NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Phần 1 : Biến động kinh tế Đông Á và vị trí của Việt Nam - GS TS Trần Văn Thọ , Kiều bào Nhật Bản

Chương 1: Kinh tế Việt Nam trong tầm nhìn đối chiếu với các nước Đông Á

Nhìn lại nửa sau thế kỷ 20 và so sánh Việt Nam với các nước khác trong khu vực Đông Á, cho đến đầu thập niên 1990, điểm nổi bật là khoảng cách kinh tế ngày càng mở rộng giữa ta với các nước lân cận. Từ cuối thập niên 1950, các nước Đông Á nối tiếp nhau phát triển mạnh với đặc trưng là công nghiệp hoá tiến hành sâu rộng khắp khu vực.

Vì điều kiện lịch sử, Việt Nam đã mất đi mấy mươi năm phát triển và bị tụt hậu so với các nước xung quanh. Sau một số năm kể từ khi đổi mới, kinh tế Việt Nam lại bắt đầu nhập cuộc vào dòng thác công nghiệp tại châu Á. Hiện nay, vị trí của Việt Nam ở đâu và đâu là điều kiện để rút ngắn khoảng cách với các nước xung quanh?

Trước năm 1993, các chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam được tính theo hệ thống sản xuất vật chất ( material product system - MPS ) do đó phải tính toán lại và quy đổi các chỉ tiêu ấy sang các chỉ tiêu theo hệ thống tài khoản quốc gia ( system of national account - SNA ) của Liên hợp quốc mới so sánh được nhịp độ phát triển và cơ cấu kinh kế Việt Nam với kinh tế các nước trong khu vực. Dựa trên kết quả nghiên cứu và tính toán của chúng tôi 6 năm trước. Tất cả các chú thích trong ruột và cuối trang đều được viện dẫn đầy đủ trong phần Danh mục tư liệu tham khảo. Chẳng hạn kết quả nghiên cứu, tính toán các chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam được in trong Trần Văn Thọ chủ biên (2000). , chương này sẽ đánh giá tình hình phát triển của kinh tế Việt Nam trong nửa sau thế kỷ 20 và thử đánh giá khoảng cách phát triển giữa Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Á vào cuối thế kỷ này; nêu một số suy nghĩ về khả năng và điều kiện để Việt Nam rút ngắn được khoảng cách với các nước xung quanh trong những thập niên đầu của thế kỷ 21. Phần cuối của chương này sẽ cho thấy con đường rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước xung quanh là phải tiến hành công nghiệp hoá, một chủ đề xuyên suốt cuốn sách này.

1.1. Kinh tế Việt Nam và Đông Á từ giữa thế kỷ 20

Như Bảng 1.1 cho thấy, trong thời kỳ 1950 - 1973 (riêng Việt Nam là 1955 - 1975), Nhật Bản là nước có tốc độ phát triển vượt bậc, với GDP bình quân đầu người tăng mỗi năm 8%, như vậy mức sống thực tế của người Nhật Bản cứ 8 năm đến 9 năm lại tăng gấp đôi. Việt Nam cùng với Trung Quốc và Philíppin thuộc vào nhóm phát triển thấp nhất, với mức tăng GDP bình quân đầu người chỉ trên dưới 2%, như vậy các nước này cần tới 35 năm để tăng gấp đôi mức sống của dân chúng. Ba nước có ba bối cảnh chính trị khác nhau nhưng có chung đặc điểm là bối cảnh chính trị đã kìm hãm mạnh sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Tại Việt Nam, hầu hết thời kỳ này có đặc điểm là kinh tế thời chiến và chia làm hai miền có thể chế kinh tế, chính trị khác nhau. Kinh tế miền Bắc tăng trưởng bình quân 6% (GDP/đầu người/năm tăng khoảng 3%), miền Nam 3,9% ( GDP đầu người tăng 0,8% ). Đặc biệt, miền Nam phát triển ở số âm trong giai đoạn 1965 - 1975 có lẽ phần lớn do chiến tranh đã lan rộng khắp miền và ở mức độ quyết liệt. Trong thời gian đó, như đã thấy ở Bảng 1.1, trừ Trung Quốc và Philíppin, các nền kinh tế còn lại đạt một thành quả đáng kể, đặc biệt là các nước và lãnh thổ mà vào năm 1979 OECD gọi là các nước công nghiệp hóa mới (NICs) và sau này gọi là các nền kinh tế công nghiệp hoá mới (NIEs) như Hàn Quốc và Đài Loan, v.v.. Từ khoảng đầu thập niên 1960, nhiều nước Đông Á đã tiến hành chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu và sang thập niên 1970, các NIEs chuyển sang chiến lược hướng về xuất khẩu và bắt đầu cạnh tranh với Nhật Bản trong những ngành công nghiệp có hàm lượng lao động cao.

Từ giữa thập niên 1960, tỷ trọng công nghiệp trong GDP của Nhật Bản đã đạt đỉnh cao 35% và dừng lại ở đó trong một thời gian khá dài, trong lúc đó Hàn Quốc đuổi theo Nhật Bản với tốc độ rất nhanh. Các nước ASEAN, đặc biệt là Thái Lan và Malaixia, với một tốc độ chậm hơn, cũng tích cực tham gia vào quá trình công nghiệp hoá tại khu vực này. Từ cuối thập niên 1970, làn sóng công nghiệp châu Á bắt đầu lan sang Trung Quốc.

