NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

NĂNG LƯỢNG : ĐIỆN BẰNG SỨC GIÓ - KHO BÁU ĐANG CHỜ - TS Nguyễn Thế Việt

Dự kiến đến năm 2020, khi nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Việt Nam bước vào hoạt động, sản lượng điện cả nước mới đáp ứng 80% nhu cầu. Có một giải pháp có thể nhanh chóng nâng cao sản lượng điện, đáp ứng nhu cầu điện năng trong một thời gian không lâu: xây dựng các trạm điện bằng sức gió.

Các máy phát điện lợi dụng sức gió đã được sử dụng nhiều ở các nước châu Âu, Mỹ và các nước công nghiệp phát triển khác. Sau thảm họa Chernobyl (Ukraine 1986), cuộc đấu tranh đòi hủy bỏ các nhà máy điện nguyên tử tại Đức diễn ra ngày càng mãnh liệt nên điện bằng sức gió phát triển rất mạnh, sản lượng đã vượt xa sản lượng thủy điện và trở thành nguồn năng lượng đáng kể trên cường quốc công nghiệp này.

Ưu điểm dễ thấy nhất của điện bằng sức gió là không tiêu tốn nhiên liệu, không gây ô nhiễm môi trường như các nhà máy nhiệt điện, dễ chọn địa điểm và tiết kiệm đất xây dựng, khác hẳn với các nhà máy thủy điện chỉ có thể xây dựng gần dòng nước mạnh với những điều kiện đặc biệt và cần diện tích rất lớn cho hồ chứa nước.

Các trạm điện bằng sức gió có thể đặt gần nơi tiêu thụ điện, như vậy sẽ tránh được chi phí cho việc xây dựng đường dây tải điện. Ngày nay điện bằng sức gió đã trở nên rất phổ biến, thiết bị được sản xuất hàng loạt, công nghệ lắp ráp đã hoàn thiện nên chi phí cho việc hoàn thành một trạm điện bằng sức gió hiện nay chỉ bằng 1/4 so với năm 1986.

Trạm điện bằng sức gió có thể đặt ở những địa điểm và vị trí khác nhau, với những giải pháp rất linh hoạt và phong phú. Các trạm điện bằng sức gió đặt ở ven biển cho sản lượng cao hơn các trạm nội địa vì bờ biển thường có gió mạnh. Giải pháp này tiết kiệm đất xây dựng, đồng thời việc vận chuyển các cấu kiện lớn trên biển cũng thuận lợi hơn trên bộ. Dải bờ biển Việt Nam trên 3.000km có thể tạo ra công suất hàng tỉ kW điện bằng sức gió.

Những mỏm núi, những đồi hoang không sử dụng được cho công nghiệp, nông nghiệp cũng có thể đặt được trạm điện bằng sức gió. Trường hợp này không cần làm trụ đỡ cao, tiết kiệm đáng kể chi phí xây dựng.

Trên mái nhà cao tầng cũng có thể đặt trạm điện bằng sức gió dùng cho các nhu cầu trong nhà và cung cấp điện cho thành phố khi không dùng hết điện. Trạm điện này càng có ý nghĩa lớn hơn khi thành phố bất ngờ bị mất điện.

Điện khí hóa ngành đường sắt là xu hướng tất yếu của các nước công nghiệp. Chỉ cần đặt với khoảng cách 10km một trạm 4.800kW dọc các tuyến đường sắt đã có đủ điện năng cho tất cả các đoàn tàu ở Việt Nam hiện nay. Các đầu máy diesel và than đá tiêu thụ lượng nhiên liệu rất lớn và gây ô nhiễm môi trường sẽ được thay thế bằng đầu máy điện trong tương lai.

Đặt một trạm điện bằng sức gió bên cạnh các trạm bơm thủy lợi ở xa lưới điện quốc gia sẽ tránh được việc xây dựng đường dây tải điện với chi phí lớn gấp nhiều lần chi phí xây dựng một trạm điện bằng sức gió. Việc bảo quản một trạm điện bằng sức gió cũng đơn giản hơn việc bảo vệ đường dây tải điện rất nhiều.

