NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

LIÊN KẾT ĐẠI HỌC – DOANH NGHIỆP Hóa giải nghịch lý: “ Đào tạo nhiều, sử dụng chưa hiệu quả ” - TS Nguyễn Trí Dũng , Kiều bào Nhật Bản

Là người Việt Nam đã sống, học tập và làm việc gần 40 năm ở Nhật Bản, cũng với tư cách là một chuyên viên Liên hiệp quốc trong lĩnh vực kế hoạch kinh tế phát triển tại các nước đang phát triển hơn 16 năm và hiện nay đang hoạt động về giáo dục đào tạo, tổ chức sản xuất, xuất khẩu điện tử công nghệ cao tại Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Trí Dũng đã đưa ra mô hình liên kết giữa đại học và doanh nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế VN. Anh đã dành cho phóng viên NVX buổi trò chuyện.

PV: Thưa tiến sĩ, vì sao anh lại đưa ra mô hình này?

TS Nguyễn Trí Dũng : Trong 5 năm qua, các trường Đại học Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong việc hoàn thiện chương trình đào tạo, cải tiến cách dạy và cách học, thực hiện hướng nghiệp thiết thực hơn cho sinh viên. Mối quan hệ qua lại giữa một số trường đại học với các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp, các trung tâm nghiên cứu khoa học đã bước đầu được xây dựng…Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang đứng trước một thực tế khá gay go, chưa thể khắc phục được: đó là chỉ tiêu đào tạo của các trường đại học ngày càng tăng, số lượng sinh viên tốt nghiệp ra trường ngày càng lớn, nhưng các “sản phẩm” do trường đại học cung ứng cho xã hội là không được xã hội nhiệt tình đón nhận. Sự thích nghi và đáp ứng của các cử nhân, kỹ sư ra trường với môi trường lao động mới (sản xuất, dịch vụ, kinh doanh, nghiên cứu…) khá chậm và khó khăn. Tỷ lệ tốt nghiệp đại học được làm đúng với ngành nghề đào tạo chưa cao. Từ đó, nhìn một cách tổng quát hơn, có thể thấy việc hướng nghiệp và đào tạo ở bậc đại học dường như chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Như vậy làm sao để khắc phục nghịch lý: đào tạo nhiều nhưng sử dụng chưa đúng ngành nghề và hiệu quả còn thấp, thưa tiến sĩ?

Theo tôi cần phải tiến hành một cuộc khảo sát kỹ lưỡng hiện tượng nói trên với mọi chủ đề có liên quan trên cơ sở tăng cường “tam giác liên kết”: Nhà nước - Trung tâm nghiên cứu - Doanh nghiệp. Kinh tế Việt Nam trong nhưng năm gần đây đang phát triển thuận lợi. Hiện nay, Việt Nam là đối tác đang được quan tâm, việc mở rộng mối liên hệ song phương, tăng cường đầu tư vào Việt Nam là một triển vọng đáng chú ý. Nhưng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất đang là một vấn đề cần được giải quyết một cách cơ bản. Công tác nghiên cứu nghiêm túc về nguồn nhân lực cần được đào tạo tương thích với việc tăng vốn đầu tư, mở rộng sản xuất. Và nghiên cứu về sự liên kết các đại học và doanh nghiệp là một nhu cầu cấp bách trong bối cảnh phát triển của Việt Nam hiện nay.

Thực tế lâu nay “tam giác liên kết” mà anh vừa nói đến đã hình thành, nhưng vấn đề là làm sao để cho hoạt động hiệu quả?

Đúng thế, để “tam giác” này hoạt động hiệu quả, tôi nghĩ phải nhìn vấn đề một cách “thực tế” hơn. Phải nhận thấy rằng phát triển của Việt Nam có đặc điểm: Phát triển sản xuất công nghiệp hiện nay phụ thuộc cơ bản vào tốc độ chuyển giao công nghệ của đầu tư nước ngoài. Sức cạnh tranh của các xí nghiệp trong nước đang được cải thiện. Trong lúc đó, mối liên kết giữa các trường đại học với các doanh nghiệp, đặc biệt là với doanh nghiệp nhỏ và vừa thì dường như hết sức lỏng lẻo, thậm chí có thể nói là chưa được đặt ra một cách chính thức và có khả năng thực thi. Trong quan hệ liên kết, có hai cụm vấn đề được đặt ra: đào tạo nguồn nhân lực và thành lập xí nghiệp mới. Hai vấn đề này có mối liên hệ hết sức mật thiết, làm tiền đề cho nhau, thúc đẩy lẫn nhau. Nếu chỉ chú ý đến vấn đề thứ nhất mà không quan tâm đến vấn đề thứ hai thì vấn đề thứ nhất không thể thực hiện được. Cũng như vậy, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực phải căn cứ vào nhu cầu và khả năng mở rộng sản xuất, đây là “đầu ra” của đào tạo. Đồng thời, chính nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của mở rộng sản xuất, đặc biệt là yêu cầu về công nghệ và quản lý, sẽ là đảm bảo vững chắc cho sự thành công của xí nghiệp.

