NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Định vị Việt Nam trong thế giới của thập kỷ mới - Nguyễn Trung

Việt Nam bước vào thập kỷ mới của thế kỷ 21 đúng vào lúc thế giới đang có những thay đổi bước ngoặt. Định vị Việt Nam trong thế giới ấy, nhận diện những thách thức nội tại để tìm hướng bứt phá phát triển sẽ được bàn luận trong loạt bài của Nguyễn Trung.

Đánh giá một cách toàn diện cục diện thế giới và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam liên quan đến con đường phát triển, ứng xử đối ngoại... là câu chuyện có tính chiến lược đối với sự phát triển của đất nước. Không tham vọng giải quyết trọn vẹn bài toán này, song loạt bài của Nguyễn Trung hy vọng sẽ cung cấp cho độc giả một góc nhìn, một tư liệu cần tham khảo.

Bài viết dưới đây thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Mời độc giả cùng tranh luận.

Phần 1: Nhận diện thế giới mới

Việt Nam, kể từ 1986, sau một phần tư thế kỷ thực hiện sự thay đổi căn bản mang tên là đổi mới, đã kết thúc thời kỳ phát triển theo chiều rộng với nhiều thành tựu to lớn có tính bước ngoặt, thay đổi bộ mặt đất nước và được thế giới ghi nhận.

Mặt khác cũng phải tỉnh táo nhận thấy, so ta với chính ta trước kia, những thành tựu đạt được trong 25 năm qua là rất to lớn; nhưng nếu so với chặng đường 25 năm đầu tiên trên con đường trở thành NIC (nước mới công nghiệp hóa) của Hàn Quốc, Brazil... nước ta phát triển như thế là chậm, so với những thách thức hiện tại và phía trước nước ta phải đối mặt lại càng chậm. Nên có cái nhìn nhiều chiều như vậy để định liệu công việc của mình, và nhờ đó có thể "đỡ" rơi vào cái bệnh "mẹ hát con khen hay"!

Việt Nam bước vào thập kỷ 2020 đúng vào lúc kinh tế thế giới - trước hết là những nền kinh tế lớn mà đầu tầu là kinh tế Mỹ - đang tìm cách ra khỏi cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống hiện nay để tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triển mới. Trong khi đó Trung Quốc đang dấn bước vào thập kỷ 2020 với mọi nỗ lực quyết liệt nhất để đi nhanh hơn nữa trên con đường trở thành siêu cường vào giữa thế kỷ này; giới nghiên cứu trên thế giới hầu như chia sẻ nhận định chung: Thập kỷ 2010 đánh dấu bước ngoặt mang tính thời đại của Trung Quốc trên con đường đi tới siêu cường, thập kỷ 2020 hiện tượng Trung Quốc sẽ còn nóng bỏng hơn nữa trên trường quốc tế.

Thế giới đang thay đổi lớn

Cục diện thế giới đang có thay đổi lớn cả về kinh tế và chính trị, không náo nhiệt như khi chiến tranh Lạnh kết thúc, song hầu như tác động sâu sắc hơn nhiều đến mọi quốc gia. Thậm chí tại nhiều nước cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay tác động trực tiếp đến từng gia đình.

Cuộc đại khủng khoảng kinh tế thế giới đang diễn ra là vô tiền khoáng hậu. Sau một năm ròng rã (09-2008 tới 09-2009) đánh vật với cuộc khủng hoảng này, các nền kinh tế lớn đã phải bỏ ra tổng cộng ước khoảng trên 10 nghìn tỷ USD (tương đương với 2/3 GDP của cả nước Mỹ và với 1/6 GDP toàn thế giới), đồng thời phải tiến hành nhiều liệu pháp đau đớn mang tính điều chỉnh vĩ mô và hệ thống để cứu chữa. Hiện nay cuộc khủng hoảng này được xem là đã chạm đáy, nhưng lối ra có lẽ vẫn chưa xác định được.

Chưa ai dám nói bao giờ và như thế nào kinh tế thế giới sẽ phục hồi và lấy lại được sự phát triển năng động đã có như trong một hai thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, có khá nhiều người trong giới nghiên cứu chia sẻ ý kiến:

1- Kinh tế thế giới hiện nay vừa phải khắc phục sự đổ vỡ của nền kinh tế bong bóng của hệ thống tài chính tiền tệ thế giới, đồng thời về nhiều mặt đang phải đối phó với một cuộc khủng hoảng thừa rất sâu sắc có những thuộc tính cơ cấu[ii] còn nhiều vấn đề nan giải chưa lường hết được; một khi kinh tế thế giới ra khỏi cuộc khủng hoảng này, nó có lẽ sẽ không thể giữ nguyên cấu trúc, hình dạng và sự vận hành như trước nữa - nói cụ thể hơn: trong và sau cuộc khủng hoảng này của kinh tế thế giới, các quốc gia sẽ không thể giữ nguyên cách làm ăn như lâu nay ( kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc )...

2- Cơ cấu sản phẩm trong mỗi quốc gia sẽ dần dần có những thay đổi lớn theo hướng quan tâm hơn nữa đến sự bền vững của thị trường nội địa mỗi nước và của môi trường, nghĩa là sẽ xuất hiện những điều chỉnh vĩ mô.

