NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Lợi Nhuận Từ Dầu Hoả Đi Về Đâu - Nguyễn Anh Tuấn , Kiều bào Mỹ

Cách đây vài tháng, khi các bản báo cáo tường trình lợi nhuận cuối năm của các đại công ty kỹ nghệ được loan báo, nhiều người đã giật mình kinh ngạc trước con số lời kỷ lục của đại công ty năng lượng và dầu hoả ExxonMobil với hơn 34 tỷ Mỹ-kim, trong khi những tên tuổi nổi tiếng khác như General Motors và Ford thì bị lỗ cả tỷ đô-la cùng với những chính sách thắt lưng buộc bụng khác như phải sa thải hàng chục ngàn nhân viên. Dĩ nhiên không phải chỉ có ExxonMobil là kiếm lời dữ dội mà tất cả các công ty dầu hoả khác cũng đều làm ăn rất khá giả – nhất là với tình trạng giá dầu thô tăng vọt từ dưới 30 đô một thùng lên xấp xỉ 60 đô mà không có thêm chi phí tốn kém nào khác trong vài năm qua – nhưng vì là công ty năng lượng hàng đầu nên số lời của hãng này cũng là con số cao nhất khiến cho mọi người phải chú ý.

Tuy nhiên, ExxonMobil, cũng như biết bao công ty dầu hoả khác, cũng chỉ là một tổ hợp khai thác và môi giới việc chuyên chở và tiêu thụ món hàng dầu hoả cần thiết này trên thị trường thế giới. Với nhiệm vụ trung gian mà kiếm lời được bộn bạc như thế thì không ai ngạc nhiên mấy trước cái lời còn to lớn hơn nhiều của những chủ nhân ông các kho hàng dầu hoả ấy, đa số là các quốc gia trong khối các nước sản xuất dầu hoả OPEC mà phần lớn nằm ở trong vùng Vịnh Ba Tư như Saudi Arabia, Iran, Iraq, Kuwait, UAE v.v. . . Thậm chí một nước khác ở vùng Nam Mỹ là Venezelua, từ trước tới nay vẫn chưa được nhắc đến như là một quốc gia có tầm cỡ hoặc đáng chú ý, giờ đây cũng bắt đầu tạo uy thế và chú ý nhiều, nhất là trong mối liên lạc không mấy thuận thảo với lân bang Hoa Kỳ, phần lớn là nhờ vào kho dự trữ dầu hoả to lớn của nước này đã giúp cho chính quyền của TT Hugo Chavez có khả năng kình chống và đi ngược lại những ý muốn của chính quyền Bush.

Lần này, con số lợi nhuận khổng lồ thu vào kho bạc của đa số các quốc gia Ả Rập trong vùng Vịnh lại không gây nhiều ồn ào hay bị để ý xăm xoi cho bằng con số thâm thủng trong cán cân chi phó giữa Hoa Kỳ và các nước khác (lên đến hơn 725 tỷ Mỹ-kim cho năm 2005) mà phần lớn nằm trong các quốc gia Á Châu xuất cảng nhiều như Trung Cộng, Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn v.v. . . Vì sao mà các ông hoàng Ả Rập lần này được dư luận để yên ngồi hốt của làm giầu mà không bị chỉ trích hay ghen ghét? Phải chăng vì các đợt tăng giá cao vọt của dầu thô lần này đã xảy ra khá êm thắm và không gây những tác hại xấu hay những chấn động to lớn lên nền kinh tế toàn cầu như các đợt tăng giá nổ bùng của khối OPEC đã xảy ra trong thập niên 1970?

Thật vậy, đợt tăng giá bất ngờ và nhảy vọt của dầu thô cách đây hơn 30 năm đã dẫn đến một tình trạng kinh tế suy thoái trên toàn cầu khiến cho chính quyền và các nhà hoạch định kinh tế và tài chính phải thay đổi tư duy cũng như các dự kiến hay kế hoạch cho tương lai để phòng chống hay có thể thích nghi với những thay đổi tương tự trong tương lai, dẫn đến một tình trạng cải thiện toàn cầu với hiệu năng sản xuất gia tăng và bớt phí phạm năng lượng. Tuy nhiên đợt tăng giá cũng khá cao, tuy không bất ngờ như lúc trước, trong thập niên 2000 dường như được mọi người cùng chấp nhận mà không gặp những hậu quả tệ hại nào khác vì nền kinh tế thế giới vẫn tiếp tục tăng trưởng một cách lành mạnh, đặc biệt là ở hai quốc gia Á Châu là Trung Cộng và Ấn Độ, cũng như ở đầu tầu Hoa Kỳ, chỉ trải qua một thời gian suy thoái ngắn ngủi chưa đầy 1 năm, nhưng sau đó vẫn tiếp tục phát triển mạnh với đà tiêu thụ to lớn của người dân cũng như chính phủ Mỹ.

