|
Giáo dục đào tạo : mấy chục năm điều trần - GS Bùi Trọng Liễu , Kiều bào Pháp
Từ mấy chục năm, trong thời còn chiến tranh hay sau ngày hòa bình thống nhất, trước hay sau thời đổi mới, dưới dạng thư điều trần gửi các cấp lãnh đạo hoặc những năm gần đây qua các bài báo, tôi không ngừng kiến nghị về sự cần thiết tổ chức và quản lý giáo dục đào tạo sao cho phù hợp với tình hình tiến triển của đất nước. Tôi xin được tóm tắt lại dưới đây một số điều tôi đã phát biểu .Ngoại trừ những lời tôi kiến nghị nên tách rời nhiệm vụ quản lý với nhiệm vụ khoa học , lập học vị tiến sĩ, phong lại chức danh giáo sư đại học để ổn định trật tự khoa học , những điều tôi đã kiến nghị là :
1/ Nên có một nền giáo dục công lập mạnh, vì vai trò cần thiết của Nhà nước ( năm lý do : bảo đảm sự bình đẳng và sự công bằng cho mọi công dân trong xã hội; bảo đảm được sự đầu tư lớn và dài hạn; góp phần bảo vệ sự thống nhất và thuần nhất; bảo đảm được sự liên tục và thừa kế về trí tuệ; giáo dục đào tạo là một trong những vế chính của nền độc lập tự chủ ) . Mặc dù năm 1988 tôi là người đã khơi ý cùng với 5 anh chị trong nước khởi xướng và được chính quyền cho phép thành lập đại học “dân lập” đầu tiên , tôi vẫn nghĩ rằng nước nhà nên có một nền giáo dục công lập phát triển đại trà, song song với một hệ thống giáo dục dân lập tư lập đóng vai trò bổ sung . Việc cho phép mở đại học “dân lập” đã góp phần giải tỏa được vấn đề “lý lịch trong việc học” và một số điều tích cực khác. Nhưng sự “quá đà” trong việc phát triển hệ giáo dục tư lập ( có thể bị dư luận coi như một thứ từ bỏ trách nhiệm của nhà nước, vì đẩy gánh nặng sang phía công dân ), một số trường hợp lạm dụng giáo dục để kinh doanh, học phí nặng, luật lệ “bó buộc đi học tới một tuổi nào đó” nhưng lại không bảo đảm miễn phí, sự bất công trong việc học qua gia cảnh giàu nghèo, vv., là những nghịch lý, không phù hợp với sở nguyện của tôi.
2/ Tôi có nêu hai mục tiêu chính của giáo dục đào tạo :
(a) Tạo lập một cơ sở tri thức, văn hóa cho con người và xã hội ( bởi vì một xã hội tiến bộ chỉ có thể là tập hợp của những con người có trình độ hiểu biết cao; và bởi vì “học” là nhu cầu tri thức của mỗi cá nhân, cần phải được đáp ứng ).
(b) Đào tạo chuyên môn nghề nghiệp: để đáp ứng cho các khu vực sản xuất, kinh tế, hành chính và cho các hoạt động xã hội khác của đất nước; đồng thời cho mỗi cá nhân một (hay những) chuyên môn nghề nghiệp, để mưu cuộc sống và để thực hiện vai trò của mình trong xã hội.
Với những thăng trầm, tới nay tôi vẫn có cảm tưởng là những mục tiêu này chưa được quan tâm đúng mức.
3/ Về cách tổ chức giáo dục đại học, tôi có nêu một số nhận xét ( sự tồn tại của một hệ thống đại học và cao đẳng công lập phức tạp và quản lý không nhất quán, tản mạn và lãng phí ) và có đề nghị những giải pháp tháo gỡ. Thí dụ như thay vì tuyển sinh quá sớm ( ngay từ ở mức tú tài ) vào những trường đại học nghề nghiệp, nên tổ chức học cơ bản chung ngành trước khi đào tạo chuyên nghề, để tiết kiệm được phương tiện và nhân lực ; đồng thời nên theo xu hướng chung của thế giới hiện nay : nên tránh việc đào tạo chuyên môn quá hẹp theo kiểu tiếp thu những công thức kỹ thuật đồng thời lại nhẹ vế kiến thức cơ bản, vì khoa học kỹ thuật tiến nhanh, nếu sinh viên bị đào tạo quá hẹp, khi vào đời sẽ không thể cập nhật nổi .Tôi cũng kiến nghị bỏ những môn học vô ích, tốn thì giờ, sức lực và tiền bạc . Tôi có cảm tưởng là những kiến nghị của tôi không được bộ máy quản lý giáo dục đào tạo chú ý.