3- Hệ thống tài chính tiền tệ thế giới đang có những xáo trộn lớn, buộc phải cải tổ cơ bản để hạn chế những rủi ro - đặc biệt là trên 2 vấn đề: (1)sự suy yếu ngày càng nhanh chóng của đồng USD và (2) vai trò đang nổi lên đầy tính lũng đoạn của đồng Nhân dân tệ (Trung Quốc);

4- Phải tăng cường hơn nữa vai trò điều tiết của nhà nước để hỗ trợ "bàn tay vô hình" của thị trường; khung khổ WTO tuy vẫn được duy trì, nhưng chắc chắn sẽ có nhiều cọ sát mới gay gắt hơn.

5- Phải sớm có các chính sách và biện pháp thân thiện hơn với môi trường tự nhiên để giảm thiểu các đại họa. Nhiều nước đã phải hướng mạnh tới nền kinh tế có hàm lượng carbon thấp...

6- Phải thay đổi nhiều điều quan trọng trong tư duy kinh tế; một số học giả nổi tiếng như Krugman, Stiglitz, Fukuyama, thượng nghị sỹ Max Baucus... cho là kinh tế học hiện đại có nhiều điểm lỗi thời.; (thậm chí cá biệt còn có người gọi khoa kinh tế học hiện nay là "kinh tế học của đổ vỡ", coi Alan Greenspan - nguyên chủ tịch FED - là một trong những tội phạm chính của khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay!).

Có thể kết luận : Hai hiện tượng nổi bật nhất trong thời kỳ hậu chiến tranh Lạnh là :

Một là, những thất bại của 2 khóa tổng thống George Bush trong chiến lược toàn cầu (chủ yếu vì tham vọng quá lớn trong chiến lược toàn cầu và do sự phá sản của chủ nghĩa tân tự do mới trong kinh tế) cùng với cuộc khủng khoảng hiện nay bùng nổ từ Mỹ - được đánh dấu bằng sự sụp đổ của ngân hàng Lehman Brothers ngày 14-09-2008, rồi lan tỏa thành quy mô thế giới.

Hai là, vai trò ngày càng nổi lên của các cường quốc khác - trước hết là Trung Quốc, rồi đến Nga, Ấn Độ.

Hai hiện tượng quan trọng nhất này đánh dấu sự kết thúc cục diện quốc tế hậu chiến tranh lạnh, chuyển thế giới ngày càng đi vào xu thế đa cực với một siêu đa cường.

Siêu cường Mỹ suy yếu

Chiến tranh Iraq và chiến tranh chống khủng bố - trước hết là chống Al-Qaeda - Taliban - không đem lại kết quả như Mỹ đề ra, thậm chí chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm, cùng với tình trạng từ năm 2008 Mỹ lâm vào khủng hoảng kinh tế nặng nề nhất trong lịch sử quốc gia này, đã dẫn tới Mỹ phải điều chỉnh căn bản chiến lược toàn cầu của mình.

Sự điều chỉnh này của Mỹ thực chất là sự thoái lui một bước quan trọng so với thời George Bush trong chiến lược toàn cầu, nguyên nhân chủ yếu do lực bất tòng tâm. Mỹ hiện nay vẫn còn là siêu cường số 1, song vai trò và ảnh hưởng của nó giảm sút đáng kể so với thời kỳ hậu chiến tranh lạnh.

Hiện tượng Obama thắng cử không đơn thuần chỉ là một thắng lợi độc nhất vô nhị cho đến nay của thể chế dân chủ Mỹ và trên thế giới. Sâu xa hơn thế, hiện tượng Obama nói lên tầm vóc điều chỉnh chiến lược chưa từng có kể từ sau chiến tranh thế giới II mà Mỹ phải chấp nhận. Hiện tượng Obama cũng đồng thời cho thấy Mỹ quyết tâm thay đổi và có thể thay đổi được - và chính điều này cho phép Mỹ sẽ tiếp tục duy trì được - dù không còn mạnh như trước - vị trí siêu cường số 1 trên bàn cờ của một thế giới đang tiến vào cục diện một siêu đa cực. Hiện tượng Obama còn đánh dấu một thời kỳ thay đổi sâu sắc đang diễn ra sôi động ở tất cả các nước phát triển trong thề giới phương Tây - mới đây nhất là sự kiện ngày 30-08-2009 đảng Dân Chủ ở Nhật thắng cử và lên cầm quyền, chấm dứt thời kỳ đảng Dân chủ Tự do ngự trị chính quyền Nhật hơn nửa thế kỷ.

Nét nổi bật của sự điều chỉnh chiến lược của nước Mỹ thời Obama là: Mỹ quyết rút khỏi Iraq để tập trung vào các vấn đề như mặt trận chống Al-Qaeda - Taliban tại Afghanistan, vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran, vấn đề vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên... Ngày 17-9-2009 Mỹ đi thêm một nước cờ chiến lược nữa là quyết định rút bỏ kế hoạch lá chắn tên lửa Châu Âu để tăng thêm hòa hoãn với Nga ( đã được Nga hưởng ứng ) và tập trung cố gắng tìm kiếm các khả năng xử lý vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran. Bước đi này còn nhằm phân hóa bớt các thế lực gây sức ép khác đối với Mỹ. Quan hệ Mỹ - Nga ấm hẳn lên cho thấy tầm vóc của quyết định 17-09-2009. Những cải cách trong đối nội của nước Mỹ đang diễn ra càng làm rõ những thay đổi trong chiến lược đối ngoại của nước này.