KHÔNG CÒN PHUNG PHÍ LỢI NHUẬN

Sự khác biệt to lớn nhất giữa hai hoàn cảnh có lẽ nằm ở trong cách đầu tư của những đồng petrodollars, từ ngữ ám chỉ những đồng tiền thu hoạch được nhờ ở kho dầu hoả bán ra. Khi cuộc tăng giá dầu xảy ra lần đầu vào năm 1974, tăng vọt gấp 4 lần, đa số các quốc gia sản xuất dầu hoả lúc bấy giờ vẫn chưa phải là các nước phát triển mạnh nên không biết cách nào để tiêu thụ cho đúng mức số lợi nhuận khổng lồ đổ dồn vào ngân quỹ. Ngoài việc phung phí tài sản bằng một số các dịch vụ công chi ở nhiều cơ quan công quyền trong nước, phần còn lại được đầu tư vào các ngân hàng lớn ở Âu Châu hoặc một bằng công khố phiếu của chính phủ Hoa Kỳ để sinh lời. Phần lớn của khối tiền này sau đó cũng được các ngân hàng luân lưu dưới dạng những món nợ cho vay cho các quốc gia ở Nam Mỹ, tuy nhiên hậu quả chính của việc làm này là phần lớn số lợi nhuận kiếm được đã không được dùng để kích thích mức tiêu thụ của người dân trên thế giới, mà ngược lại, cộng với việc tăng giá dầu quá cao còn khiến cho một số nơi còn phải thắt lưng buộc bụng giảm bớt số lượng dầu hoả tiêu dùng, nên cuối cùng lại dẫn đến tình trạng suy thoái toàn cầu vì mức tiêu thụ khắp nơi đều giảm thiểu và không còn đủ sức để đẩy mạnh các nền kinh tế.

Về mặt nội địa, đa số các nước trong vùng đổ dồn tiền để tu bổ, cải thiện bộ máy nhà nước, cung ứng các dịch vụ công cộng miễn phí cho người dân một cách khá hoang phí. Ở ngoại quốc, các ông hoàng Ả Rập, một sớm một chiều bỗng trở thành những tay trọc phú tiền rừng bạc biển, không biết cách nào để đầu tư có hiệu quả mà thường lại thích tiêu pha một cách khá ngông cuồng, mua sắm bất cứ những thứ gì theo ý thích cá nhân, đa số là các cơ ngơi dinh thự tại Âu Châu. Nhiều người còn nhớ những giai thoại kể về các ông hoàng này lúc trú ngụ tại một số khách sang trọng, lúc bị nhân viên dọn dẹp sửa lưng vì những hành vi thiếu văn minh hay không hài lòng vì những chuyện nhỏ nhặt liền đâm ra nổi cáu và quyết định mua lại ngay các khách sạn này để khỏi có phải bị nghe ai lên giọng dạy đời.

Ngày nay, với đà gia tăng dân số phát triển tại nhiều nước trong vùng, các quốc gia sản xuất dầu hoả đã biết sử dụng khôn ngoan hơn số tiền lợi nhuận đổ dồn nhiều về từ vài năm qua, một mặt tiếp tục xây cất hạ tầng cơ sở để cải thiện dân sinh trong nước, đẩy mạnh ngành tư nhân để góp phần vào bộ máy kinh tế quốc gia, và mặt khác đổ tiền để đầu tư vào nhiều ngành khác nhau trên thế giới để đa dạng hoá khối tài sản kếch xù của mình hòng tránh khỏi những cơn giao động kinh tế. Tuy các khoản đầu tư của các quốc gia Ả Rập tại Hoa Kỳ không đáng kể so với phần đầu tư ở Âu Châu và Á Châu nhưng các lãnh tụ cầm quyền đã biết ý thức về tầm quan trọng cần phải đẩy mạnh và đa dạng hoá vốn liếng của mình chứ không phải chỉ biết an phận ngồi hưởng thụ trên kho dầu hoả.