4/ Trên thế giới hiện nay, giáo dục đại học luôn luôn gắn liền với nghiên cứu khoa học. Tôi có kiến nghị hình thức tổ chức liên kết sao cho phù hợp với sự tiến triển . Tuy một số cải cách đã phù hợp với ước mong của tôi ( như việc chỉ có một học vị tiến sĩ ), cách tổ chức cấp “đào tạo qua nghiên cứu” hiện nay chứng tỏ rằng bộ máy quản lý vẫn quá quen thuộc và gắn bó với cách tổ chức kiểu Liên Xô cũ, đồng thời lại mơ tưởng đạt hiệu quả theo kiểu Mỹ và Tây Âu . Đây là điều phi lý đáng tiếc.
5/ Trong một tinh thần muốn phát triển đất nước, việc gửi du học sinh và nghiên cứu sinh ra nước ngoài học hỏi và nghiên cứu là một việc chính đáng và cần thiết. Nhưng với việc dùng của cải chung của đất nước và dùng viện trợ nhận được từ các nước ngoài để thực hiện việc gửi người ra nuớc ngoài này, nếu không có một chính sách phù hợp để đón nhận và khuyến khích sự trở về của những du học sinh, du nghiên cứu sinh đã thành tài, thì khác nào như chính mình lại tổ chức “chảy máu chất xám” của chính dân tộc mình. Đó là những điều tôi đã phát biểu .
6/ Trong một nền giáo dục đào tạo nghiêm túc, bằng cấp, học vị đặt ra là để đánh giá sự hiểu biết thực sự ; chức danh đặt ra là để đáp ứng với nhiệm vụ phải thực hiện. Đó không phải là thứ hàng mã chế ra để phô trương, ngộ nhận tiếm xưng hay để ban thưởng . Lại càng không nên lẫn lộn chức và hàm. Nếu muốn ban thưởng đã có cách khác, thí dụ như tổ tiên ta thuở trước đã biết giải quyết qua việc “bán hàm”, đó là một tấm gương mà hiện nay nên suy ngẫm.
7/ Một trong những vấn đề cấp bách nhất hiện nay là vấn đề nhà giáo đại học, bởi vì có thày đủ trình độ hiểu biết thì mới có trò có trình độ hiểu biết, có thày dạy đúng thì mới có trò hiểu đúng, có nhà giáo đại học giỏi thì mới có nhà giáo trung học tiểu học giỏi. Do đó, trong nhiều năm, tôi đã đề nghị một hình thức tuyển nhà giáo đại học sao cho phù hợp, công bằng và có hiệu quả nhất cho nền giáo dục đại học nước ta Nhưng rồi sự cải cách từ hình thức “phong hàm” giáo sư chuyển sang hình thức công nhận “chức danh” cũng chẳng khác nhau mấy tí về nội dung và về cách tiến hành. Thêm vào đó, là vấn đề nhà giáo cho các trường đại học dân lập hiện nay hoàn toàn chưa vào nề nếp. Trong tình hình đã trót như ngày nay, chi bằng nhà nước nên cho phép mỗi cơ sở dân lập đó tự tuyển và trao danh hiệu giáo sư theo cấp bậc của chính họ qui định, như kiểu các truờng đại học Mỹ và Canađa, vv. Như vậy còn hợp lý hơn là tình trạng đầu Ngô mình Sở hiện nay, với những chức danh giáo sư do nhà nước phong, mà các đại học dân lập vay mượn dùng ké, qua những cán bộ giảng dạy kiêm nhiệm công và tư.
Mặc dù cấp lãnh đạo có quyết tâm, cuộc chấn chỉnh nền giáo dục đào tạo chỉ có hy vọng dần dần thành công nếu như bộ máy quản lý thích ứng được với tình hình, và nếu dư luận thực sự chú ý.
Một đề nghị cụ thể
Tôi nghe có một vài phản ứng bên ngoài, qua việc đọc mấy bài tham luận qua website và qua mấy bài báo viết về xêmina .Có người cho rằng các phê bình thì nhiều và mạnh, nhưng đề nghị giải pháp thì tới nay tương đối ít. Tôi có nói là có thể rằng những giải pháp đề nghị cụ thể nằm trong các “phụ lục” không đưa trên website, cũng có thể rằng xêmina mới bắt đầu, phần đề nghị sẽ nằm ở những buổi cuối chăng ?
Dù sao có lẽ nên tìm một sự đồng thuận (consensus) nào đó chăng? Tôi ở xa, không dám có ý kiến về tiểu học và trung học, ngoài những phát biểu chung chung về “tinh thần và mục tiêu” của việc Học (mà tôi đã viết trên các bài báo).
Về Giáo dục đại học, có mấy điểm mà tôi đã có mấy dịp trao đổi với vài anh, đặc biệt là anh Hoàng Tụy và anh Trí (và viết trên báo). Tôi thiết tưởng là nên đề nghị :
1/ Lập một vài trường đại học “công lập” mới, và cho các trường đó những phương tiện, (kể cả việc sinh viên được miễn học phí, có học bổng, dược có chỗ ăn ở đàng hoàng), vv... Qui mô không cần lớn (có thể lúc đầu chỉ vài trăm sinh viên), nhưng chất lượng phải tương xứng, vv. (Kệ cho các đại học khác công lập, dân lập hay tư lập, phát triển tốt, hay tồn tại lay lắt, miến là đừng đi lệch hướng. Trong tình hình hiện tại, đòi hỏi một chấn hưng đại trà, e rằng không thiết thực).