Từ tình hình trên, có thể thấy phát biểu của Tổng thống Obama tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp quốc ngày 23-0-2009 ''...đã đến lúc thế giới chuyển sang một hướng mới. Chúng ta phải dấn thân vào một thời đại tiếp cận mới dựa trên quyền lợi chung và cùng tôn trọng nhau...'' không đơn thuần là một lời nói ngoại giao, mà hàm ý rõ ràng kêu gọi cộng đồng các quốc gia trên thế giới nỗ lực cho một cách sống chung mới.

Liên quan đến Đông Nam Á, đặc biệt là Biển Đông, nhiều lần các nhà quân sự Mỹ tuyên bố (ngay từ cuối thời George Bush): Mỹ đứng ngoài việc tranh chấp biển đảo ở khu vực này, miễn là giữ được thông thương tự do trên eo biển Malacca, các quyền lợi của Mỹ ở khu vực này được bảo đảm, và không được đụng chạm đến Đài Loan. Có thể hiểu đây sẽ là ranh giới cuối cùng Mỹ sẽ có thể chấp nhận một khi tình hình đòi hỏi bắt buộc phải như vậy.

Mặt khác Mỹ khuyến khích giải quyết tranh chấp trên Biển Đông trên diễn đàn đa phương giữa các nước liên quan ở Đông Nam Á. Trong cuộc điều trần về Biển Đông tháng 7-2009, Thượng viện Mỹ đã bầy tỏ mối quan ngại sâu sắc của Mỹ về tình hình Trung Quốc ngày càng lấn át về kinh tế và quân sự ở khu vực này. Cuộc điều trần này cho thấy Mỹ chủ trương phải có thái độ chủ động hơn đối với các nước trong khu vực Biển Đông, "...từ quan hệ về chính sách đến đối thoại về chiến lược, lên tới tầm mức hoạt động quân sự, bằng cách gia tăng khả năng quân sự cho các nước đối tác. Trong khi đó Hoa Kỳ cũng tăng cường hoạt động ngoại giao quân sự với Trung Quốc, gia tăng đối thoại để tránh nguy cơ tính toán sai lầm gây xung đột bất ngờ".

Trong khi đó, tại cuộc họp ASEAN - Mỹ 24-07-2009 ngoại trưởng Clinton khẳng định Mỹ tiếp tục tăng cường quan hệ với ASEAN.

Trung Quốc trên đường hướng tới siêu cường

Sự lớn mạnh của Trung quốc với tính cách là "công xưởng của thế giới" đang thúc đẩy khát vọng của Trung Quốc đi nhanh trên con đường trở thành siêu cường, dự kiến là vào khoảng năm 2050, mặc dù kinh tế và nội trị Trung Quốc còn rất nhiều vấn đề nhạy cảm, thậm chí rất nhạy cảm.

Với nguồn tài nguyên Trung Quốc bằng mọi cách đem về từ khắp nơi trên thế giới, trước hết là từ châu Phi và châu Mỹ Latinh, Úc.., Trung Quốc hiện nay đứng đầu thế giới trong sản xuất nhiều nguyên liệu cơ bản như sắt, thép, đồng, nhôm, ciment..; là cường quốc thứ nhất trong xuất khẩu tầu biển, là cường quốc thứ hai sau Mỹ trong xuất khẩu ô-tô, trong vòng một vài năm tới GDP kinh tế Trung Quốc dự kiến sẽ vượt Nhật...

Tận thu tài nguyên dưới chiêu bài viện trợ

Báo chí thế giới thừa nhận Trung Quốc thành công vượt xa chủ nghĩa thực dân mới của phương Tây tại châu Phi, Mỹ Latinh và một số nơi khác trên thế giới ( trong đó có Đông Nam Á... ). Những khoản viện trợ lớn của chính phủ Trung Quốc dành cho các quốc gia này với danh nghĩa "không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước nhận viện trợ". Trên thực tế là Trung Quốc quan hệ trực tiếp và ủng hộ giới thống trị ở những quốc gia này, bất luận bản chất những chế độ này như thế nào.

Phương thức hợp tác song phương như vậy của Trung Quốc tại những quốc gia này đang mang lại nhiều kết quả lớn cho Trung Quốc ( tuy nhiên gần đây một số nước châu Phi đã phản ứng chống lại sự tham lam thái quá của Trung Quốc ).

Hơn thế nữa, hiện tượng Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế ngày càng quan trọng với Iran, Iraq, với các nước và lực lượng "cánh tả" (chống Mỹ) ở châu Mỹ Latinh - nơi được coi là sân sau của Mỹ - đang làm cho Mỹ và phương Tây lo lắng.

Với nguồn dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới (2100 tỷ USD) Trung Quốc đang tìm cách thay đổi hệ thống tiền tệ thế giới. Trước mắt Trung Quốc chưa thể tìm cách "hạ bệ" đồng USD (hiện nay vẫn còn chiếm tới 60% tổng giao dịch tiền tệ và thương mại trên thế giới). Song với tư cách là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, đang nắm giữ khoảng 60% trái phiếu và những giấy tờ có giá khác của Mỹ, Trung Quốc đòi hỏi đồng nhân dân tệ cũng phải được coi là phương tiện thanh toán quốc tế. Đòi hỏi này bị bác bỏ tại cuộc họp G20 (London 02-04-2009) với lý do đồng nhân dân tệ chưa phải là đồng tiền chuyển đổi tự do.

