NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Những đề nghị cho bài toán Năng Lượng của Việt Nam - GS TS Nguyễn Khắc Nhẫn , Kiều bào Pháp

Trong chương trình kỳ trước chúng tôi đã trình bày với quý vị và các bạn quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn, nguyên cố vấn Nha Kinh Tế Dự Báo Chiến Lược EDF Paris, hiện là giáo sư Viện Kinh Tế - Chính Sách Năng Lượng Grenoble, giáo sư Trường Đại Học Bách Khoa Grenoble (Pháp) vì sao chưa nên triển khai xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam, cũng như những đề nghị của ông giúp giải bài tóan năng lượng cho nước nhà.

Trong chương trình hôm nay chúng tôi mời quí thính giả và các bạn cùng nghe đánh giá của Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn về các nguồn năng lượng hiện có tại Việt Nam, và giải pháp ông đưa ra trong tình huống nhà nước vẫn cứ cưong quyết xây dựng nhà máy điện hạt nhân, cũng như một số tâm tình của ông khi góp ý cùng các cơ quan chức năng tại Việt Nam trong lĩnh vực liên quan.

Vị trí địa lý của Việt Nam giúp đem lại một số nguồn năng lượng theo như đánh giá của giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn sau đây :

Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn : Việt Nam là một trong những nước được tạo hoá ưu đãi về những nguồn năng lượng hoá thạch ( than, dầu, khí ) cũng như năng lượng tái tạo ( thuỷ điện, mặt trời, gió, sinh khối, địa nhiệt, sóng biển… ). Tài nguyên thiên nhiên của chúng ta, theo tôi, thừa đủ để cung cấp nhu cầu trong vài chục năm nữa. Chúng ta không phải hấp tấp làm gì chạy theo điện hạt nhân ngay từ bây giờ. Chúng ta có đủ thì giờ để đợi xem xét mức độ an toàn, phương pháp xử lý chất thải phóng xạ của những lò thế hệ IV sẽ xuất hiện vào những năm 2030 - 2035.

Đừng quên rằng về thuỷ điện, chúng ta chỉ mới khai thác được 20% tiềm năng kinh tế khá lớn 85 tỷ KW/h. Việt Nam được đánh giá có tiềm năng phát triển điện gió rất cao nhờ địa lý dọc theo bờ biển trên 3.000 cây số cũng như tốc độ gió cao đáng kể.

Vài con số sau đây để ta thấy tầm quan trọng :

- Hải đảo xa bờ : 2700 - 4500 kWh/m2/năm.

- Hải đảo gần bờ : 1700 – 4200 kWh/m2/năm.

- Trong đất liền : 400 – 3000 kWh/m2/năm.

Con số 200 đến 500 Megawatt do Công Ty Điện Lực Việt Nam đưa ra là quá thấp so với tiềm năng điện gió thật sự của nước ta.

Theo tôi, trong lĩnh vực điện gió chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm quý báu của các nước như Đức, Tây Ban Nha, Mỹ, Đan Mạch, Trung Quốc, Ấn Độ.

Nếu tôi không lầm thì dự án nhà máy điện gió lớn nhất của ta lối 50 - 70 Megawatt đang được xây dựng ở gần thành phố Quy Nhơn – Bình Định. Cá nhân tôi rất mừng vì đó là nơi tôi sinh trưởng. Về năng lượng mặt trời (cũng như năng lượng gió và địa nhiệt) chúng ta chưa nghiên cứu kỹ tiềm năng tương đối dồi dào.

Các con số bình quân sau đây do các cơ quan bên nhà đưa ra, theo tôi, có vẻ phủ nhận triển vọng của năng lượng mặt trời trên lãnh thổ : 150 kcal/cm2/năm trong một khoảng thời gian 2000 – 2500 giờ/năm.

Bài học của Nhật và Úc trong lĩnh vực này sẽ giúp ích ta rất nhiều.

