NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Dầu Hỏa Sẽ Đưa Thế Giới Đến Tình Trạng Khó Lường

Giá dầu hiện leo lên mức hơn 60 Đôla Mỹ / thùng! Tình trạng đã được giải thích :

1. Nhu cầu tiêu thụ đã tăng cao hơn trước. Những nước như Trung Quốc, Ấn Độ đã trở thành những nước tiêu thụ rất lớn. Theo Cơ Quan Năng Lượng Thế Giới (IEA), trong năm 2004, số cầu của hai nước này đã tăng thêm 970 ngàn thùng mỗi ngày. Riêng Trung Quốc là 840.000 thùng mỗi ngày ( bpd : barrel per day ). Trung Quốc hiện đã trở thành quốc gia tiêu thụ xăng dầu lớn hàng thứ 2 trên thế giới, sau Hoa Kỳ.

2. Iraq, quốc gia có trữ lượng dầu hỏa đứng hàng thứ hai của thế giới, hiện đã có thể sản xuất từ 1,9 đến 2,4 triệu thùng mỗi ngày ( mbpd : million barrels per day ), nhưng chưa bắt kịp mức sản xuất trước đây. Trước chiến tranh vùng vịnh năm 1991, Iraq có thể bơm khoảng 3,5 triệu thùng mỗi ngày. Tình hình an ninh Iraq hiện nay lại cũng không mấy sáng sủa để có thể hy vọng mức sản xuất sẽ tăng cao và bình ổn.

3. Nigeria, quốc gia xuất cảng dầu đứng hàng thứ 7 của thế giới. Đa số mỏ dầu tập trung trong vùng Niger Delta, và người dân trong vùng đã có khuynh hướng bất mãn với chính phủ, cho rằng đất cát ven sông trù phú của họ buộc phải bỏ hoang, mà không được bồi thường xứng đáng. Lực lượng Nhân Dân Tình Nguyện Niger Delta, được thành lập bởi người dân gốc Ijaw đã đứng lên đòi tự trị và kiểm soát các mỏ dầu. Trong năm qua, do đe dọa của dân quân Niger Delta đã buộc hãng Shell phải rút hơn 200 nhân công về nước, đóng cửa cơ sở ở Santa Barbara có sức sản xuất 28.000 thùng mỗi ngày . Nếu tình trạng ở Nigeria trở nên tồi tệ hơn, mỗi ngày sức sản xuất có thể bị rút xuống từ 300.000 đến 400.000 thùng mỗi ngày . Mức sản xuất ở Nigeria hiện nay là 2,3 triệu thùng mỗi ngày .

4. Venezuela, quốc gia sản xuất hàng thứ 8 về dầu hỏa của thế giới. Năm 2003, Tổng thống Hugo Chavez đã thay thế những công nhân đình công bằng những công nhân mới, không kinh nghiệm nên đã làm cho mức sản xuất suy giảm. Tổng Thống Chavez kết án Hoa Kỳ đã hậu thuẫn cho cuộc đảo chánh năm 2002 nên có chính sách không mấy thân thiện. Ngoài tố cáo Hoa Kỳ muốn ám sát ông ta, còn cho rằng các khế ước mà Venezuela ký kết với các hãng lọc dầu Hoa Kỳ không công bằng, cũng như đòi hỏi các chi phí bơm dầu của các công ty Hoa Kỳ tại Venezuela phải được trả thêm thuế và các phí khoản khác. Phía Hoa Kỳ, với chính quyền Chavez cũng đã liên tiếp tố cáo nước này vi phạm nhân quyền. Mặc dầu, vẫn còn bán dầu cho Hoa Kỳ, chính phủ Chavez nỗ lực phát triển liên hệ ngoại giao với Trung Quốc, Nga, Ba Tây, Ấn Độ để tìm khách hàng mới. Nước nầy cũng nỗ lực xây dựng lực lượng quốc phòng. Mua súng ống phi cơ của Nga, Ba tây..để sẵn sàng chống lại sự “xâm lăng“của Mỹ! Không khí căng thẳng giữa hai nước đã không chỉ làm cho tình trạng nhập cảng dầu của Hoa Kỳ từ Venezuela ở trong tình trạng bị đe dọa, mà thế giới cũng thấy nguồn cung cấp dầu từ nước này có nhiều bấp bênh, khó tiên liệu.

