NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Doanh nghiệp nhỏ với công nghệ cao của Nhật Bản sớm đến Việt Nam

Đầu tháng 02-2007, chính quyền Osaka ( Nhật Bản ) đã thành lập Văn phòng xúc tiến đầu tư Osaka - Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh. Ông Morihito Kosuda - Tổng giám đốc Tập đoàn Sojitz tại Việt Nam, được giao nhiệm vụ trưởng văn phòng về cơ hội làm ăn mới giữa Việt Nam và Nhật Bản.

Hỏi : “ Đích nhắm ” của cơ quan xúc tiến chủ yếu là các doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ, ông sẽ làm gì để giúp họ làm ăn tại Việt Nam ?

Ông Morihito Kosuda: Trước đây, nhiều công ty Nhật Bản đầu tư tại Việt Nam để sản xuất phụ tùng, linh kiện rồi xuất khẩu đi các nước. Nhưng giờ đây đang hình thành một dòng đầu tư khác, đó là tập trung kỹ thuật tại Việt Nam, đào tạo tay nghề cho các lao động Việt Nam khi những lao động này nắm bắt được các kỹ thuật tiên tiến sẽ được đưa sang Nhật Bản làm trong các công ty của họ hoặc mở rộng đầu tư vào Việt Nam.

Mục tiêu chính của Văn phòng xúc tiến Osaka - Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh là hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản mở rộng thị trường ra các nước.

Dự kiến trong tuần tới sẽ có một đoàn với nhiều đại diện các Doanh Nghiệp có kỹ thuật cao từ Osaka sẽ sang Việt Nam tìm hiểu về môi trường đầu tư của Việt Nam.

Tôi cho rằng đây sẽ là những công ty mà Việt Nam đang rất mong đợi vì những công ty này đang giữ “độc quyền” về mặt kỹ thuật trong nhiều công nghệ. Chẳng hạn một nhà máy ở Osaka, dù chỉ 20 người nhưng sản phẩm của họ được cung cấp cho Cơ quan Nghiên cứu vũ trụ và hàng không của Mỹ ( Nasa ). Chính họ giờ đây đang là niềm tự hào của nước Nhật Bản.

Vì vậy, tôi có thể khẳng định sắp tới dòng đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam sẽ xuất hiện những nhà đầu tư mới thông qua việc hợp tác với các Doanh Nghiệp của Việt Nam để đào tạo nguồn nhân lực trước, khi đã có nguồn nhân lực thì việc mở rộng đầu tư sản xuất các sản phẩm công nghệ cao sẽ được các Doanh Nghiệp này tiến hành.

Hỏi : Điều đó có nghĩa các công ty này sẽ không đầu tư dưới hình thức 100% vốn Nhật Bản như nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đã đi trước mà sẽ tìm cách hợp tác hoặc mua lại các Doanh Nghiệp của Việt Nam ?

Ông Morihito Kosuda : Đúng vậy. Trước hết nhiệm vụ của chúng tôi phải tìm hiểu trình độ kỹ thuật của các Doanh Nghiệp Việt Nam như thế nào, bởi nhiều doanh nghiệp Nhật Bản hiện nay “mù tịt” thông tin về Doanh Nghiệp Việt Nam. Khi đã nắm được thông tin về các Doanh Nghiệp Việt Nam có tiềm lực phát triển, có kỹ thuật... chúng tôi sẽ giới thiệu cho các doanh nghiệp Nhật Bản, trên cơ sở đó hai bên sẽ hợp tác dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong đó, phía Nhật Bản có thể hỗ trợ về mặt kỹ thuật, đưa máy móc kỹ thuật công nghệ cao, đồng thời hướng dẫn và đào tạo cho bên Việt Nam. Hoặc cũng có thể phía Nhật Bản sẽ tham gia mua lại cổ phần trong các công ty có tiềm năng phát triển của Việt Nam. Rất nhiều giám đốc các công ty đã nói với tôi rằng họ không thể ở mãi trong nước mà phải mở rộng ra nước ngoài, bởi xã hội Nhật Bản hiện nay đang có xu hướng lão hóa, vì vậy xu hướng họ chọn là đầu tư vào chiều sâu.

Hỏi : Như vậy Việt Nam phải chuẩn bị như thế nào để có thể tiếp nhận dòng đầu tư này một cách hiệu quả nhất ?

Ông Morihito Kosuda : Ở Nhật Bản hiện nay có những công ty dù ở quy mô rất nhỏ, nhưng kỹ thuật lại mang tính toàn cầu, nếu không nói họ là “độc nhất vô nhị” và những xí nghiệp này phụ thuộc hoàn toàn vào “cái đầu” của người lao động. Vì vậy, để đón nhận dòng đầu tư này, Việt Nam phải chuẩn bị rất tốt về con người, làm sao đào tạo không chỉ là lao động giản đơn mà phải thông thạo từ khâu lập trình, thiết kế đến triển khai.

Kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho thấy ngay từ khi đi học, học sinh đã được trang bị các kiến thức chuyên ngành. Chẳng hạn ở Nhật Bản hiện nay có các trường cấp ba công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp... Trong đó, ở trường cấp ba công nghiệp được đào tạo rất kỹ từ thợ máy, tiện, khoan... vì vậy, khi ra trường mặc dù họ chỉ làm chi tiết một sản phẩm nhưng có thể hiểu được cả cái máy. Trong khi đó, rất nhiều lao động của Việt Nam hiện nay chỉ đạt trình độ lao động giản đơn, nghĩa là giao cho họ làm một sản phẩm nào đó là chỉ biết sản phẩm đó, không biết các phần khác. Nói tóm lại Việt Nam phải chuẩn bị nguồn lao động đủ tầm để thu hút những nhà đầu tư nước ngoài có kỹ thuật công nghệ cao.