Con số đưa ra về tiềm năng địa nhiệt ( geothermie ) của ta tương đối còn thấp, chỉ vài trăm megawat vào chân trời năm 2020, tuy chúng ta có trên 300 suối nước nóng từ 30° đến 105°C.

Cũng như phần lớn các nước đang phát triển năng lượng sinh khối ( biomasse ) được khai thác từ lâu ở nước ta, đáng tiếc là nhiều nơi khai thác quá mức độ. Vẫn còn nạn cây củi rừng bị phá huỷ hỗn độn tai hại cho môi trường.

Nước ta có nhiều kinh nghiệm về sản xuất năng lượng từ chất thải chăn nuôi. Theo tờ Et news của Enerteam thành phố Hồ Chí Minh, muốn có 1m3 gas/ ngày phải cần 20 kg phân heo/ngày, ứng với thời gian ủ là 40 ngày.

Như các bạn biết, biogas có thể phát điện hoặc cung cấp năng lượng nhiệt. Ví dụ: mỗi m3 biogas cho phép nấu 3 buổi cơm cho 1 gia đình 4 người. Mỗi m3 biogas cũng có thể sản xuất 2 KW/h điện với một động cơ có hiệu suất 30%.

Riêng về việc chế tạo nhiên liệu sinh khí ( biocarburant ) cho xe hơi, chúng ta phải cân nhắc kỹ. Một Giải Thưởng Nobel về hoá học vừa lên tiếng cho biết nhiên liệu sinh khí không đóng góp trong việc giải quyết vấn đề thay đổi khí hậu. Trái lại, nhiều nhà khoa học đang tìm hiểu, đang nghiên cứu về vấn dề này.

Dù luôn đưa ra quan điểm chưa nên xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam, nhưng trong tình huống nếu chúng ta cứ tiến hành xây dựng nhà máy điện hạt nhân thì Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn cũng có suy nghĩ:

Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn : Nếu vì vấn đề chính trị và uy tín mà nước ta phải có điện hạt nhân thì lẽ cố nhiên là tôi vô cùng thất vọng vì tôi rất lo sợ cho quê hương, cho những thế hệ con cháu sau này vì điện hạt nhân không kinh tế và vô cùng nguy hiểm.

Trong 4 năm nay tôi đã bỏ nhiều thì giờ, tham dự các hội nghị năng lượng, nghiên cứu kỹ hồ sơ điện hạt nhân, viết hàng loạt bài để trình bày quan điểm của tôi, dựa trên sự hiểu biết của mấy chục năm hành nghề ở Công Ty Điện Lực Pháp ( Electricité de France, EDF ) và Đại Học Grenoble.

Lẽ cố nhiên vì nhiệt tình đối với đất nước, tôi sẽ không từ chối tiếp tục lưu ý các đồng nghiệp bên nhà về hai khâu an toàn và đào tạo.

Theo tôi, Công Ty Areva và Tập Đoàn EDF giàu kinh nghiệm nhất nhì thế giới có đủ khả năng để hợp tác chặt chẽ với ta trong hai lĩnh vực nêu trên.

Chúng ta phải thận trọng trong việc thương lượng mua lò và máy móc, ký kết hợp đồng với các công ty quốc tế, đừng để họ lợi dụng thế yếu của chúng ta ( vì thiếu chuyên gia ) ru ngủ và tấn công chúng ta một cách vô lễ.

Trở lại vấn đề an toàn, trong nước giáo sư Phạm Duy Hiển cũng đã nhiều lần tỏ ý lo ngại về sự thiếu kỷ luật, pháp lý, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức quản lý của ta. Giáo sư đã nói một công trình như cầu cống nếu có lãng phí tham nhũng bị sập đổ, hư hỏng có thể xây mới lại, nhưng đối với nhà máy điện hạt nhân thì vô cùng nguy hiểm. Tôi hoàn toàn đồng ý với giáo sư Phạm Duy Hiển.

Bấy lâu nay, mức độ nghe ngóng của những cơ quan chức năng tại Việt nam đối với những góp ý của Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn ra sao ? Sau đây là những tâm tình của Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn khi chúng tôi nêu ra câu hỏi đó với ông.

Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn : Câu này rất tế nhị. Tôi xin phép trả lời như sau : Đóng góp của tôi về tâm trí, nhiệt tình thì rất nhiều nhưng đó chỉ là một hạt cát trên bể rộng mênh mông của đất nước. Tôi đã có dịp về công tác bên nhà nhiều lần, nhưng những năm gần đây vì bận công việc bên này, tôi chưa có thì giờ về nước, nhưng tôi có dịp trao tặng tận tay cái CD gồm 17 bài tôi viết và được phỏng vấn về điện hạt nhân từ 2003, cho các vị lãnh đạo cao cấp nhất sang thăm viếng Châu Âu hoặc nước Pháp. Nhưng các vị ấy có thì giờ để đọc, nghe hay suy ngẫm về những thắc mắc khách quan của tôi hay không thì chỉ có Trời Phật biết.

Tôi xin thành thật cám ơn anh đã dùng chữ mức độ lắng nghe, quá nhã nhặn và lễ phép đối với tôi. Xin anh có dịp hỏi thẳng các cơ quan chức năng bên nhà thì biết có ai chịu khó đọc các bài của tôi.

Điều quan trọng là tôi làm tròn bổn phận đối với xứ sở. Tôi vẫn tin tưởng rằng với thời gian bên nhà sẽ cho tôi có lý.

Từ nay đến hết 2020, bao nhiêu biến chuyển có thể làm lung lay độ tin cậy của chính phủ đối với công nghiệp hạt nhân, một công nghiệp càng đồ sộ, càng mỏng manh.

Đối với tôi làm điện hạt nhân, nước ta đi lùi 50 năm chứ không phải đi tới như có người hiểu lầm. Tại sao chúng ta không suy ngẫm về bài học của nước Đức. Với một nền khoa học và công nghệ hàng đầu thế giới, lý do gì mà nước Đức đột ngột hy sinh hàng trăm tỷ đôla, mạnh dạn chuyển hướng sẽ chấm dứt sản xuất điện hạt nhân kể từ năm 2020?

Chiến lược khai thác triệt để năng lượng tái tạo của Đức đã thành công mỹ mãn. Chỉ trong vòng 10 năm, nước Đức đã có 20.000 MW điện gió ( tương đương với công suất 20 lò điện hạt nhân, tuy không chạy liên tục được) và rồi đây Đức cũng sẽ dẫn đầu trong lĩnh vực năng lượng mặt trời.

Tôi rất tiếc là sau cuộc thăm viếng ở nước ta của TS Hermann Scheer, nghị sĩ Quốc Hội Đức và cũng là Chủ Tịch Uỷ Ban Quốc Tế Về Năng Lượng Tái Tạo, và sau buổi giao lưu trực tuyến ngày 15/06/2006 với Giáo Sư Phạm Duy Hiển, Chủ Tịch Hội Đồng Khoa Học ( Cục Kiểm Soát và An Toàn Bức Xạ Hạt Nhân ), các cơ quan chức năng của ta vẫn không thay đổi lập trường đối với khả năng và sự ích lợi của năng lượng tái tạo mà cứ tiếp tục đề cao vai trò của điện hạt nhân.

Một Giải Nobel mở rộng về năng lượng, có nhiều uy tín như TS Hermann Scheer, mà không thuyết phục được chính phủ ta thì tôi cũng không biết làm gì hơn ?

Bài toán năng lượng cho Việt Nam

Hẳn nhiên khi đưa ra ý kiến chưa thể triển khai dự án điện hạt nhân ở Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn cũng chỉ ra những cách thức khác nhằm giải bài toán năng lượng cho Việt Nam.

TS Nguyễn Khắc Nhẫn : Trong lãnh vực năng lượng tôi có cảm tưởng như chiến lược dài hạn của nước ta không được hợp lý lắm và thiếu khách quan trước những thách đố toàn cầu. Tôi liệt kê sau đây vài biện pháp cần thiết cho việc phát triển năng lượng bền vững của đất nước.