5. Iran, quốc gia sản xuất dầu hỏa đứng hàng 2 của thế giới cũng đang trong tình trạng rất khó tiên đoán. Nhất là sau khi ông Mahmound Ahmadinejad, một người Hồi bảo thủ được đắc cử tổng thống. Với chiêu bài chia xẻ lợi tức quốc gia tới người dân Iran, ông Ahmadinejad cho biết nước này sẽ xem xét lại các hợp đồng trước đây, không để lợi tức dầu lửa Iran tiếp tục rơi vào tay mafia và tư bản ngoại quốc. Việc Iran không nhượng bộ áp lực quốc tế và tái tục chương trình nguyên tử cũng đã gây căng thẳng thêm. Ngày 13/8 vừa qua, tại Crawford, Tổng Thống Bush tuyên bố có thể dùng biện pháp quân sự đối với Iran. Với đe dọa chiến tranh và bất ổn có thể lan rộng ở Trung Đông đã góp phần rất lớn trong việc khó ổn định giá dầu.

6. Ả Rập Saudi Arabi nơi cung cấp dầu lớn nhất của thế giới, hiện sản xuất gần 9 triệu thùng mỗi ngày đã được khuyến cáo của Saudi Armco nếu không giảm số lượng xuống còn 4 triệu thùng mỗi ngày sẽ làm hỏng trữ lượng còn lại trong các giếng dầu, nhất là túi dầu vĩ đại Ghawar của nước này.

7. OPEC không đồng ý tăng lượng cung để làm cho giá dầu trên thị trường có thể hạ xuống. Chủ tịch OPEC, ông Sheikh Ahmad al-Fahad Al-Sabah trong tháng 5 vừa qua tuyên bố giá dầu hiện nay là thích đáng với cung cầu và OPEC sẽ giữ mức sản xuất 30 triệu thùng mỗi ngày hiện nay, không tăng thêm số lượng sản xuất.

Những sự giải thích về các nguyên nhân đã làm cho giá dầu lên cao được nêu ra như trên, có lẽ chỉ nói lên các nguyên nhân gần và cũng nhằm làm cho người tiêu thụ có hy vọng giá dầu sẽ xuống trở lại mức bình thường khi các khó khăn chính trị được giải quyết thỏa đáng. Tuy nhiên, tình hình dầu hỏa của thế giới hiện nay có lẽ còn nghiêm trọng hơn những nguyên nhân đã được giải thích. Đó là sự sắp cạn kiệt của các các giếng dầu đã khai phá và sự khám phá các giếng dầu mới đã không thể nào bắt kịp mức cầu càng ngày càng lớn. Theo các cảnh báo của French Petroleum Institute, Colorado School of Mines, Uppsala University và Petroconsultants... thế giới sẽ lâm vào tình trạng thiếu dầu vào cuối thập niên này hay có thể sớm hơn vài năm và điều này sẽ làm khủng hoảng nghiêm trọng cho nền kinh tế toàn cầu.