Sự thay đổi trong thái độ và quan niệm cũng đã dẫn đến những kết quả khác nhau. Vào thập niên 1970, việc giá dầu tăng vọt đã dẫn đến tình trạng lạm phát cao vì mọi thứ hàng sản xuất trên thế giới đều lệ thuộc, trực tiếp hay gián tiếp, vào nguyên liệu cần thiết này. Cộng vào đó, mức tiêu thụ trên thế giới cũng bị tụt giảm nên đã dẫn đến tình trạng suy thoái. Kết quả là cả hai hậu quả tệ hại là lạm phát (inflation) và trì trệ kinh tế (stagnation) cùng xảy ra, một tình trạng thường được các kinh tế gia gọi là stagflation. Tác hại xấu của trạng thái stagflation được chứng minh tương đối khá dễ hiểu bằng thí dụ của Nhật Bản trong suốt hơn thập niên qua, không tăng trưởng được nền kinh tế của mình trong khi các quốc gia Á Châu khác như Trung Cộng, Ấn Độ, Nam Hàn tiếp tục phát triển mạnh. Phải đợi đến năm 2005 thì Nhật Bản mới thoát ra được tình trạng khó khăn này. Lý do chính của điều này là vì Nhật với mức xuất cảng cao nên đã thu hoạch được số lợi cao trong khi vẫn đóng cửa thị trường nội địa không cho các quốc gia khác xen vào khiến cho mức tiêu thụ trong nước không có dịp gia tăng, cuối cùng dẫn đến tình trạng kinh tế không thể phát triển.

Tính đến năm 2004, mức thặng dư về cán cân chi phó (tức là mức xuất cảng cao hơn mức nhập cảng) của Nhật chiếm đến 0,4% mức tổng sản lượng GDP của toàn cầu. Tuy nhiên nếu so với thời điểm 1974, thì mức thặng dư về cán cân chi phó của khối OPEC lúc đó còn cao hơn nhiều, chiếm 1,2% GDP toàn cầu, tức là cao gấp 3 lần mức dư thừa của Nhật Bản. Với mức thặng dư khổng lồ như thế, hậu quả là một số tiền khá lớn phải bị chi ra khỏi ngân quỹ gia đình tại các nước tiêu thụ dầu hoả để trang trải cho chi phí nhập cảng. Ngược lại, với khối tiền du nhập ồ ạt vào, các quốc gia xuất cảng dầu hoả lại không biết tiêu thụ bằng cách mua các hàng hoá khác như xe hơi của Mỹ, máy móc điện tử hay TV của Nhật hoặc các món ăn, vải vóc hay mỹ phẫm của Pháp v.v. . . , tức là trả lại một phần tiền về các nước nhập cảng lúc ban đầu để cho bộ máy kinh tế toàn cầu có thể tiếp tục vận hành êm đẹp. Hậu quả dẫn đến tất nhiên là tình trạng stagflation.

Tuy nhiên, ngày nay, mặc dù cũng thu được lợi nhuận cao từ giá dầu hoả tăng vọt, mức thặng dư của khối OPEC cũng chỉ chiếm có khoảng 0,3% mức GDP toàn cầu, tức là chỉ bằng ¼ của mức thặng dư cách đây hơn 3 thập niên. Sự khác biệt xảy ra lần này vì các quốc gia này đã chi ra khá nhiều qua số tiền nhập cảng các món hàng sản xuất từ Âu Châu, Á Châu cũng như của Hoa Kỳ. Chính vì lẽ đó mà vụ tăng giá dầu khá cao – vào năm 2003 giá trung bình một thùng dầu thô vẫn còn khoảng 30 Mỹ-kim – lần này lại không gây ồn ào hay tạo nên nhiều sự chống đối nào đáng kể, vì nói chung tình hình kinh tế toàn cầu không bị ảnh hưởng nặng, biết thích ứng với giá mới và cũng tiếp tục phát triển mạnh từ vài năm qua. Đó là tình trạng mọi người cùng có lợi, các cơ sở thương mại tiếp tục buôn bán khá, người dân tiêu thụ tiếp tục có đồng lương cao và trị giá tài sản mình tiếp tục tăng cho nên mọi người đều không lên tiếng phản đối cho dù giá cả nhiều thứ trên thị trường có gia tăng đồng loạt.