Trong quá trình phát triển kinh tế, việc đào tạo nguồn nhân lực là hết sức quan trọng, anh đánh giá như thế nào về việc đào tạo nhân lực ở Việt Nam?

Dưới tác động của đường lối đổi mới toàn diện đất nước, sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam đang thực hiện những bước phát triển và chuyển đổi quan trọng, hướng tới phục vụ tốt hơn cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên vẫn còn nhiều nghịch lý, đặc biệt là về cơ cấu nguồn nhân lực được đào tạo cũng như chất lượng sử dụng của nguồn nhân lực ấy đang còn bất cập. Trong vòng 10 năm, số sinh viên đã tăng lên gấp 4,5 lần, nhưng số giảng viên chỉ tăng 1,8 lần, khiến cho mỗi giảng viên cơ hữu phải đảm nhiệm bình quân đến gần 100 sinh viên. Số giờ lên lớp hàng tuần của giáo viên quá cao, khiến cho họ không còn điều kiện đi sâu vào nghiên cứu khoa học, nâng cao giáo trình, tổ chức cho sinh viên đi vào thực tế cuộc sống của các doanh nghiệp, vv… Bên cạnh đó, việc tổ chức dạy nghề và trung học chuyên nghiệp còn quá hạn hẹp so với việc đào tạo cử nhân đại học dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”. Chưa nói đến hiện tượng chạy theo thành tích, thi cử gian lận, lạm phát bằng cấp,chứng chỉ

Tiến sĩ muốn đề cập đến chất lượng giáo dục đại học?

Đúng thế! Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục đại học càng trở nên cấp bách trước những thách thức của thế kỷ XXI. Người thanh niên trong thời đại ngày nay ngoài kiến thức được đào tạo còn phải có bản lĩnh để vượt qua những thử thách. Cho nên cấu trúc nhân cách của người thanh niên trí thức mà trường đại học đào tạo ra cần phải được đa dạng hóa. Giờ đây, nhà trường chẳng những phải trang bị khối lượng tri thức khoa học được cập nhật hóa cho sinh viên, mà phải rèn cho họ: Tính chuyên nghiệp và Năng lực giải quyết vấn đề; Khả năng cạnh tranh và hội nhập; Biết cách làm việc theo nhóm; Có kỹ năng tự học và tự phát triển trong suốt cuộc đời.

Chính là trong bối cảnh đó mà một số trường đại học đã bắt đầu biết khai thác sức mạnh của nghiên cứu ứng dụng, lôi cuốn sinh viên vào các họat động đó, tạo cơ hội cho họ được sống trong cuộc sống sôi động ở các doanh nghiệp. Đây có thể được coi như những tín hiệu đầu tiên của việc khám phá ra sức sống của mối liên kết Đại học – Doanh nghiệp, nhằm rèn luyện người sinh viên cả ở bên trong và bên ngoài giảng đường.

Hiện nay có thể nói nghiên cứu ứng dụng đang từng bước trở thành một hình ảnh mới trong sinh hoạt của trường đại học. Từ đó, mối liên kết Đại học – Doanh nghiệp đang bắt đầu trở thành một thành tố của đổi mới đại học, và trở thành một nét sáng tạo trong văn hóa kinh doanh ở các doanh nghiệp.

Thưa tiến sĩ, theo anh làm sao để mở rộng và nâng cao chất lượng của liên kết Đại học – Doanh nghiệp một cách hiệu quả?

Việt Nam đang bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu tích cực của mối liên kết Đại học – Doanh nghiệp, một xu thế hiện đại nhưng vẫn nặng tính chất tự phát, tản mạn, là kết quả của những hợp tác song phương, đa phương nhưng vẫn còn hạn hẹp về không gian địa lý, mang tính chất quan hệ cá nhân, thiếu hẳn những cơ chế thông tin, trao đổi giữa cung và cầu ở quy mô vùng hoặc quy mô cả nước. Thiếu điều kiện vật chất – kỹ thuật để nâng đỡ và tiếp sức cho các liên kết dài hạn quốc nội và quốc tế.