Nhà máy nước ngọt đặt dưới chân những trạm điện bằng sức gió là mô hình tối ưu để giải quyết việc cung cấp nước ngọt cho vùng đồng bằng sông Cửu Long, tiết kiệm nhiên liệu và đường dây.

Một trạm 40kW có thể đủ cho một xã vùng cao, một đoàn thăm dò địa chất hay một khách sạn du lịch biệt lập, nơi đường dây chưa thể vươn tới được. Một nông trường cà phê hay cao su trên cao nguyên có thể xây dựng trạm điện bằng sức gió hàng trăm hoặc hàng ngàn kW, vừa phục vụ đời sống công nhân, vừa cung cấp nước tưới và dùng cho xưởng chế biến sản phẩm...

Tất nhiên, gió là dạng năng lượng vô hình và mang tính ngẫu nhiên rất cao nên khi đầu tư vào lĩnh vực này cần có các số liệu thống kê đủ tin cậy. Nhưng chắc chắn chi phí đầu tư cho điện bằng sức gió thấp hơn so với thủy điện. Toàn bộ chi phí cho một trạm điện bằng sức gió 4.800kW khoảng 3.000.000 euro.

Với 500 trạm điện bằng sức gió loại 4.800kW sẽ có công suất 2,4 triệu kW, bằng công suất Nhà máy thủy điện Sơn La, tổng chi phí sẽ là: 500 x 3.000.000 = 1,50 tỉ euro = 1,875 tỉ USD, chi phí này nhỏ hơn 2,4 tỉ USD là dự toán xây dựng Nhà máy thủy điện Sơn La.

Sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đứng trước những thử thách lớn. Để vượt qua được những thử thách đó cần có một nền công nghiệp điện năng phát triển. Xây dựng điện bằng sức gió là một giải pháp hiện thực, có hiệu quả cao, có thể nhanh chóng đáp ứng nhu cầu điện năng của cả nước. Điện bằng sức gió thật sự là một kho báu vô tận đang chờ người mở!

TT

Điện sử dụng sức gió - Tiềm năng còn bỏ ngỏ

Lác đác ở nước ta thời gian qua có xây dựng một số trạm điện dùng năng lượng gió. Gần đây nhất có thể kể đến trạm phát điện năng lượng gió và mặt trời công suất thiết kế 1.500W đang được lắp đặt tại Cù Lao Chàm (Hội An, Quảng Nam). Trạm phát điện này sẽ hoạt động đầu năm nay, khắc phục tình trạng dùng điện máy nổ diezel vốn chỉ hoạt động từ 18 - 22 giờ/ngày.

Đáng tiếc, chúng ta chưa có bất cứ kế hoạch nào với lý do tiềm năng ở Việt Nam không cao và, vì vậy, đầu tư nhiều mà hiệu quả thấp. Tuy nhiên, từ CHLB Đức, TS Nguyễn Thế Việt - chuyên gia về năng lượng cho rằng cách nhìn như thế là không thực tế, nhất là với Việt Nam địa hình chia cắt, trải trên nhiều vĩ độ và đi lại vô cùng khó khăn.

Dự kiến đến năm 2020, khi nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Việt Nam bước vào hoạt động, sản lượng điện cả nước mới đáp ứng 80% nhu cầu. Cũng tới năm 2020, theo TS Việt, nước Đức sẽ dỡ bỏ các nhà máy điện nguyên tử, theo yêu cầu của đa số nhân dân Đức.

Một trong những bất lợi của các loại hình phát điện hiện hành là phải xây dựng các đường dây tải điện với chi phí rất lớn, đặc biệt khi cần cung cấp điện cho các vùng sâu, vùng xa, nơi còn hàng trăm ngàn đồng bào chưa một lần thấy ánh điện.

Các máy phát điện lợi dụng sức gió (trạm phong điện) thời gian qua được sử dụng ngày càng nhiều ở các nước Âu, Mỹ và các nước công nghiệp phát triển khác, đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973.

Riêng tại Đức, theo TS Việt, sản lượng phong điện nước này vượt xa sản lượng thủy điện và trở thành nguồn năng lượng quan trọng trên đất nước có nền kinh tế thứ ba thế giới. “Đi trên mỗi nẻo đường nước Đức ai cũng thấy những trạm phong điện, rải rác từ một vài trạm tới những cụm vài chục trạm”, TS Việt nói.