TRƯỜNG HỢP THÍ DỤ CỦA DUBAI

Mặc dù thoả thuận của công ty Dubai Ports World (DPW) muốn mua lại chủ quyền của công ty Peninsular & Oriental (P&O) của Anh Quốc để nắm quyền điều hành tại 6 bến cảng tại Hoa Kỳ đã gặp sự chống đối mạnh mẽ từ phía Quốc Hội Mỹ trong thời gian qua với nhiều lý do mang nặng tính kỳ thị và thiếu hiểu biết cũng như nền tảng nhưng vì lý do quyền lợi chính trị do bởi áp lực của cuộc bầu cử vào cuối năm nay, các vụ đầu tư của các chính quyền Ả Rập sẽ còn tiếp tục con đường đi tới và tăng trưởng nhiều hơn nữa trong thời gian sắp tới.

Số tiền đầu tư mà DPW muốn bỏ ra 6,8 tỷ Mỹ-kim để mua lại công ty P&O chỉ là một phần nhỏ trong tổng số các khoản đầu tư mà các quốc gia Ả Rập trong vùng Vịnh sẽ chi tiêu sau kỳ làm giầu lần thứ nhì này, với những dự án xây cất vô cùng to lớn và tối tân nhằm thay đổi bộ mặt của các bờ biển của vùng Vịnh Ba Tư để biến nơi đây thành một thế giới tân kỳ và huyền ảo với những cơ ngơi tối tân, sang trọng và đắt giá nhất trên thế giới. Một trong những công trình xây cất lớn nhất thế giới là dự án phát triển khu Burj Dubai đang diễn ra với kế hoạch thiết lập một khu đô thị tân kỳ với khách sạn, siêu thị cực kỳ sang trọng với hồ nước nhân tạo và sàn đá băng để trượt tuyết ngay giữa sa mạc nóng cháy, nằm chung quanh một tụ điểm nổi bật nhất là toà cao ốc Bujr, được dùng làm chung cư đắt giá trong một cơ ngơi cao nhất trên thế giới, theo dự trù sẽ cao khoảng trên 2500 feet, tức là sẽ cao hơn 40% so với các toà nhà chọc trời cao nhất hiện nay. Muốn biết sự hấp dẫn của toà cao ốc này đối với các giới thượng lưu giầu có trên thế giới, hãng tiếp thị cho Bujr Dubai chỉ cần tiết lộ sơ về tin cầu thủ đá banh nổi tiếng nhất David Beckham của Anh Quốc cũng đã bỏ ra 5 triệu Mỹ-kim để đặt mua một căn chung cư trong toà nhà này.

Ngoài những dự án đổ tiền ra để phát triển nhanh chóng Dubai và các thành phố lớn khác ở UAE, chính quyền các nước Ả Rập trong vùng cũng đã bắt đầu đầu tư vào nhiều tổ hợp hay cơ ngơi ở ngoại quốc từ vài năm qua, tuy không gây ồn ào hay gặp phản đối như trường hợp đã xảy ra với công ty Dubai Ports World mới đây. Thật vậy, vào năm 2004, DPW đã mua lại công ty quản trị bến cảng CSX đặt bản doanh ở Florida với giá 1,5 tỷ Mỹ-kim. Vào năm ngoái, một công ty quốc doanh khác của Dubai là Jumeirah đã mua lại khách sạn sang trọng Essex House ở Nữu Ước (New York) với giá 400 triệu Mỹ-kim và toà bin-đinh Hemsley, và cũng đã được Thị trưởng Bloomberg ca ngợi là một nỗ lực bảo tồn các di tích lịch sử của New York. Ngoài ra, chính quyền Dubai cũng mua lại khách sạn Sir Francis Drake ở San Francisco, nhiều khu chung cư sang trọng khác với trị giá lên đến 1 tỷ Mỹ-kim. Ngoài Hoa Kỳ, tổ hợp quốc doanh khác là Dubai International Capital cũng đã bỏ ra 1,5 tỷ Mỹ-kim để mua lại bảo tàng viện bằng sáp nổi tiếng là Madame Tussauds, cũng như đầu tư khoảng 1,2 tỷ Mỹ-kim để mua một cổ phần nhỏ khoảng 2% trong đại công ty xe hơi DaimlerChrysler. Một công ty quốc doanh khác của Abu Dhabi cũng đã đầu tư để mua lại khoảng 5% cổ phần của hãng xe hơi danh tiếng của Ý là Ferrari. Một công ty tổ hợp liên doanh giữa một số các nhà tư bản tư và hoàng thân Alwaleed bin Talal của Saudi Arabia cũng đã mua lại hệ thống khách sạn sang trọng Fairmont Hotels & Resorts đặt trụ sở ở Toronto với giá khoảng 3,9 tỷ Mỹ-kim. Và trong một dự án có thể nói là đầu tư to lớn nhất ở ngoại quốc từ khối Trung Đông, tổ hợp điện thoại di động Orascom Telecom Holding của Ai Cập đã mua lại hãng Wind, hệ thống điện thoại di động lớn nhất của Ý, với giá 13 tỷ Mỹ-kim.