Trung Quốc chuyển sang chiến thuật mới là đòi nâng cao vai trò của Trung Quốc tham gia vào "quyền rút vốn đặc biệt" (SDR - một đơn vị được coi như là tiền của IMF) để làm yếu và tiến tới thay thế dần đồng USD.

Đồng thời Trung Quốc áp dụng các biện pháp đòi các nước có quan hệ buôn bán với Trung Quốc trực tiếp dùng đồng nhân dân tệ làm phương tiện thanh toán trong quan hệ song phương, một số nước đã chấp thuận. Có thể nói đây là một bước mới bổ sung quan trọng cho việc mở rộng quyền lực và ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới - đặc biệt là quyền lực mềm.

Trong số hàng nghìn tập đoàn kinh tế của Trung Quốc đã có nhiều tập đoàn lọt vào danh sách các nhóm TNCs top 100, TNCs top 50 của thế giới, trong đó phải kể đến tập đoàn dầu khí PetroChina có số vốn vượt 1000 tỷ USD và trở thành TNC đứng đầu thế giới về quy mô vốn.

Tình hình vừa trình bầy trên cho thấy nội dung thực chất chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.

Tham vọng siêu cường quân sự

Thế giới, nhất là các nước láng giềng của Trung Quốc, ngày càng lo ngại trước hiện tượng Trung Quốc cũng đang trên đường trở thành siêu cường quân sự - đặc biệt là các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Bình luận trên nhật báo Giải phóng quân Nhân dân (Trung Quốc) ngày 12-03-2009, Hoàng Thôn Luận viết:

"...Quyền lợi quốc gia của Trung Quốc vượt xa ra ngoài biên cương lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Trung Quốc, bao gồm cả các vùng đại dương bao la nơi các tầu chở dầu của Trung Quốc qua lại, cũng như không gian vũ trụ... Quyền lợi quốc gia Trung Quốc mở rộng đến đâu, sứ mệnh của lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) được mở rộng đến đấy!.. Đứng trước nhiệm vụ lịch sử mới, lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) không chỉ bảo vệ biên giới lãnh thổ, mà còn phải bảo vệ biên giới quyền lợi quốc gia của chúng ta."

Ngân sách quốc phòng hàng năm của Trung Quốc hai thập kỷ nay thường xuyên tăng 2 con số (từ 10 đến 17%/năm). Số liệu thống kê chính thức của Trung Quốc cho biết chi tiêu quốc phòng của nước này năm 2007 ước khoảng 70 tỷ USD. Song theo đánh giá của Bộ Quốc phòng Mỹ, của RAND - cơ quan nghiên cứu của Mỹ, và của RAW (Research and Analysis Wing) - cơ quan nghiên cứu của Ấn Độ, thực chi cho ngân sách quốc phòng của Trung Quốc năm 2007 ước khoảng 138 - 156 tỷ USD, đứng vào hàng thứ 2 trên thế giới - nghĩa là ước khoảng 1/4 - 1/3 ngân sách quốc phòng của Mỹ, vượt Nga, gấp 5 lần của nước Anh, và bỏ xa Ấn Độ... Ngày 21-09-2009 Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt tuyên bố nước này có hầu hết mọi hệ thống vũ khí hiện đại của các nước phương Tây.

Trung Quốc đang trở thành cường quốc vũ trụ. Hiện nay Trung Quốc đang đẩy mạnh xây dựng hải quân nước xanh (hoạt động tầm đại dương với một số hàng không mẫu hạm đang mua của Nga hoặc tự đóng lấy). Trong chuyến đi thăm Trung Quốc đầu năm 2009 của đô đốc Mỹ Timothy Keating, phía Trung Quốc đặt thẳng vấn đề để Trung Quốc quản Thái Bình Dương từ đảo Hawaii về phía Tây, phía Mỹ sẽ quản Thái Bình Dương từ Hawaii về phía Đông. Keating đã đáp lại: "No, Thanks!". Riêng trên Biển Đông, hải quân Trung Quốc giữ vị thế áp đảo, với mục tiêu là "cái lưỡi bò".

Trên nhiều phương diện, hiện tượng Trung quốc trên đường trở thành siêu cường đang là vấn đề nóng bỏng và rất phức tạp của cả thế giới. Giáo sư Thôi Lý Nhũ, chủ tịch Viện Nghiên cứu quan hệ quốc tế đương đại (CICIR - Bắc Kinh), một viện nghiên cứu chiến lược của Trung Quốc tầm cỡ quốc tế, đầu năm nay phát biểu thẳng thắn trước giới học giả nước ngoài: "Mười năm qua Trung Quốc đã phát triển từ một vị thế tương đối thấp lên một vị thế tương đối mạnh, vì vậy những xung đột giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài không đặc biệt quyết liệt lắm (not particularly vehement). Tuy nhiên, trong vòng mười năm tới, Trung Quốc sẽ đi tiếp từ vị thế tương đối mạnh hiện nay lên một vị thế còn mạnh hơn nữa. Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với thế giới sẽ còn lớn hơn nữa - và nỗi lo của thế giới về Trung Quốc cũng sẽ tăng theo..."

Trên thế giới, kể cả Mỹ, không ai đặt vấn đề đối đầu với Trung Quốc. Nhưng tất cả các quốc gia đều phải cùng nhau hay riêng lẻ nỗ lực tìm cách ứng xử và đối xử thích hợp nhất với hiện tượng Trung Quốc trong thế kỷ 21 này sao cho phù hợp với xu thế tiến bộ chung của loài người. Đó còn là phương thức hữu hiệu nhất, khuyến khích hay bắt buộc Trung Quốc cũng phải thích nghi với trào lưu chung của thế giới.