Giếng dầu được khai phá dù có trữ lượng lớn đến đâu, khai thác một thời gian cũng sẽ cạn kiệt. Nên tìm kiếm các giếng dầu mới luôn luôn là nỗ lực của các đại công ty dầu. Trong thập niên 1990 – 2000, có 42 tỷ thùng dầu ở các mỏ mới được khám phá, nhưng cũng trong thập niên này thế giới tiêu thụ đến 250 tỷ thùng. Việc tìm kiếm và khai phá các mỏ dầu mới cũng càng ngày càng hiếm đi. Trong 3 năm từ 1999 đến 2002, năm đại công ty dầu là Exxon-Mobil, Shell, ChevronTexaco, BP, ElfTotal đã chi khoảng 150 tỷ mỹ kim để đầu tư vào các mỏ dầu mới, nhưng cũng chỉ có thể nâng mức sản xuất từ 16 triệu thùng mỗi ngày lên 16,6 triệu thùng mỗi ngày . Vùng biển Caspian, là nơi mà các công ty dầu đã đặt nhiều hy vọng, dự đoán có trữ lượng lên tới 200 tỷ thùng , nhưng thực tế khác hẳn. Cuối năm 2002, công ty BP đã bỏ cuộc, và năm 2004, ExxonMobil cũng đóng cửa giếng dầu Azeri. Theo các công ty thăm dò, trữ lượng của vùng bể Caspien chỉ khoảng từ 15 tới 30 tỷ thùng, nhưng khai thác khó khăn và phẩm chất xấu. Giếng dầu Azeri mà Exxon phải bỏ khai thác vì phải khoan xuống độ sâu trên 7 cây số. Chính phủ Bush hiện chú ý đến việc khai thác dầu ở Alaska, cơ quan USGS (United States Geological Survey) ước tính trữ lượng ở đây có thể bằng các giếng dầu ở Prudhoe Bay ( lớn nhất Hoa Kỳ, đã khai thác được 13 tỷ thùng ). Tuy nhiên, ngoài sự phản đối của các nhà bảo vệ môi sinh và động vật hiếm quý, các công ty dầu cũng rất nghi ngờ tiềm năng ở đây không nhiều như USGS dự đoán, và có thể cũng giống như vùng biển Caspian. Dầu thì có phần nào nhưng khai thác rất khó khăn.

Theo ước tính, hiện nay khoảng 94% trữ lượng dầu trên quả địa cầu đã được khám phá và khai thác. Phần lớn đang ở vào thời kỳ “Peak Oil” ( Đỉnh Sản Xuất ) hay “Hubbert’s Peak”.

Năm 1950, Tiến sĩ M. King Hubbert đưa ra lý thuyết : giếng dầu lúc mới khai thác sẽ bắt đầu mức sản xuất từ con số Zero, sau đó sẽ lên tột đỉnh, rối lần lần rớt xuống zero theo một đồ biểu hình quả chuông ( bell curve, hay parabole ). Khi giếng dầu được bắt đầu bơm và lên tới đỉnh cao nhất của sức sản xuất chi phí rẻ, nhưng khi từ đỉnh cao giảm dần xuống thì chi phí trở nên đắt đỏ hơn rất nhiều. ( Để có thể giữ áp xuất cao trong giếng dầu để lấy dầu ra, phải bơm nước biển hay dầu khí vào giếng dầu ).

Năm 1956, Hubbert tiên đoán sản xuất dầu nội địa của Hoa Kỳ sẽ lên tột đỉnh vào các năm 1970 đã chứng minh hoàn toàn đúng. Với sự khai thác dầu của thế giới, Hubbert ước tính sẽ lên tột đỉnh vào các năm 2000, và có lẽ tiên liệu này cũng không mấy sai trật. Tiến sĩ Colin Campbell với cuốn “The Coming Oil Crisis” ấn hành năm 1999 cũng tiên liệu khai khác dầu của thế giới sẽ ở mức tột đỉnh vào khoảng từ 2005 đến 2010. Campbell chứng minh việc khám phá các giếng dầu của Hoa Kỳ ở mức cao nhất ( peak discovery ) vào năm 1930 thì mức sản xuất lên cao nhất ( peak of production hay peak oil ) ở vào năm 1972. Ở Bắc hải (Anh, Na Uy, Đan Mạch) thì peak discovery ở vào năm 1974, nhưng do kỹ thuật khai thác tối tân hơn nên peak oil rơi vào năm 2001. Còn thế giới nói chung, khám phá dầu đã ở mức cao nhất trong năm 1965, thì peak oil ( Đỉnh Sản Xuất ) sẽ phải ở khoảng năm 2005.

Khi sự khai thác dầu đã đến thời kỳ peak oil ( Đỉnh Sản Xuất ), dầu vẫn còn để có thể khai thác một thời gian khá lâu mới cạn kiệt, nhưng chậm lại và trở nên đắt đỏ hơn nhiều. Người ta ước tính với túi dầu vĩ đại Ghawar của Saudi Arabia đang cung cấp bình thường mỗi ngày 4,5 triệu thùng, nếu túi dầu này lên tới tột đỉnh mức khai thác, để lấy ra số lượng dầu nói trên, mỗi ngày phải bơm vào túi dầu này 7 triệu thùng nước biển! Theo TS Colin Campbell, sau năm 2005 mức sản xuất dầu của thế giới sẽ giảm mỗi năm 3%, trong khi nhu cầu tăng mỗi năm 2% và như thế vào năm 2020 mức cung chỉ còn được khoảng 40% mức cầu.

Nếu Peak Oil ( Đỉnh Sản Xuất ) trở thành thực tế, trong khi các nước chưa tìm được nguồn năng lượng thay thế, giá dầu sẽ phi mã, về mặt kinh tế, nhất định sẽ có những biến động rất lớn. Kenneth Deffeyes qua cuốn “Beyond The Oil” cho rằng trong tương lai dài, con người sẽ tìm nguồn năng lượng thay thế dầu hỏa như than đá, nguyên tử, nhưng vì chưa chuẩn bị sự thay thế này, giá dầu sau Peak Oil ( Đỉnh Sản Xuất ) sẽ làm cho kinh tế thế giới thay đổi rất lớn. Hết nhà máy kỹ nghệ này phải đóng cửa đến nhà máy khác, và có thể sẽ có tình trạng chết đói tập thể sẽ xảy ra ở nhiều nước trên thế giới do mất mùa màng vì thiếu thuốc trừ sâu bọ, phân bón.. và sự vận chuyển lương thực trở nên rất tốn kém. Các ông Colin Campbell và Richard Hardman còn bi quan hơn: ngoài chết đói còn có chiến tranh. “ there will be a competition for this scarce resource – the oil. It means that there could be famines and wars”

Khi biết tình trạng dầu hỏa sẽ trở nên đắt đỏ, ảnh hưởng mạnh tới nền kinh tế, tìm cách để kiểm soát nguồn năng lượng này chắc chắn cũng sẽ trở thành khuynh hướng tự nhiên của các siêu cường.

Phó tổng thống Hoa Kỳ Dick Cheney từng lãnh đạo công ty Halliburton và khi đắc cử với Tổng Thống Bush, cũng đã dùng ông Mathew Simmons làm cố vấn chương trình năng lượng Hoa Kỳ. Simmons là một trong những người có cùng cái nhìn với Campbell về viễn tượng dầu hỏa thế giới. Có thể vì vậy, vì muốn bảo vệ quyền lợi dầu hỏa, việc tấn công Iraq mới xảy ra trong lúc có nhiều bất đồng với đồng minh và Liên Hiệp Quốc cũng như bất chấp nhiều hậu quả có thể mang lại cho Hoa Kỳ sau chiến tranh. Chính phủ Bush luôn luôn bác bỏ dư luận cho rằng chiến tranh Iraq là vì dầu hỏa, là Oil war. Tuy nhiên nhiều tài liệu tiết lộ cho thấy chính phủ Bush đã có dự tính tấn công Iraq trước khi phát động chiến dịch cho rằng Saddam Hussein có vũ khí tiêu diệt hàng loạt. Không phải chỉ thời Tổng Thống Bush, tài liệu ‘Strategic Assessment 1999” thời Bill Clinton được tiết lộ mới đây cũng cho thấy rằng Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội và Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cũng đã được chuẩn bị để đối đầu với trận chiến tranh dầu lửa. “Energy Security”, An Ninh Năng Lượng có lẽ sẽ sớm trở thành vấn đề sinh tử của các cường quốc hiện nay.

Nếu nói khủng bố là hiểm họa lớn cho an ninh con người hiện nay, thì chiến tranh chống khủng bố có thể là cuộc chiến dai dẳng, nhưng không thể trở thành thế chiến. Ngược lại, “An Ninh năng Lượng” rất có thể đưa đến những cuộc chiến tranh qui mô, và hiện đã bắt đầu bằng những trận chiến cân não. Có lẽ vẫn có nhiều người cho rằng xung đột Mỹ và Trung Quốc chỉ có thể xảy ra vì vấn đề Đài Loan, vì khuynh hướng bá quyền khu vực của Trung Quốc v.v... Tuy nhiên, nếu nhìn về vấn đề dầu lửa, sẽ thấy An Ninh Năng Lượng mới là vấn đề để có thể làm cho hai nước này đưa đến xung đột mãnh liệt. Với quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất Trung Đông là Saudi Arabia, Trung Quốc từng dò dẫm tìm cách thắt chặt liên hệ, bán cho nước này vũ khí, hỏa tiễn tầm trung. Trong năm 1999, khi thăm Saudi, Giang Trạch Dân đề nghị hai nước trở thành “Trategic Oil Partnership” bán cho cho nước này các loại vũ khí tối tân nhất, có cả hỏa tiễn liên lục địa. Saudi đã không dám quay lưng với Hoa Kỳ, từ chối nhiều đề nghị của Trung Quốc, nhưng trong tương lai dài, một khi bất mãn với chính sách của Hoa Kỳ, như trước áp lực dân chủ hóa chế độ, biết đâu Trung Quốc có thể trở thành chỗ dựa của vương triều Saudi. Với Iran là nước đang bị Hoa Kỳ trừng phạt kinh tế cũng như đang cùng với Tây Phương áp lực Iran phải từ bỏ chương trình nguyên tử, thì trong năm 2004, Trung Quốc ký với Iran những khế ước năng lượng lên 120 tỷ mỹ kim. Ở Phi Châu khi Hoa Kỳ đang trừng phạt Sudan vi phạm nhân quyền, thì Trung Quốc đầu tư khai thác vào nước này 8 tỷ mỹ kim. Ngay sát nách Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng đã ký được nhiều khế ước mua dầu của Ba Tây, Á Căn Đình, Peru, Equador.. Và trong khi liên hệ giữa Hoa Kỳ và Venezuela trở nên căng thẳng, các công ty Trung Quốc cũng đã nhân cơ hội ký nhiều khế ước khai thác, cũng như thiết lập nhà máy lọc dầu ở nước này!

Sự cạnh tranh giữa các nước trên nguồn năng lượng dầu hỏa giữa Hoa Kỳ- Trung Quốc ở nhiều nơi, hay Trung Quốc – Nhật Bản với các mỏ dầu của Nga ở Seberia v. v. có thể nói cũng đã rất căng, nhưng vẫn có thể coi là cạnh tranh thương mại, nhưng khi giá dầu lên cao, dầu trở thành sinh tử của nền kinh tế, thì sự cạnh tranh biết đâu có thể trở thành những xung đột khó lường!

Nền kinh tế của thế giới, nhất là các quốc gia kỹ nghệ tân tiến đang sống trên thùng dầu. Riêng Hoa Kỳ mỗi ngày phải đốt trên 20 triệu thùng. Nếu nguồn năng lượng này hạn hẹp lại, có lẽ khẩu hiệu “No Blood for Oil” đang được nhiều người hô hào để phản đối Tổng Thống Bush về chiến tranh Iraq, lúc bấy giờ sẽ tự động bỏ bớt chữ No. Với các nước khác, khi nền kinh tế bị đe dọa vì thiếu dầu, thì người dân và chính quyền các nước này cũng không dễ nằm im để chịu đựng. Hình như, khi miếng cơn manh áo, khi đời sống vật chất bị đe dọa.. chiến tranh thường là cách để giải quyết. Những quan tâm của Colin Campbell, Richard Hardman .. có thể sẽ hiện thực khi nguồn dầu lần lần khan hiếm, đắt đỏ và cạn kiệt. Nếu chiến tranh giữa các siêu cường xảy ra vì tranh giành dầu lửa, thì chắc chắn cũng sẽ khó lường được hậu quả của nó đối với nhân loại vậy.

Huệ Vũ