1. Biện pháp thứ nhất

Theo tôi, nếu ta phải quyết tâm khai thác cấp tốc và tuyệt đối, tôi xin nhấn mạnh hai chữ "tuyệt đối", tất cả các nguồn năng lượng tái tạo như thuỷ điện, sinh khối, gió, mặt trời, địa nhiệt, sóng biển, v.v. bằng cách đầu tư mạnh mẽ vào việc nghiên cứu và ứng dụng năng lượng tái tạo. Muốn thành công, nhà nước cần phải ban hành luật năng lượng tái taọ như ở Mỹ, Trung Quốc hoặc Pháp.

Ví dụ, ở Pháp cũng như ở một số nước khác, người dân vừa có quyền sử dụng điện gió do mình làm ra vừa có thể bán điện lại cho lưới điện quốc gia. Nhà nước cũng có bổn phận khuyến khích việc chế tạo thiết bị cho nhu cầu trong nước và để xuất khẩu. Ví dụ nước Đức và Đan Mạch, hai nước đã chiếm phần quan trọng nhất nhì trên thế giới trên lãnh vực thị trường quốc tế về tuabin gió.

Những nguồn năng lượng tái tạo gọi là nguồn cân lượng ( énergie de flu ) tràn ngập trên vũ trụ, được tạo hoá gieo rải khắp mọi nơi cho nhân loại sử dụng khỏi phải tốn tiền nhiên liệu, thế mà trong hơn 2 thế kỷ qua nhân loại đã đi ngược dòng, đầu tư và tiêu thụ một cách phung phí năng lượng hoá thạch gồm có than, dầu khí mà tạo hoá đã cặm cụi gầy dựng qua hàng trăm triệu năm, tập trung và dự trữ ở một số mỏ ( énergie de stock ) trên thế giới.

Dầu khí, Uranium trong vài chục năm, và than đá trong hơn một thế kỷ, lần lượt cũng sẽ tuyệt cạn. Chỉ có năng lưọng tái tạo vô tận mới đủ điều kiện giúp nhân loại phát triển bền vững, đồng thời chống lại hiệu ứng nhà kính. Năng lượng tái tạo cho phép ta sản xuất và tiêu thụ ngay tại chỗ, ở mỗi thành phố, mỗi làng xã, mỗi căn nhà.

Với chính sách năng lượng phân cấp ( décentralisé ) ngày nay không nhất thiết phải xây dựng những nhà máy đồ sộ rồi mới sản xuất, truyền tải, phân phối qua nhiều trạm biến thế, gây nhiều tổn thất trên hệ thống dây.

2. Biện pháp thứ hai:

Theo tôi, là tiết kiệm năng lượng mà nước ta ít quan tâm đến, đó là điều đáng tiếc. Năng lượng quý báu nhất là năng lượng mà chúng ta không sử dụng. Tiết kiệm năng lượng phải được nhà nước xem như là một nguồn năng lượng dồi dào, hết sức quan trọng. Nếu chúng ta có một chính sách tiết kiệm dài hạn, sử dụng tối ưu năng lượng, nâng cao hiệu suất sản xuất và tiêu thụ trên toàn lãnh thổ thì mức tổn thất, theo tôi, có thể nhẹ bớt khoảng 30 - 35% là ít.

Lấy ví dụ sau đây : Năm 2006, theo tôi biết, một khách sạn lớn ở thành phố Hồ Chí Minh sau khi áp dụng chương trình tiết kiệm điện do một công ty đề nghị, đã nhìn nhận có sự thất thoát lên đến 30%.

Muốn được kết quả tốt, nhà nước phải quyết tâm khuyến khích dân chúng ở các thành phố lớn thay đổi thái độ trong việc tiêu thụ hàng hoá và nhất là năng lượng. Tất cả những cơ sở quốc gia, xí nghiệp công hay tư, phải xung phong làm gương cho toàn dân. Đó là một thử thách rất lớn, cần ý thức giáo dục và tinh thần kỷ luật.