Tuy nhiên, những món tiền đầu tư được biết đến chỉ là một phần nhỏ của tổng số lượng đầu tư của khối petrodollars, theo như lời nhận định của ông Brad D. Bourland, trưởng nhóm kinh tế gia của của tổ hợp Samba Financial Group, một trong những ngân hàng tư lớn nhất tại Saudi Arabia. Ông Bourland nói rằng “đây chỉ là mặt nổi của tảng băng” và cho rằng nhiều người dần dần sẽ bắt đầu nhìn thấy những khoản đầu tư to lớn khác của các quỹ đầu tư từ Abu Dhabi và Dubai vốn dư dả tiền bạc và luôn tìm kiếm những nơi để đầu tư ở ngoại quốc.

Trên lý thuyết, phần đầu tư của các quốc gia khối Trung Đông vào công khố phiếu của Hoa Kỳ và một số đầu tư thụ động khác như cổ phiếu chứng khoán tương đối khá khiêm nhường, vào khoảng 67 tỷ Mỹ-kim, nếu so với phần đầu tư vào khoản này của hai quốc gia Á Châu như Trung Cộng và Nhật Bản. Nhưng con số chính xác hơn về tổng cộng khoản đầu tư của khối Trung Đông trên thị trường quốc tế – gồm cả chứng khoán, cổ phiếu, công khố phiếu, địa ốc và một số cơ ngơi tài sản khác – có thể lên đến con số 1000 tỷ Mỹ-kim, theo ước lượng của PFC Energy, một tổ chức tư vấn trong ngành năng lượng đặt trụ sở tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Thế nhưng những khoản đầu tư đó tương đối khó liệt kê ra để kiểm chứng, vì khác với thời kỳ đầu tư trước đó trong thập niên 1970, những món tiền petrodollars ngày nay không chỉ đơn thuần được mang ký thác vào một số các ngân hàng lớn của Hoa Kỳ và Âu Châu để kiếm lời, mà đã được đa dạng hoá, trải đều trên một mạng lưới tinh vi với đủ loại ngân hàng tư, quỹ đầu tư hay những tại những trung tâm tài chánh nằm ngoài khơi (đặt trụ sở tại một số hải đảo như Cayman Islands) nổi tiếng với luật lệ đầu tư khá cấp tiến và không phải đóng thuế cao.

Một điểm khác biệt quan trọng nữa so với thời kỳ làm giầu lúc trước là lần này các chính phủ trong vùng cũng đã học khôn được để không phải đi vào vết xe thất bại vì phung phí trong các chi tiêu công cộng. Sau đợt tăng giá dầu bất ngờ vào năm 1974 và lần thứ hai vào năm 1979, ngân quỹ các nước này được tràn đầy lợi tức thu nhập vào từ dầu hoả nên đã khiến cho các chính quyền có tinh thần ỷ lại vào kho tài nguyên thiên nhiên vô tận và nghĩ rằng lúc nào cũng vẫn tiếp tục có tiền vô dồi dào. Tuy nhiên, khi các nền kinh tế khác bắt đầu thích ứng và cải thiện hệ thống sản xuất tốt đẹp hơn để giảm bớt nhu cầu nhập cảng dầu hoả, giá dầu trên thế giới bắt buộc phải giảm xuống theo đúng với quy luật cung cầu. Đó là tình trạng đã xảy ra trong suốt thập niên 1990, khiến cho các quốc giả xuất cảng dầu ở Trung Đông phải khốn đốn vì mức thu nhập tụt xuống thấp trong khi đã quen xài sang từ lâu. Điều này dẫn đến chính sách thắt lưng buộc bụng, xét lại các chương trình phát triển kinh tế để nhằm bớt những phung phí vô ích và đẩy mạnh ngành sản xuất trong lãnh vực tư nhân để góp sức tạo thêm công ăn việc làm. Nhờ thế mà hạ tầng cơ sở và môi trường kinh tế tại các quốc gia này bắt đầu được phát triển vững bền và quân bình hơn để có thể sửa soạn cất cánh cao hơn một khi tình trạng giá dầu tăng cao trong tương lai đem lại một nguồn lợi tức mới.