Trong giai đoạn hai ( 1973 - 1996 ), sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và chuyển dịch trong nội bộ bộ môn công nghiệp từ những ngành có hàm lượng lao động cao sang các ngành sử dụng nhiều tư bản và công nghệ đã đưa nền kinh tế các nước châu Á phát triển với tốc độ cao hơn giai đoạn trước. Như bảng 1.1 cho thấy, trong giai đoạn này, trừ Nhật Bản, Philíppin và Việt Nam, GDP bình quân đầu người tại các nước Đông Á đã tăng vọt so với giai đoạn trước (Đài Loan giữ mức rất cao của giai đoạn trước). Đặc biệt từ giữa thập niên 1980, làn sóng công nghiệp châu Á bước sang giai đoạn mới có sự thay đổi lớn về chất, với tốc độ cao của công nghiệp hoá tại Trung Quốc và ASEAN và sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp ở các nước diễn ra nhanh chóng. Nhật Bản dần dần chuyển sang thời đại sau công nghiệp nhưng vẫn duy trì sức cạnh tranh trong lĩnh vực này nhờ chủ động chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang các ngành có hàm lượng công nghệ, tri thức cao như xe hơi và các sản phẩm điện tử cao cấp, các loại máy móc kết hợp nhiều ngành công nghệ khác nhau. Nhiều cơ sở sản xuất các sản phẩm đồ điện gia dụng như TV, tủ lạnh, máy giặt, và các bộ phận, linh kiện xe hơi, điện tử chuyển nhanh từ Nhật Bản sang các nước châu Á khác. Các NIEs như Hàn Quốc, Đài Loan, Xingapo cũng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp từ các ngành sử dụng nhiều lao động sang các ngành có hàm lượng cao về tư bản và công nghệ.

Bối cảnh của sự biến đổi về chất trong làn sóng công nghiệp Đông Á từ giữa thập niên 1980 là gì? Có thể nêu ra ba điểm: thứ nhất, có sự thay đổi trong thái độ của các nước ASEAN và Trung Quốc về hoạt động của các công ty đa quốc gia. Trước đây, đặc biệt là trong giai đoạn trước 1975, các nước này lo ngại các công ty đa quốc gia chi phối kinh tế nên họ đã ngăn cản hoặc hạn chế hoạt động của các công ty đó. Quan điểm này đã thay đổi từ thập niên 1980, tạo điều kiện cho tư bản, công nghệ và tri thức quản lý kinh doanh di chuyển nhanh tại các nước tiên tiến mà chủ yếu là Nhật Bản. Thứ hai, đồng tiền yên của Nhật Bản tăng giá nhanh trong thời gian rất ngắn (chỉ 3 năm từ 1985 đến 1988, giá trị của đồng USD giảm một nửa, từ 254 yên còn 127 yên) làm cho phí tổn sản xuất tại Nhật Bản tăng vọt, các công ty Nhật phải đối phó bằng việc đẩy mạnh đầu tư nước ngoài. Thứ ba, các NIEs bắt đầu chuyển từ nhập khẩu tư bản và công nghệ sang xuất khẩu các nguồn lực sản xuất này. Ba yếu tố đó đã làm cho tư bản, công nghệ và tri thức quản lý kinh doanh di chuyển nhộn nhịp trong vùng Đông Á và do đó đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá tại vùng này. Chương 2 sẽ bàn sâu hơn về hiện tượng lan rộng công nghiệp hoá tại Đông Á.

Trong thời kỳ này, Việt Nam vẫn thuộc nhóm nước phát triển thấp nhất tại khu vực với GDP bình quân đầu người chỉ tăng 2,8%. Con số này cao hơn giai đoạn trước là nhờ thành quả của đổi mới. Đổi mới bắt đầu phát huy tác dụng từ năm 1992, nếu lấy năm 1991 làm mốc chia giai đoạn 1975 - 1995 thành hai thời kỳ thì sẽ thấy như sau: trong thời kỳ 1976-1991, GDP bình quân đầu người chỉ tăng 1,9% (GDP tăng 4,1% nhưng số dân tăng 2,2%), bằng mức phát triển của giai đoạn 1955 - 1975, nhưng qua thời kỳ 1991 - 1995, GDP bình quân đầu người đã tăng vọt lên 6,6% (GDP tăng 8,8% và số dân tăng 2,2%), tương đương với thành quả của Đài Loan và Hàn Quốc trong giai đoạn 1973 - 1996.

Như vậy, suốt từ năm 1955 đến đầu thập niên 1990, GDP/đầu người của Việt Nam chỉ tăng dưới 2%. Điều này có nghĩa là một người Việt Nam phải cần 35 năm mới tăng gấp đôi thu nhập và mức sống của mình, trong khi đó Đài Loan chỉ cần 11 năm và Thái Lan chỉ cần 15 năm.

Vào giai đoạn ba, giai đoạn gần đây nhất (1995 - 2003). Giai đoạn thứ ba lẽ ra bắt đầu từ năm 1997, năm xảy ra khủng hoảng tiền tệ châu Á và cũng là năm tiếp theo ngay giai đoạn trước, nhưng do có sẵn thống kê từ năm 1995 nên giai đoạn này được phân tích theo như Bảng 1.1. Với mục đích phân tích ở đây, giai đoạn ba bắt đầu năm 1995 hay năm 1997, kết quả cũng không thay đổi nhiều. , nhóm nước có thành quả nổi bật là Trung Quốc và Việt Nam. Trung Quốc đã đạt được thành quả tương đương với giai đoạn phát triển thần kỳ của Nhật Bản trong giai đoạn 1950 - 1973 và Việt Nam tương đương với Hàn Quốc, Đài Loan trong các giai đoạn trước. Nhật Bản tiếp tục giai đoạn suy thoái kéo dài từ năm 1992. Các nước khác bị suy thoái nặng trong năm 1998 vì cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 nhưng hồi phục dần từ năm 1999. Bảng 1.1 chