuổi kinh doanh có tiếng trong vùng mà còn trong thống kê kinh tế cơ bản của nó- đặc biệt là năng suất lao động, bí quyết để tăng trưởng lâu dài. Năng xuất của Trung Quốc và Ấn Độ tăng nhanh hơn hẳn Đông Nam Á. Đông Á đứng đầu vễ năng xuất công nhân vào năm 2000 và vẫn tiếp tục tiến tới. Nay Nam Á đang rút ngắn khoảng cách (xem biểu đồ 3). Ngay cả việc đón nhận những cơ xưởng của các công ty đa quốc tối tân trên lãnh thổ của mình xem ra cũng chẳng tạo được sự khác biệt gì nhiều đối với Đông Nam Á. Với tất cả số lượng người Ấn Độ và Trung Hoa gia nhập lực lượng lao động toàn cầu, vùng này không lựa chọn nào khác là vượt lên trên mô hình đơn giản cung cấp lương phí thấp và sản xuất những công nhân được đào luyện tốt và tiếp tục cải tiến.

Không phải tất cả là do lỗi của chính phủ. Những tập hợp bất di trong vùng có thể tự giúp để đạt tiêu chuẩn quốc tế bằng cách tập trung vào chất lượng hơn là số lượng kinh doanh. Một số đang làm như vậy, nhưng vẫn có nhiều công ty có vẻ như không thể cưỡng lại việc thọc những ngón tay của mình vào miếng bánh của kẻ khác. Charoen Pokphand chuyên về thực phẩm, một tập hợp của Thái Lan, nằm trong danh sách 100 của BCG, nhung nhóm này là một tay tranh thủ không mấy thú vị trong ngành công nghiệp viễn thông cho tới cửa hàng bách hóa và nay đang chuyển sang lĩnh vực sản xuất xe hơi. San Miguel, một tập hợp bia và đồ ăn lớn của Phi-luật-tân, gần đây cho biết là đang cố mở rộng sang lĩnh vực điện tử. Synergy Drive, một sự hợp nhất vô lý của ba hãng kinh doanh trồng trọt kém hiệu quả do chính phủ Malaysia kiểm soát, hiện đang có cổ phần trong đập nước khổng lồ Bakun tại Borneo.

Michael Porter thuộc trường Doanh Thương Harvard đã tố giác tính chất nghiệp dư này : « Các công ty này chẳng có chiến lược gì cả, họ chỉ biết thương lượng ». Gerry Ambrose thuộc Văn phòng Aberdeen Asset Management tại Kuala Lumpur than phiền rằng thật khó tìm ra những công ty Malaysia « có một kế hoạch kinh doanh dài hạn 10 năm ». Nhiều hãng đã cải tiến được lợi nhuận kể từ cơn khủng hoảng 1997 - 1998 nhưng điều này không bảo đảm cho họ được tồn tại lâu dài . Bởi vì thậm chí những hãng vận hành tốt nhất cũng thường có ban điều hành và các cổ đông do gia đình sáng lập và bạn bè của họ thống trị, lối suy nghĩ này không dễ gì thay đổi.

Đề cập đến những hãng « gia trưởng đỡ đầu” được mô tả trong sách của Studwell, một trong số hãng mà các chuyên gia cho rằng tốt nhất là YTL, một tổ hợp của Malaysia. Thuộc loại lớn trong lĩnh vực xây cất, hãng này còn sở hữu một nhà máy nước ở Anh, Wessex Water, kinh doanh khách sạn và khu thương xá hạng sang, điều hành một tuyến đường sắt cao tốc chạy từ Kuala Lumpur tới sân bay thành phố và sở hữu một chuỗi những nhà máy điện. Sáng lập viên Yeoh Tiong Lay đã xây dựng một công ty xây cất khổng lồ, có hợp đồng với nhà nước vào thời kỳ hậu độc lập. Vào những thập niên 1990, khi Mahathir Mohamad, bạn của ông, là thủ tướng, hãng đã nhận được những chuyển nhượng của chính phủ để cung cấp điện lấy từ nguồn khí đốt do một hãng dầu khí nhà nước bao cấp, đồng thời các xí nghiệp điện của nhà nước phải bó buộc mua lại nguồn điện này.