Điều này đã bắt đầu xảy ra từ năm 2000, và từ đó đến nay đã giúp cho các nền kinh tế trong vùng tăng trưởng mạnh và đều đặn, tuy không so sánh bằng với các mức tăng trưởng nhiều hơn của Trung Cộng và Ấn Độ. Như trường hợp của Saudi Arabia, với nền kinh tế quan trọng và mạnh nhất trong vùng, trong năm 2005 đã có mức tăng trưởng lên đến 6,5%. Trước đó chính quyền này đã tính toán một cách dè xẻn kỹ lưỡng hơn, dự phòng rằng giá dầu có thể tụt xuống ở mức 25 Mỹ-kim một thùng. Tuy nhiên, trong vòng hơn 2 năm qua, khi giá dầu tăng từ mức 30 Mỹ-kim lên đến gần 60 Mỹ-kim và tiếp tục ở mức cao đó, vô tình ngân quỹ của Saudi Arabia thu lợi được con số kếch xù hơn 150 tỷ Mỹ-kim thặng dư, giúp cho chính quyền hoàng gia ở Riyadh giờ đây dễ dàng hơn trong các hoạch định phát triển khác.

Đa số các dự án đầu tư lần này đều nằm trong các kế hoạch trung và dài hạn, như một dự án 5 năm để xây dựng đường xá, trường học và bệnh viện tại những vùng thôn quê với kinh phí lên đến 50 tỷ Mỹ-kim, một dự án tối tân hoá một nhà máy lọc dầu ở Rabigh tốn kém 9 tỷ Mỹ-kim, và một dự án phát triển cơ sở của Saudi Aramco, công ty dầu hoả quốc doanh duy nhất của vương quốc này, với kinh phí lên đến 14 tỷ Mỹ-kim. Theo sự nhận định của kinh tế gia Bourband, tất cả các dự án đầu tư to lớn và trung hạn này nhiều phần là sẽ duy trì một tình trạng phát triển kinh tế đều đặn trong lãnh vực tư trong cả thập niên tới.

Ngoài ra trong cách đầu tư phát triển, các chính quyền trong vùng cũng học khôn nhiều điều, biết cách phát triển hạ tầng cơ sở nhắm vào các ngành nghề liên hệ với nhau để giúp cho các thương vụ này cùng nhau quy tụ lại để phát triển và hỗ tương lẫn nhau, thay vì nằm rời rạc ở những nơi xa khác nhau. Đó là trường hợp của Dubai đã phát triển hai khu phố tân kỳ với hệ thống thông tin điện tử nhanh lẹ broadband gọi là Internet và Media Cities, với đủ mạng lưới thông tin và liên lạc tối tân và tiện lợi hơn cả bất cứ khu phố nào trên thế giới, giúp làm điểm hấp dẫn cho các cơ sở lớn trên thế giới tụ vào để khuyếch trương làm ăn. Saudi Arabia cũng nhập cuộc, cho mời tổ hợp xây dựng Emaar, công ty xây cất toà nhà chọc trời Bujr Dubai, đến để canh tân và khuếch trương một khu phố mới có tên là King Abullah Economic City ở bến cảng Jeddah với kinh phí 27 tỷ Mỹ-kim nhằm thiết lập một khu phố mới chung quanh một bến cảng như đa dạng hoá với đủ ngành thương mại và kỹ nghệ từ dầu hoả cho tới sản xuất thuốc men.