Quan hệ Mỹ - Trung định hình thế giới

Cũng không thể bỏ qua một thực tế khác là trong quan hệ song phương Mỹ - Trung hiện nay, phía Mỹ cũng chủ động đẩy mạnh xu thế hòa hoãn.

Đối thoại chiến lược và kinh tế Mỹ - Trung (khai mạc phiên đầu tiên tại Washington 27-09-2009) đã thực sự trở thành diễn đàn G2. Tại diễn đàn này Obama nói "Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ định hình cho thế kỷ 21. Sự liên hệ này làm cho nó quan trọng như bất cứ sự liên hệ song phương khác trên thế giới. Và điều này phải thực sự củng cố sự hợp tác của chúng ta. Đây là trách nhiệm mà hai bên phải gánh vác." Trong điện chúc mừng phiên họp đầu tiên của diễn đàn này, Hồ Cẩm Đào viết: "Cả Trung Quốc và Mỹ gánh vác trên vai trách nhiệm quan trọng về những vấn đề trọng đại liên quan đến hòa bình và sự phát triển của nhân loại."

Chắc chắn rồi đây lúc hòa hoãn, lúc căng thẳng, song phía Mỹ sẽ vẫn có các bước đi tiếp mở rộng quan hệ với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực, bên nào cũng có thừa khôn ngoan giành cái lợi về cho mình.

Trên thế giới đã có nhiều ý kiến các quốc gia sẽ phải ứng xử thế nào một khi xu thế hai cực Mỹ - Trung chi phối thế giới. Như vậy, tại Đông Nam Á có thể thấy chính sách đa dạng của Mỹ nói trên đối với khu vực Biển Đông sẽ còn tùy thuộc đáng kể vào chính thái độ các nước ASEAN (đối với Mỹ và Trung Quốc), đồng thời chịu sự chi phối sâu sắc của quan hệ Mỹ - Trung.

Việt Nam nên đóng vai nào trong thế giới mới ?

Điều chắc chắn là Trung Quốc cần thế giới nếu không hơn thì cũng không kém các cường quốc khác. Vì thế, Việt Nam nên có một vai trong cái thế giới mà Trung Quốc cần ấy.

Trong phần trên, nhà nghiên cứu, nguyên Đại sứ Nguyễn Trung phân tích những thay đổi lớn định hình diện mạo thế giới thập kỷ mới: siêu cường Mỹ suy yếu và Trung Quốc trên đường trở thành siêu cường.

Ở phần này, tác giả sẽ bàn tiếp về ứng xử đối ngoại cần có của Việt Nam, trong đó phân tích sâu vào quan hệ Việt - Trung mà theo ông sẽ là vấn đề đối ngoại quan trọng nhất và khó xử lý nhất đối với nước ta trong thập kỷ tới.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, trong đó có những vấn đề cần được tiếp tục tranh luận và làm sáng tỏ thêm. Mời độc giả cùng tranh luận.

Chủ động dấn thân

Có thể nói hiện nay Việt Nam đạt được vị thế quốc tế cao nhất trong lịch sử của mình với tư cách là một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Việt Nam ngày nay là đối tác chiến lược của nhiều nước, đầu tư nước ngoài và kim ngạch ngoại thương tăng trưởng năng động. Chính sách đối ngoại hòa bình - hợp tác - hữu nghị của Việt Nam cùng với cục diện thế giới hiện nay mang lại cho Việt Nam vị thế này.

Tuy nhiên, cần nhận rõ một sự thật khác, đó là vị trí của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của nhiều nước đối tác, nhất là các nước đối tác quan trọng, nói chung là tương đối thấp so với khả năng Việt Nam có thể đạt được. Nguyên nhân chính không phải là nước ta nghèo mà chủ yếu vì:

Về một số phương diện nhất định nước ta vẫn chưa bước ra khỏi phong cách đối ngoại thời kháng chiến - phong cách tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng thế giới là chính, mà chưa chủ động và tích cực dấn thân tham gia vào những vấn đề chung của cộng đồng thế giới, mà cuộc sống lại luôn luôn đòi hỏi có cho có nhận chứ không thể một chiều chỉ nhận.

Tuy ta có thiện chí hợp tác - dù song phương hay đa phương, nhưng do khả năng của ta, do nhiều vấn đề của ta, nhìn chung, sự hợp tác chưa đạt mức tiềm năng cho phép. Thậm chí, có lúc ta có nhiều thua thiệt, chưa đúng với mức các đối tác mong đợi. Trong 25 năm qua, chúng ta đã bỏ lỡ một số thời cơ và cơ hội rất đáng tiếc.

Nền ngoại giao Việt Nam hiện nay do ảnh hưởng của ý thức hệ nên tiếp tục có những hẫng hụt nhất định trong nhận thức những diễn biến mới trên thế giới - đây còn là vấn đề của tri thức, trí tuệ và mưu lược - do đó chưa xác lập được cho mình bản lĩnh mới để khai thác hay chủ động ứng phó với sự vận động của xu thế thế giới.

Những nhược điểm trình bày trên đang hạn chế sức mạnh ngoại giao nước ta và ảnh hưởng đến sức mạnh của nước ta nói chung, nhất là trong việc tập hợp đồng minh để bảo vệ lợi ích quốc gia và để tiếp tục phát huy vị thế mới của đất nước.

Tránh rơi vào vòng tay của bất kì nước lớn nào

Do sự vận động của tình hình thế giới, đặc biệt là do các mối tương quan mới giữa các cường quốc - bao gồm cả hiện tượng Trung Quốc đang trên đường trở thành siêu cường, xuất hiện tại nhiều nước các châu lục khác nhau trên thế giới mối lo Việt Nam có thể rơi vào vòng tay của Trung Quốc.

Đặc biệt là các cường quốc phương Tây, kể cả Mỹ, đều không muốn có một Việt Nam yếu, chịu lệ thuộc vào Trung Quốc. Những nước này, kể cả Mỹ, hiểu rõ ý thức độc lập tự chủ của Việt Nam và vì thế không có ảo tưởng lôi kéo Việt Nam đi vào con đường ngoại giao của những đối trọng.

Có thể hiểu, xu thế chính của những nước này là muốn có một Việt Nam mạnh đúng với vị thế đang có trong khu vực, giữ vững được độc lập tự chủ của mình. Bởi lẽ, Việt Nam ngày nay không phải là "đối tượng" của những cường quốc này. Việt Nam ngày nay không có có xung đột lợi ích với họ. Quan trọng hơn, một Việt Nam mạnh, độc lập tự chủ và có vị thế như thế sẽ có lợi nhất cho họ trên bàn cờ thế giới hiện tại...

Cần nói rõ điểm này để không cường điệu hóa đến mức nhầm lẫn các sự việc được coi là "can thiệp vào nội bộ Việt Nam để diễn biến hòa bình dưới chiêu bài dân chủ và nhân quyền".

Hiển nhiên giữa chế độ chính trị nước ta và chế độ chính trị của các nước phương Tây có nhiều giá trị khác nhau, đặc biệt là chung quanh vấn đề dân chủ và nhân quyền.

Các nước phương Tây vì lợi ích của chính mình có chủ trương khai thác vấn đề dân chủ và nhân quyền để phát huy ảnh hưởng của họ vào các nước khác, kể cả vào Trung Quốc. Có quốc gia nào, nhất là các nước lớn, lại không muốn phát huy ảnh hưởng của mình để khai thác, để tác động vào những điểm yếu của các nước có liên quan ?

Xin đừng quên, cuộc sống và quy luật tiến hóa của xã hội loài người cũng như trong quan hệ giữa các quốc gia trên trái đất này xưa nay và mãi mãi sẽ có những "diễn biến", "diễn biến hòa bình" vào nhau như vậy.

Trong sự "diễn biến" vào nhau này, quy luật muôn đời vẫn là: người thắng luôn là kẻ có khả năng thích nghi và vượt trội cao hơn đối tượng của mình.

Có thực lực mới làm bạn bình đẳng được với người

Cần nhấn mạnh đường lối ngoại giao muốn làm bạn với người của nước ta là đúng đắn. Tuy nhiên, lẽ đời nghiệt ngã: chỉ có thiện chí "chay" - nghĩa là chẳng có thực lực hay ảnh hưởng gì làm nền tảng - thì trước sau, "chay" vẫn hoàn "chay"! Vì vậy, không thể bỏ qua một chuỗi câu hỏi tiếp theo và rất nhiều việc phải làm, để cho đường lối làm bạn này trở thành hiện thực:

- Ta muốn làm bạn với người, nhưng người có muốn làm bạn với ta không ? - đấy là hai chuyện khác nhau.

- Làm thế nào để ta có thể là bạn được của người ? người cũng muốn nhận ta làm bạn ? - Còn thứ "làm bạn" do người ban phát cho thì chẳng hay ho gì .

- Làm thế nào để người cần phải làm bạn với ta ?

- Làm thế nào để người nếu không muốn làm bạn với ta thì cũng không chống được ta ?

- Làm thế nào để người nếu không muốn làm bạn với ta thì cũng phải tôn trọng ta ?

- Làm thế nào để người không thể phản ta hay bán rẻ ta ?

- Làm thế nào để người nếu chưa phải là bạn của ta hoặc chưa muốn thì cũng không chống ta ?

- Làm gì và làm thế nào để nước ta không bị lôi vào trò chơi "đối trọng", lúc là "cái mộc" cho người này, lúc là "lá chắn" cho kẻ khác.. ?

- Làm thế nào để ngày càng thêm bạn, bớt thù ?

- Vân... vân...

Tóm lại, có thể nói, ngoại giao Việt Nam vô cùng giàu có những bài học như vậy. Lo câu chuyện làm bạn, trước hết là lo cho mình có lực, có trí tuệ, có tư cách, có tính cách, có ảnh hưởng lan tỏa, có khí phách, có mưu lược, và có bản lĩnh thực hiện đường lối đối ngoại làm bạn.

Cũng có thể nói dứt khoát, đường lối đối ngoại làm bạn của Việt Nam phải bắt nguồn từ nội trị lành mạnh và đầy sức sống của quốc gia. Chẳng có ý thức hệ nào thay đổi được quy luật này của cuộc sống.

Việt Nam đang có vị thế đối ngoại cao chưa từng có trong lịch sử của mình để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, mở rộng ảnh hưởng của mình đối với thế giới bên ngoài. Song vấn đề hàng đầu của ngoại giao Việt Nam ngày nay vẫn là nhận biết chuẩn xác thế giới và giác ngộ triệt để lợi ích quốc gia với tất cả tinh thần độc lập tự chủ.

Quan hệ Việt - Trung : vấn đề quan trọng nhất của đối ngoại Việt Nam

Trong thập kỉ mới, quan hệ với Trung Quốc là vấn đề quan trọng nhất và cũng khó xử lí nhất trong đối ngoại của Việt Nam. Vì thế, phần tiếp theo sẽ đi sâu phân tích về mối quan hệ này.

Trung Quốc trên con đường trở thành siêu cường rất khó mở rộng không gian sinh tồn đi lên hướng Bắc, sang phía Đông hay về phía Tây. Cứ nhìn bản đồ địa dư và bản đồ địa chính trị thì thấy rõ điều này. Trong lịch sử đã có vụ Ussuri với Liên Xô cũ năm 1969. Đầu năm 2009 này, Timothy Keating đã từ chối đề nghị của Trung Quốc về chia đôi Thái Bình Dương. Nhật Bản trước sau không chịu chấp nhận đòi hỏi của Trung Quốc về biển đảo. Biên giới Ấn - Trung hiện nay đang căng thẳng...

Hướng mở thuận lợi nhất cho Trung Quốc đang vươn mình thành siêu cường chỉ còn lại hướng Nam, làm bàn đạp cho yêu cầu của Trung Quốc nâng cao khả năng vươn ra Thái Bình Dương và vị thế siêu cường của mình trong tương lai.

Sự vận động của cục diện thế giới và sự phát triển tự thân của Trung Quốc tạo nên tình huống như vậy, chẳng có đạo đức, thiện chí hay cuồng vọng nào có thể thay đổi được.

Không phải ngẫu nhiên, các Đại hội của Đảng Cộng Sản Trung Quốc từ năm 1949 đến nay không lúc nào không tìm cách xoa dịu nỗi lo của thế giới, luôn luôn giương cao ngọn cờ chống bá quyền. Gần đây nhất Trung Quốc bỏ cả cách nói trỗi dậy hòa bình, và ngày nay càng nói nhiều đến win-win (cùng thắng).

Trong khi đó, sách báo Trung Quốc gần như không có thời kỳ nào, kể cả hiện tại, ngớt nói công khai suy nghĩ của Trung Quốc về không gian sinh tồn, điển hình có lẽ là bài nói của tướng Trì Hạo Điền - nguyên bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tại Hội nghị các tướng lĩnh Trung Quốc bàn về chiến lược chiến tranh tương lai, tổ chức năm 2005 (được công bố trên Tạp chí "Các vấn đề chiến lược", Ấn Độ, 15/4/2009).

Người Việt Nam ta cũng chẳng có cách gì bê đất nước mình đi chỗ khác để tránh mọi điều phiền toái. Vậy chỉ còn cách đứng tại chỗ, suy nghĩ, làm những việc phải làm.

Khoảng cách của tuyên ngôn và thực tế

Hội nghị cấp cao Việt - Trung tại Thành Đô năm 1990 đã mở đầu thời kỳ quan hệ bình thường Việt- Trung hiện nay. Đến nay là 2 thập kỷ, quan hệ hai nước xen kẽ những đoạn đường lúc hợp tác, lúc căng thẳng, nơi này nơi khác vẫn còn sự cố đáng tiếc.

Đáng chú ý, sau khi hoàn tất cắm mốc biên giới trên bộ Việt - Trung đầu năm 2009, tình hình lại rộ lên vấn đề Biển Đông.

Mới đây, đúng một ngày sau khi Thủ tướng Nguyến Tấn Dũng đi thăm Tứ Xuyên, Hội nghề cá nước ta phải ra tuyên bố ngày 16-10-2009 phản đối Trung Quốc ngược đãi và cướp bóc 200 ngư dân ta vào lánh nạn cơn bão Ketsana 26-09-2009 tại đảo Trụ Cẩu - Hoàng Sa thuộc ta. Ngày 21-10-2009 người phát ngôn Bộ ngoại giao ta phải trao tiếp công hàm phản đối cho đại sứ Trung Quốc.

Đặc biệt là những hoạt động ngược lại với 16 chữ như thế của Trung Quốc trong các năm 2008 và 2009 diễn ra nhiều hơn và nghiêm trọng hơn so với trước, mặc dù phía Việt Nam hết sức kiềm chế - như người phát ngôn Bộ Ngoại giao ta vẫn nói.

Ngoài việc gây sức ép các hãng BP và EXON phải hủy các hợp đồng thăm dò dầu khí đang làm với ta, Trung Quốc tiếp tục nêu yêu sách "lưỡi bò" trên Biển Đông, tuyên bố vùng cấm đánh cá từ 16-05-2009 đến 1-08-2009 kinh độ 170 Đông xuống tận vỹ tuyến 12; có lúc đưa tầu quân sự đánh đuổi tầu cá của ta trong vùng biển của ta chỉ cách bờ 65 hải lý... khiến hàng nghìn ngư dân của ta thất nghiệp, khốn đốn...

Những hiện tượng "nóng" "lạnh" như thế xen kẽ nhau thường xuyên. Trong khi đó, chính giới hai nước không thiếu các chữ vàng lời đẹp nói về quan hệ hai nước. Khoảng cách giữa lời nói và thực tế như vậy nói lên điều gì ?

Xin lưu ý, trong bối cục của tình hình thế giới những năm 1980, Trung Quốc đã dùng vũ lực thường xuyên uy hiếp Trường Sa, - đặc biệt là cuộc tấn công của hải quân Trung Quốc đánh chiếm thêm các bãi cát ngầm và một số đảo ở Trường Sa ngày 14-03-1988; không thể không đặt ra câu hỏi: Trung Quốc dự định và có thể sẽ làm gì nữa trong bối cảnh thế giới hiện nay ?

Trong bài đăng trên Hoàn Cầu Thời báo, ngày 18/03/09, tác giả Đới Hy, đại tá không quân Trung Quốc và nhà bình luận có tiếng, kêu gọi thiết lập căn cứ quân sự tại Trường Sa: "Song song với việc phát triển nguồn tài nguyên Nam Hải (Biển Đông), cần thiết lập căn cứ quân sự trên quần đảo Nam Sa (Trường Sa), với các cơ sở dành cho máy bay, trực thăng và các loại hình tác chiến khác. Hải phận và không phận rộng lớn ở đây sẽ trở thành địa điểm huấn luyện quân sự... không chỉ bảo vệ phát triển kinh tế của toàn Nam Hải (Biển Đông) mà còn thúc đẩy hiện đại hóa quân đội."

Trong quan hệ kinh tế hai nước có rất nhiều vấn đề phức tạp. Đáng chú ý là nước ta hiện nay đã đạt được trình độ phát triển nhất định, mà hầu như tất cả các công trình do Trung Quốc thực hiện đều dưới dạng chìa khóa trao tay (EPC - với công nghệ chắc chắn là hạng hai hạng ba gì đó, cùng với thiết bị và vật tư gần như 100% là của Trung Quốc, đưa hàng vạn người Trung Quốc không có tay nghề vào làm việc không có giấy phép, ...)

Phần lớn đầu tư của Trung Quốc vào ta là khai thác khoáng sản và chuẩn bị địa bàn hoạt động mới ở nước ta cho công nghiệp của Trung Quốc - gần đây nhất là khu công nghiệp An Dương - Hải Phòng do Thâm Quyến xúc tiến.

Trong khi đó, ngoại thương ta nhập siêu từ Trung Quốc mỗi năm 10 - 13 tỷ USD, khoảng 80 - 90% kim ngạch xuất khẩu của ta sang Trung Quốc là nguyên liệu. Tình hình này cộng với hàng Trung Quốc nhập lậu không thể ngăn cản được thực sự bất lợi cho đất nước. Duy trì tình trạng này trong tương lai, đầu tư của Trung Quốc và kim ngạch ngoại thương hai nước càng lớn, nước ta phải đối mặt với mối nguy và sự lệ thuộc càng lớn. Tăng cường quan hệ kinh tế Việt - Trung có ý nghĩa rất quan trọng, song mở rộng hợp tác kinh tế với các tỉnh Trung Quốc mà không cải thiện được tình hình nêu trên sẽ càng bất lợi.

Còn không ít các vấn đề phức tạp khác nữa của quyền lực mềm...

Toàn bộ thực tế nói trên sẽ chi phối sâu sắc tình hình phát triển và an ninh của nước ta trong thập kỷ 20 của thế kỷ này.

Tìm vai trong thế giới Trung Quốc cần

Lịch sử tranh chấp giữa các siêu cường mà nước ta đã nếm trải thời chiến tranh lạnh sẽ không lặp lại. Nhưng mối quan hệ tay đôi và sự tranh chấp hay tranh giành ảnh hưởng như vậy giữa hai nước lớn này thời nào cũng dễ đẩy các nước nhỏ lâm vào cảnh "trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết". Khác chăng trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập ngày nay, các nước nhỏ có bản lĩnh và thông minh có nhiều cơ hội và phương tiện mới hơn so với trước để xử lý những vấn đề "dễ gây chấn thương" (vulnerability) mình phải hứng chịu.

Hiển nhiên chỉ có trí tuệ và sự giác ngộ tuyệt đối lợi ích quốc gia trong cục diện mới của thế giới mới có thể giúp các nước nhỏ có lối thoát. Việt Nam trong quá khứ đã trải nghiệm những bài học đắt giá, liệu sẽ vận dụng được nó cho hiện tại và tương lai?

Lịch sử Việt Nam chưa bao giờ có chính sách đối đầu với Trung Quốc. Ngày nay, cả thế giới, kể cả Mỹ, không nước nào chọn chính sách đối đầu với Trung Quốc. Việt Nam càng không có lí do để làm việc này.

Kể từ khi ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nước ta đã từng sống trong thời kì quan hệ Việt - Trung đúng với nghĩa: "vừa là đồng chí, vừa là anh em", "núi liền núi, sông liền sông, môi hở răng lạnh..."

Không hoài cổ, nhưng không thể không đặt ra câu hỏi: Cái gì tốt đẹp đã đạt được trong quá khứ, tại sao không đạt được trong tương lai?

Câu trả lời về phía Trung Quốc, để cho Trung Quốc trả lời.

Câu trả lời về phía chúng ta, tự chúng ta phải trả lời. Câu trả lời ấy dân tộc Việt Nam ta cần bắt đầu từ lòng tự trọng và ý chí thoát ra khỏi tình trạng tụt hậu rồi mới đến các việc phải làm khác. Điều chắc chắn là Trung Quốc cần thế giới nếu không hơn thì cũng không kém các cường quốc khác. Tự thân Trung Quốc cũng nói lên điều này. Vì thế, Việt Nam nên có một vai trong cái thế giới mà Trung Quốc cần ấy.