Đây là một thành quả tốt nếu quý vị chiếm hữu được hợp đồng. Tuy nhiên Francis Yeoh, con trai của nhà sáng lập, hiện đang điều hành công ty, nhấn mạnh công ty không ngủ trên chiến thắng của mình. Ông biện luận là công ty đã cung cấp « tỉ lệ 55% tăng trưởng lợi nhuận tổng hợp hàng năm » kể từ giữa thập niên 1980 và hiện nay thu được 70% lợi tức bên ngoài Malaysia. Vào ngày 22 tháng Hai, hãng tuyên bố lợi nhuận 688 triệu ringgit ( 202 triệu Mỹ kim ), trong vòng sáu tháng cho tới ngày 31 tháng Mười Hai, có nghĩa là tăng 24% so với năm trước. Ông Yeoh nói hãng có một năng lực cốt lõi là xây dựng và duy trì hạ tầng cơ sở với phẩm chất hàng đầu thế giới với giá của thế giới thứ ba. Ông biện luận, có phần thổi phồng đôi chút, ngay cả những khách sạn và các thương xá của tổ hợp có thể được xem là «hạ tầng cơ sở không điều hoà».

Ông Yeoh nói trong khi châu Á tăng trưởng đến mức chóng mặt, họ cần có thêm hạ tầng cơ sở, có điều hoà hay không điều hoà, và hãngYTL đã chứng tỏ có thể đáp ứng nhu cầu này. Đặc biệt, ông tiên đoán những hợp đồng béo bở qua việc áp dụng kỹ năng của Wessex Water làm sạch sông ngòi cho những đường nước dơ bẩn của lục địa. Điều này xem ra là một kinh doanh đầy hứa hẹn tăng trưởng. Nhưng có những kẻ khác nữa –chưa kể một vài hãng xử lý nước có tấm vóc của Trung Quốc – cũng sẽ đeo đuổi những hợp đồng này. Cho đến nay Wessex Water thu được lợi nhuận tại miền tây nước Anh, song tiềm lực để trở thành hãng hàng đầu thế giới chưa được kiểm chứng.

Cho đến nay, các công ty Mã-lai có một thành tích đặc biệt là ôm những phế sản khi họ mua lại các hãng nước ngoài. Laura Ashley, một hãng thời trang; Costain, một công ty xây cất; Lec, một công ty đông lạnh; và Agusta, một công ty sản xuất xe gắn máy: các hãng Malaysia đã mua tất cả những công ty này nhưng không đem có lợi tức đáng kể nào. Mặc dù vậy, nếu họ tiếp tục cải tiến, YTL và các tập hợp khác trong vùng có thể phá vỡ khuông mẫu cũ. Các hãng danh tiếng quốc tế của châu Á cũng khởi sự từ những đơn vị rải rác do các nhóm gia đình quản lý nhưng lần hồi thoát khỏi quỹ đạo này để bộc phát. Vi dụ, một uỷ viên hội đồng quản trị của hãng danh tiếng Ấn Độ Tata Steel, nói rằng Tata Sons, phái sản của Tata Steel, giữ một số cổ phần ít ỏi trong hãng nhưng nay họ đã nhường việc điều hành này cho các chuyên gia quản lý.

Một dấu hiệu khích lệ khác liên quan tới tương lai của các tập hợp tại Đông Nam Á là những công ty nằm bên ngoài vòng khép kín của các mối liên hệ chính trị thân hữu xem ra ngày càng được thuận lợi trong việc thành lập những kinh doanh mới và thách thức những kẻ tại vị. Hãng AirAsia của ông Fernandes là ví dụ điển hình. Khởi sự chỉ cách đây sáu năm, hãng hàng không này giờ đây đã bủa khắp vùng với một mạng lưới khổng lồ các chuyến bay giá hạ. Ông Fernandes, một cựu chuyên gia trong công nghệ âm nhạc, vẫn say sưa tăng cường các lộ trình: ông mong sớm được phép khai trương những chuyến bay nội địa ở Phi-luật-tân và Việt Nam. Ông đã mở một đường bay riêng biệt, giá hạ, đường trường tên AirAsiaX, bay từ Kuala Lumpur đến sân bay Gold Coast ở Úc và Hàng Châu (Hangzhou) gần Thượng Hải. Ông chuẩn bị các đường bay tới Melbourne, Amritsar và cuối cùng là London.