Tất cả những dự án này đều đã lôi cuốn sự góp mặt của hầu hết các tên tuổi lớn trên thế giới đều nhận ra những cơ hội đầu tư mới để đổ xô vào các vùng đất Trung Đông này. Những đại tổ hợp như Microsoft, Hewlett-Packard, Cisco Systems, đểu đổ dồn đầu tư để thiết lập cơ sở tại hai thành phố Internet và Media Cities tại Dubai, giúp cho môi trường sinh sống và làm ăn của các công ty và thương vụ trong vùng được hưởng những tiện nghi về thông tin Internet vượt xa hơn cả những thành phố nổi tiếng khác trên thế giới. Các công ty xây dựng lớn như Fluor, Bechtel, General Electric cũng không bỏ lỡ cơ hội, nhập cuộc với những dự án xây cất đang thi nhau phát triển trong vùng. Cả hai đại công ty sản xuất máy bay là Boeing và Airbus cũng không bỏ qua dịp may, thi nhau bán các máy bay tối tân cho các hãng máy bay trong vùng, như trường hợp của Emirates Air, một hãng bay tân lập nhưng lại là hãng bỏ tiền đặt mua đến 45 chiếc máy bay tối tân 2 tầng A380. Emirates Air và một hãng máy bay lân can khác là Qatar Airways tổng cộng lại cũng đã đặt hàng thêm khoảng 49 chiếc Boeing 777, giúp cho vùng Trung Đông nổi tiếng là một trong những khách hàng quan trọng nhất cho ngành hàng không cùng với hai thị trường mới là Trung Cộng và Ấn Độ.

Dĩ nhiên, mọi sự không phải lúc nào cũng sẽ tuần tự phát triển một cách vững bền và an lành như mọi người lạc quan tin tưởng. Bởi vì cho dù đã được đa dạng hoá với sự phát triển vượt bực trong lãnh vực tư, nền kinh tế của các quốc gia trong vùng Vịnh này vẫn còn phụ thuộc phần lớn vào nguồn tài nguyên quan trọng duy nhất là dầu hoả. Các nguồn sản xuất về dầu hoả và khí đốt chiếm đến 50% tổng sản lượng GDP ở Qatar và Kuwait; tại Saudi Arabia nó chiếm đến 42%. Cho dù là tình hình trong tương lai gần cho thấy là giá dầu hoả vẫn còn tiếp tục ở mức cao, nhất là với nhu cầu đòi hỏi tiếp tục gia tăng tại các nước phát triển mạnh như Trung Cộng và Ấn Độ, việc các nền kinh tế lệ thuộc phần lớn vào một nguồn tài nguyên duy nhất vẫn không phải là một điểm son để người ta có thể hoàn toàn lạc quan lâu dài.

Ngoài ra, tình hình chính trị trong vùng vẫn còn quá nhiều phức tạp để mọi người có thể bình yên và mơ tưởng đến một tình trạng phát triển thanh bình. Trong trường hợp tệ hại, tình trạng chiến tranh và bất ổn tại Iraq có thể nổ ra thành những cuộc xung đột địa phương giữa hai khối Sunni và Shiite, cũng như tình trạng căng thẳng giữa Iran và Hoa Kỳ có thể đóng góp một vai trò quan trọng trong việc tạo dựng một môi trường lành mạnh hay bất an trong tương lai.

Tất cả những yếu tố trên tạo ra những thách đố cho Hoa Kỳ và Tây Âu cần phải khuyến khích các quốc gia trong vùng Trung Đông cần có những cải cách hơn nữa để có thể duy trì sự phát triển kinh tế cho vững bền. Dĩ nhiên, các chính quyền trong vùng cũng sẽ phải đối diện với những thử thách hay thay đổi mới đang xảy ra trong lòng đất nước của họ, với con số dân mỗi ngày mỗi tăng, cùng với mức thu nhập và trình độ hiểu biết và giáo dục nâng cao hơn, giúp tạo ra một khối trung lưu mới, dần dần cũng tạo ra những đòi hỏi cởi mở hơn trong xã hội về dân sinh và bình quyền.

Không ai biết được tương lai sẽ biến chuyển rõ rệt như thế nào. Có điều người ta có thể tin chắc rằng, trong đoản kỳ, với nhu cầu cần dầu hoả tiếp tục gia tăng, lợi tức thu nhập tiếp tục đổ dồn vào các nước sản xuất sẽ càng ngày càng tăng và dường như chưa thấy ngày sớm tàn lụi. Với khối lượng tư bản dồi dào, cộng với những bài học khôn rút tỉa được sau thất bại của thập niên 1970, lần này những nhà đầu tư của các quốc gia Trung Đông có thể trở thành một trong những tay chơi quan trọng trong các thương vụ hay giao kèo trên thị trường thế giới. Vai trò của đồng petrodollar từ đó lại có thể tiếp tục gia tăng hơn nữa.