Riêng trên quãng đường 500 km từ Frankfurt tới Hamburg có thể thấy hàng ngàn trạm phong điện với công suất hàng triệu kw. TS Việt nhận định nước Đức đang dẫn đầu thế giới về công nghệ phong điện và ông tin Việt Nam hoàn toàn học tập kinh nghiệm này với điều kiện các nhà vạch chính sách năng lượng có cái nhìn thực tế.

Thiếu thông tin trữ lượng gió

Gió là dạng năng lượng vô hình và mang tính ngẫu nhiên rất cao nên khi đầu tư vào lĩnh vực này cần có các số liệu thống kê đủ tin cậy. Rào cản chủ yếu đối với việc phát triển phong điện ở Việt Nam chính là sự thiếu thông tin về trữ lượng gió.

Tại hội nghị tổng kết chương trình nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên tổ chức ở Hà Nội giữa năm ngoái, cố GS.VS Nguyễn Văn Đạo, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Tự nhiên, thừa nhận Việt Nam thiếu rất nhiều dữ liệu cơ bản về các tiềm năng tự nhiên trong đó có tiềm năng gió.

Thế mới có chuyện khi xây dựng một số công trình ven biển miền Trung nước ta, các nhà thầu Singapore và Úc phải sử dụng dữ liệu về gió và sóng biển trước đây của người Mỹ.

Gần đây, một số công ty nước ngoài đến Việt Nam để tìm cách khai thác phong điện. Nhưng vì chưa đủ số liệu cần thiết nên họ chưa có sự đầu tư nào đáng kể nào.

Một hãng Đức từng xây dựng tại Ấn Độ và Brazil hàng ngàn trạm phong điện, có cơ sở thường trực giám sát hoạt động các trạm qua hệ thống vệ tinh viễn thông, xử lý kỹ thuật ngay khi cần thiết cũng đến Việt Nam tìm thị trường nhưng chưa quyết định đầu tư vì chưa có đủ cứ liệu để xây dựng trên quy mô lớn. Một công ty khác chuẩn bị xây dựng 12 trạm phong điện với công suất 3.000 kw trên huyện đảo Lý Sơn, v.v..

Thật ngạc nhiên là, trong khi đó, các nhà hoạch định chính sách năng lượng của ta tỏ ra rất thờ ơ với nguồn “vàng trong gió” này.

So sánh chi phí đầu tư giữa phong điện và thủy điện

Toàn bộ chi phí cho một trạm phong điện 4.800 kw khoảng 3.000.000 euro. Với 500 trạm phong điện loại 4.800 kw sẽ có công suất 2,4 triệu kw, bằng công suất nhà máy thủy điện Sơn La. Tổng chi phí sẽ là :

Chi phí này nhỏ hơn 2,4 tỷ USD, dự toán xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La.

500 x 3.000.000 euro = 1,50 tỷ euro = 1,875 tỷ USD,

Giá thành mỗi kwh

Giá thành một kwh điện trong 10 năm đầu có thể tính như sau :

Sản lượng điện của trạm trong một năm là 4800kw x 2200 giờ = 10.560.000 kwh .

(chỉ tính trạm đủ gió để hoạt động 2.200 giờ - khoảng ¼ thời gian một năm).

Một trạm 4.800 kw trong 10 năm có sản lượng điện là : 105.600.000 kwh .

Chi phí để xây dựng trạm là : 3.000.000 euro .

Chi phí duy tu bảo dưỡng trong 10 năm là : 240.000 euro .

Toàn bộ chi phí trong 10 năm đầu là : 3.240.000 euro .

Chi phí cho 1 kwh là : (3.240.000: 105.600.000 =) 0,031 euro .

Tính ra tiền Việt Nam (tỷ giá 20.000 đồng/euro) là: 0,031 x 20.000 = 620 đồng/kwh .

Giá thành 1 kwh điện trong 10 năm tiếp theo :

10 năm tiếp theo chỉ phải chi cho việc duy tu bảo dưỡng, giá thành sẽ là :

240.000 euro : 105.600.000 kWh = 0,0023 euro/1 kWh .

Tính ra tiền Việt Nam, 0,0023 x 20.000 = 46 đồng/kwh .

QD