2/ Mới , không có nghĩa là phải xây trưòng sở mới, phương tiện sang trọng, vv., mà có nghĩa là: tuyển lại thày mới ( theo nghĩa rộng: chuyển từ nơi khác sang hay tuyển người mới vào nghề), tuyển trò mới , theo một mô hình mới.
3/ Mô hình đại học mới đó, nên là (3 hay 4) +2+3, nghĩa là gồm 3 cấp (tương ứng với 3 “đầu ra”, cần phù hợp với thị trường lao động):
- Cao đẳng - cử nhân : đầu ra là tú tài +3 (hay +4 nếu phải “bổ túc (recycler)” sinh viên vì trình độ học ở trung học yếu).
- Thạc sỹ - kỹ sư: đầu ra là tú tài +5.
- Tiến sỹ : đầu ra là tú tài +8.
Chú thích : Tôi ở xa nên không rõ thực tế trong nước về các trường Cao đẳng. Nhưng tôi nghĩ rằng sẽ thất sách, nếu như qui định ngay từ đầu rằng có một hệ cho sinh viên « kém » (học ngắn) và một hệ cho sinh viên « giỏi » (học dài), bới vì như vậy thì các trường cao đẳng luôn luôn « rỗng », nước nhà sẽ tiếp tục thiếu kỹ thuật viên (techniciens supérieurs) trung gian giữa công nhân và kỹ sư, cũng như tiếp tục thiếu những chuyên viên hạng trung gian trong các ngành khác, vv. Sự lựa chọn cho học tiếp lên cao hay không, chỉ nên thực hiện khi đã học hết cấp. (Cử nhân giỏi, có khả năng học tiếp, thì mới cho ghi tên học Thạc sỹ , vv.). Theo nghĩa đại học mới này, cao đẳng là chặng đầu cho bất cứ sinh viên nào, bất cứ ngành nào, kể cả sư phạm, kể cả cơ khí, vv.
4/ Trong Mô hình đại học mới đó,
Cao đẳng : 2 năm đầu cấp dành cho học « cơ bản » chung theo một số ngành, năm thứ ba thì tách (tỏa ra) học chuyên môn nghề (thí dụ như sư phạm).
Thạc sỹ : năm đầu học cơ bản cấp cao, năm thứ nhì làm « đề án chuyên nghiệp », (không nên lẫn với nghiên cứu và phát minh ra cái mới).
Tiến sỹ : chủ yếu là nghiên cứu cái mới, song song với việc bổ túc hiểu biết qua các xê-mi-na (không còn việc học thi, trả bài nữa). Cấp này bao gồm đào tạo và nghiên cứu gắn liền với nhau (chính là cái cấp « đào tạo qua nghiên cứu).
Chú thích :
a) Quan trọng không phải ở số năm học, mà là ở tinh thần học tập.
b) Xin nhắc lại là tôi « dị ứng » với cụm từ « sau đại học », (một vài nhà quản lý dùng nó vì quá quen với hệ thống Liên Xô cũ, và chưa hiểu rõ hệ thống tổ chức đại học Mỹ và phương Tây).
5/ Các đại học mới đó, nên là đại học đa khoa. (Tôi không dám dùng chữ “đại học tổng hợp”, vì quá khứ, tên dùng này trót bị hiểu theo một nghĩa hơi péjoratif [xấu], có thể do bị hiểu lầm : cho cảm tưởng là tuy nhiều khoa nhưng “song song” chứ không “kết hợp”), dù cho là khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật hay khoa học xã hội, nhân văn vv. (Y, Dược, Nha thì tôi không dám bàn). Đa khoa đây nên hiểu theo nghĩa rộng (đại học bách khoa có thể hiểu là đa khoa theo nghĩa này; trái lại “cầu đường”, “sư phạm”, hoặc “ngoại ngữ” vv. không phải là đa khoa theo nghĩa này, vv.).
Chú thích: Tôi chỉ đề nghị một hướng chung, ở cỡ “vĩ mô”, chứ không đi vào chi tiết, một phần là vì tôi đã viết trong một số bài báo (thí dụ như cách tuyển giáo sư đại học, vv.), một phần là vì để người tại chỗ lựa chọn khi thực hiện. Đọc câu cuối của tham luận của anh Trí, tôi nhận thấy là anh và tôi tiếp tục đồng ý, như tôi đã nhiều lần trao đổi với anh, tuy anh “dè dặt” (?) chỉ nói tới hệ đào tạo kỹ sư.
GS Bùi Trọng Liễu, nguyên Giáo sư ĐH Paris.
|