Mặc dù ASEAN đã tỏ ra chậm chạp trong việc hạ thấp những rào cản trong một số địa hạt, họ đang hạ giá trong ngành hàng không. Lộ trình độc quyền Kuala Lumpur-Singapore của hai hãng Singapore và Malaysian Airlines vừa mới chấm đứt và, theo ông Fernandes, những hãng hiện thời chiếm ngự thị trường trong vùng đang nhận ra rằng chính phủ không còn tiếp tục bao che cho họ được nữa. Có thể nói rằng, bằng việc nối liền các thành phố trong vùng với những chuyến bay giá rẻ và thường xuyên, ông Fernandes đã làm xoay chuyển Đông Nam Á theo chiều hướng một khối kinh tế hội nhập mạnh hơn bất cứ hội nghị thượng đỉnh ASEAN nào. Hơn nữa, trong những ngành công nghiệp từng được nưng niu khác, chính phủ cũng đang bắt đầu bãi bỏ độc quyền. Ông Yeoh của hãngYTL nói rằng sẽ sớm không còn « nơi ẩn náu » cho các hãng đang cố gắng tồn tại với lề thói cậy quyền ỷ thế nữa.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ, với thị trường nội địa khổng lồ của họ, có thể cánh báo Đông Nam Á là đã quá muộn để họ lớn mạnh trong kỹ nghệ sản xuất. Tuy nhiên cơ hội sản xuất những xí nghiệp đứng đầu thế giới trong những lãnh vực tiên tiến khác vẫn còn nhiều triển vọng. Ngành du lịch và khách sạn là những ví dụ điển hình, đặc biệt khi bạn láng giềng trong vùng trở nên giàu có. Ông Yeoh của YTL hồ hởi nói Đông nam Á có thể sẽ trở thành “Địa Trung Hải lẫn quần đảo Caribbean của Châu Á”.

Vận động để củng cố sức mạnh

Ngoài hãng YTL, những công ty danh tiếng có thể dùng tăng trưởng du lịch như chiếc bàn đạp để tiến đến mô hình quốc tế bao gồm những tổ hợp như tổ hợp Banyan Tree của Singapore, như khai thác dịch vụ sòng bạc ( casino ) Genting của Malaysia và ngay cả các hãng kinh doanh bệnh viện như Bumrungrad của Thái Lan, một đối thủ kinh doanh đang lên trong lãnh vực “du lịch y tế”. Tuy nhiên, như ông Evans của HSBC cho thấy, những hãng như vậy phải chứng tỏ rằng họ có thể truyền giao “tâm lý dịch vụ” luôn được tán tụng này của họ cho những nơi trên thế giới không có lao động rẻ.

Tài nguyên thiên nhiên cũng là những nguồn trợ lực cho những quán quân quốc tế. Chiếu theo Brazil và gần hơn nữa là Úc, Đông nam Á đang bắt đầu xây dựng những công ty tầm vóc quốc tế bằng cách khai thác những gì thiên nhiên cung ứng. Dầu cọ là một ví dụ. Hầu hết nguồn cung cấp dầu cọ của thế giới đến từ Malaysia và Indonesia. Một số hãng kinh doanh đồn điền đang leo tháng giá cả, nhung IOI, một chủ đồn điền ở Malaysia, có hiệu xuất 50% hơn đối thủ địa phương của mình tính theo năng xuất trên một mẫu vuông. Nếu chính phủ có thể thúc con vật khổng lồ Synergy Drive đạt được năng suất tương tự, họ sẽ đẩy mạnh được nền kinh tế.

Vùng này đứng đầu trong một số loại nông phẩm: ví dụ như Thái Lan và Việt Nam là hai nhà xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới. Vì vùng này có nhiều bờ biển và nhiều sông ngòi, có nhiều triển vọng mở rộng nghề nuôi cá và hải sản. Thai Union, một hãng đóng hộp cá thu khổng lồ, nằm trong số đứng đầu 100 của BCG. Việt Nam, một ngôi sao đang lên trong vùng, có một vài xí nghiệp hải sản lớn, nếu họ không theo cao trào tệ hại đa dạng hoá trong vùng có thể vào lúc nào đó bắt kịp cao độ tương tự. Nhưng để khai thác đất đai phì nhiêu và nguồn nước và, vùng ĐNÁ cần có kỹ nghệ chế biến thức phẩm tinh vi hơn và những nhãn hiệu hàng hóa uy tín hơn, thay vì xuất khẩu những hàng tiêu dùng hỗn tạp.

Những lý do đã khiến Đông Nam Á chậm hơn các vùng khác trong việc sản xuất những công ty tầm vóc quốc tế rất là phức tạp và vẫn còn tranh cãi. Nhưng chúng hình như liên quan tới tính ngoan cố của giới lãnh đạo và tính vô cảm của những quốc gia trong phương cách vượt lên trên những hiềm khích cũ và xây đựng một thị trường hợp nhất trong vùng. Tương tự như một nhóm nhỏ công ty đầy hứa hẹn đang xuất hiện, họ còn lại một điều gì đó. Ngay cả trong khu rừng thẳm ngày nay, Đông Nam Á vẫn có thể nuôi dưỡng được những con hổ.

The Economist

Nguyễn Gia Thưởng dịch