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã vào Việt Nam từ nhiều năm qua nhưng tôi nhận thấy Việt Nam vẫn chưa tận dụng được hết cơ hội từ dòng vốn này mang lại để nâng cao trình độ tay nghề của lao động trong nước. Lao động bình quân của Việt Nam sẽ không thể mãi ở mức 60 USD/tháng mà phải đạt mức cao hơn là 150 USD/tháng, muốn thế phải bắt đầu từ cuộc cách mạng giáo dục.

Tôi đã đi rất nhiều nơi của Việt Nam nhưng tôi thấy có rất ít những trường cao đẳng công nghiệp, thương nghiệp... Giá như những vùng như Biên Hòa, Bình Dương, Thủ Đức... có nhiều trường cao đẳng thì tốt biết mấy. Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ trở thành nước công nghiệp, nhưng nếu không đầu tư mạnh vào giáo dục thì sẽ rất khó đạt được mục tiêu này”.

Nhật Bản đánh giá cao môi trường đầu tư của Việt Nam

Báo chí Nhật Bản vừa đồng loạt đăng bài đánh giá cao môi trường đầu tư của Việt Nam, trong đó đặc biệt nhấn mạnh những ưu thế như: sự phát triển năng động của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, lực lượng lao động dồi dào có trình độ cao và giá nhân công rẻ.

Báo Asahi số ra ngày 30/12/2006, cho rằng Việt Nam đang ngày càng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nhờ lực lượng lao động có chất lượng cao, có khả năng nắm bắt công nghệ nhanh.

Trong khi đó, Tuần báo thế giới nhận định Việt Nam có những điều kiện tốt nhất và thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư. Năm 2005, tổng sản phẩm quốc nội ( GDP ) của Việt Nam tăng trưởng 8,4% và dự kiến năm 2006 tiếp tục đạt trên 8%. Cơ cấu dân số hình tháp với 70% số dân dưới độ tuổi 30 chứng tỏ Việt Nam có lực lượng lao động khổng lồ.

Nhận thức được những tiềm năng kinh tế của Việt Nam, các công ty Nhật Bản đã đầu tư ồ ạt vào quốc gia này. Số dự án đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam trong năm 2006 đạt mức cao nhất từ trước tới nay với 115 dự án tính đến ngày 20/10/2006.

Nhiều công ty Nhật Bản đã mở rộng hoạt động sản xuất tại Việt Nam. Chỉ riêng trong nửa cuối năm nay, hãng chế tạo ô tô Honda đã tăng khả năng sản xuất tại Việt Nam thêm 30%, trong khi Tập đoàn Sumitomo - một tập đoàn thương mại lớn của Nhật Bản - có kế hoạch xây dựng một khu công nghiệp mới ở ngoại ô thủ đô Hà Nội. Công ty Secom cũng đã thành lập một công ty cổ phần tại Việt Nam.

Theo xu hướng hiện nay, các công ty chế tạo nước ngoài trước tiên sẽ tập trung vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất phục vụ xuất khẩu, sau đó từng bước chuyến sang hoạt động sản xuất phục vụ thị trường trong nước.

Trưởng đại diện một ngân hàng lớn của Nhật Bản có chi nhánh tại TPHCM nhận định rằng trong vòng 5 - 10 năm nữa, Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ tiếp tục đổ vào thị trường đầy tiềm năng này.

Theo đánh giá của các nhà đầu tư Nhật Bản, trong số các nước châu Á, Việt Nam hiện được coi là quốc gia thực hiện điều chỉnh môi trường đầu tư mạnh mẽ nhất nhằm xóa bỏ rào cản đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư lo ngại rằng việc tăng trưởng cao chỉ tập trung ở những thành phố lớn, trong khi các địa phương không được hưởng lợi nhiều từ số vốn đầu tư tăng, có thể làm gia tăng khoảng cách phát triển ở Việt Nam.

Chi phí đầu tư của Việt Nam thấp hơn nhiều nước

Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản ( JETRO ) vừa công bố báo cáo kết quả điều tra về so sánh chi phí đầu tư ở 30 thành phố và khu vực tại châu Á năm 2008.

Theo báo cáo này, chi phí tiền lương, phí điện thoại, phí thuê đất công nghiệp và điện nước của Việt Nam thấp hơn các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Cụ thể, tiền lương của các doanh nghiệp Nhật Bản phải trả cho công nhân Việt Nam chỉ khoảng 95 USD/tháng, trong khi công nhân tại các nước vừa kể trên được trả thấp nhất là 131,3 USD, cao nhất lên tới 286,7 USD/tháng.

Cũng theo báo cáo của JETRO, phí thuê đất công nghiệp của Việt Nam rất thấp nhưng phí thuê văn phòng lại cao, phí điện thoại ở Việt Nam thuộc dạng thấp nhất khu vực nhưng phí kết nối Internet lại cao hơn rất nhiều so với các nước láng giềng. Bên cạnh đó, phí vận tải đường biển tại Việt Nam cũng chưa có lợi thế cạnh tranh.

JETRO cho rằng những ưu thế trên là quan trọng để Việt Nam có thể thu hút thêm đầu tư nhưng Việt Nam cần nâng cao hơn nữa chất lượng lao động, cải cách thủ tục hành chính, minh bạch hóa hệ thống luật pháp... vì đây là những “chi phí gián tiếp” quan trọng với các nhà đầu tư.

Cao Văn Kình