Tôi được biết Bộ Công Nghiệp cuối năm 2006 đã ban hành thông tư hưóng dẫn thủ tục dán nhãn tiết kiệm năng lượng đối với một số sản phẩm. Điều này đáng mừng, như việc thành lập các cơ quan địa phương để quản lý chương trình tiêt kiệm năng lượng. Như thế nước ta mới có thể hạ thấp hệ số đàn hồi của Việt Nam. Hệ số này hiện nay là 2 vì tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện lực của ta mỗi năm lên đến 16% - 17% và tốc độ GDP là 8 % - 8,5%.

Ở đây tôi nhấn mạnh một điều, với tốc độ tăng trưởng luỹ thừa như trên, nếu chúng ta quá chú trọng về số lượng hơn là chất lượng thì rất tai hại cho môi trường và nền kinh tế quốc gia. Ví dụ trường hợp Trung Quốc đang gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại lớn cũng vì tốc độ tăng trưởng luỹ thừa quá nhanh.

Trước những thách đố của sự thay đổi khí hậu, những nước giàu mạnh phải thay đổi lối sống, cần có sụ giản dị và tiết độ. Những nước đang phát triển như ta không thể nhắm mắt chạy theo những con đường bế tắc của các cường quốc. Trong lúc nước ta mở rộng và xây cất đường sá cho xe hơi thì các nước giàu mạnh, như Pháp, thu hẹp đường sá cho người đi xe đạp và đi bộ. Sự kiện này và sự bất lực của ta trong việc giải quyết ùn tắc kẹt xe ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội là một cơ hội để ta phân tích kỹ và đặt câu hỏi đâu là tiến bộ, đâu là bước lùi.

Rác thải trong nhà chồng chất ở ngoài đường, chúng ta chưa có đủ điều kiện, chưa có đủ tài chánh để giải quyết vấn đề ô nhiễm, tại sao phải ôm thêm rác thải phóng xạ hạt nhân nguy hiểm cho đất nước?

3. Biện pháp thứ ba mà tôi muốn nêu lên đã được các đồng nghiệp bên nhà nghiên cứu từ mấy năm nay. Tôi xin vắn tắt, đó là kế hoạch nhập khẩu điện năng qua lưới điện liên kết các nước trong vùng, nhất là đối với Lào có tiềm năng thuỷ điện rất lớn.

Ngoài 3 biện pháp trên, nếu muốn tránh làm điện hạt nhân, chúng ta có thể tiếp tục xây nhà máy thuỷ điện lớn nhỏ, những nhà máy điện chạy than và khí. Chúng ta đừng quên rằng tỷ lệ điện cao ở Mỹ và Trung Quốc vẫn rất cao. Chúng ta không thể viện lý do thay đổi khí hậu để làm điện hạt nhân, thay vì làm điện với nhiên liệu than, trong lúc đó cứ 10 ngày Trung Quốc xây dựng thêm một nhà máy vài trăm megawatt chạy than.

Theo cơ quan đánh giá môi trường Hoà Lan, năm 2006 Trung Quốc đã trở thành quốc gia phát thải CO2 nhiều nhất thế giới, hơn cả Mỹ, Châu Âu, Nga, Ấn Độ và Nhật bản.

Ô nhiễm môi trường vì CO2 trên thế giới cũng như ở nước ta do lãnh vực vận tải trầm trọng hơn cả, chứ không phải do các nhà máy chạy than hay dầu khí.

Vừa rồi là quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn, vì sao chưa nên triển khai xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam, cũng như những đề nghị giúp giải bài toán năng lượng cho nước nhà.

Trong chương trình tiếp, chúng tôi mời quý thính giả và các bạn cùng nghe đánh giá của Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn về các nguồn năng lượng hiện có tại Việt Nam, và một số tâm tình của ông khi góp ý cùng cơ quan chức năng ở Việt Nam trong lãnh vực liên quan.