Rõ ràng để đẩy mạnh, mở rộng và nâng cao chất lượng Liên kết Đại học – Doanh nghiệp, đã đến lúc cần và có thể hình thành ở nước ta một dạng tổ chức cầu nối đầu tiên, nối kết các dạng hợp tác qua lại bền vững để hỗ trợ lẫn nhau giữa trường Đại học và Doanh nghiệp phù hợp vì mục đích đào tạo tốt hơn nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả sản xuất bằng chuyển giao công nghệ.

Anh muốn nói đến việc quy tụ nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài?

Đây là việc tôi đã đề xuất từ năm 2004. Theo tôi nên thành lập Trung tâm tư vấn và liên kết Đại học và Doanh nghiệp vì mục tiêu phát triển, dĩ nhiên là bước đầu sẽ làm thử nghiệm từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi quy tụ đông đảo nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài, đây cũng là tổ chức phi chính phủ (NGO) không vụ lợi, với các chức năng chủ yếu: Tổ chức nghiên cứu và thu thập thông tin ở quy mô xã hội, quy mô trường đại học và các doanh nghiệp tiêu biểu, nhằm nắm vững động thái cung cầu trên thị trường nhân lực trình độ cao và trên lĩnh vực chuyển giao công nghệ. Từ đó, tạo cơ sở cho việc thúc đẩy sự Liên kết Đại học – Doanh nghiệp trên hai lĩnh vực tương ứng một các hiệu quả, “đúng địa chỉ”. Trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm hay trong nước và các xu hướng mới mẻ trên thế giới trong lĩnh vực Liên kết Đại học – Doanh nghiệp, trung tâm tiến hành những hoạt động khuyến khích sự kết nối thiết thực, với các dạng thức phù hợp giữa các trường đại học với các doanh nghiệp nhằm: Vận dụng các thông tin phản hồi từ doanh nghiệp để cải tiến nội dung, phương pháp và phong cách đào tạo, thực tập cho sinh viên. Phải chú trọng đến các mục tiêu:

• Thu hút các tri thức và kỹ năng sống động từ doanh nghiệp để phát triển việc đào tạo, nghiên cứu ở trường Đại học.

• Xác lập và triển khai các dự án chuyển giao công nghệ giữa trường đại học với các doanh nghiệp.

• Thúc đẩy các dạng hợp tác quốc tế và tài trợ quốc tế cho những dự án liên kết dài hơi, có triển vọng về đào tạo và chuyển giao công nghệ.

• Giúp các trường đại học tiếp cận với tài trợ quốc tế để tạo điều kiện dễ dàng cho các dự án chuyển giao công nghệ có ý nghĩa.

Ngoài ra, nên tổ chức các dạng hoạt động quảng bá thông tin về liên kết Đại học - Doanh nghiệp, như phát hành bản thông tin định kỳ (newsletter), mở các diễn đàn (forum), tham gia các hội chợ công thương nghiệp … nhằm kích thích và định hướng cho việc mở rộng liên kết một cách thiết thực và bền vững.

Với cách làm trên chúng ta sẽ tận dụng được chất xám của trí thức Việt kiều khắp nơi trên thế giới ?

Đó là mong mỏi và không khó để thực hiện. Về mặt tổ chức, Trung tâm Tư vấn liên kết Đại học - Doanh nghiệp chỉ cần có một văn phòng điều hành cơ hữu nhỏ (khoảng 15 người) nhưng chú trọng tổ chức một mạng lưới cộng tác viên khoa học rộng rãi ở trong và ngoài nước. Cộng tác viên là các nhà trí thức, các nhà doanh nghiệp đang hoạt động hoặc đã nghỉ hưu nhưng có mối quan tâm sâu sắc, tâm huyết với chủ đề liên kết. Trung tâm đặc biệt chú ý đến các cộng tác viên khoa học từ các vùng Âu Mỹ và Nhật Bản. Cách làm việc chủ yếu thông qua mạng thông tin internet và website của trung tâm, kết hợp với một số cuộc tập hợp chọn lọc theo dự án khi cần thiết. Trung tâm từng bước thu hút sự tài trợ của các doanh nghiệp, các mạnh thường quân, các dự án liên kết thành công vv…để xây dựng quỹ hỗ trợ liên kết Đại học - Doanh nghiệp, làm một thứ xúc tác cho các dự án liên kết, nhất là trong những bước đầu xây dựng. Nếu quyết làm, tôi tin sẽ thành công và sẽ góp phần không nhỏ trong việc đào tạo nguồn nhân lực hữu dụng để phát triển kinh tế.

Minh Diệu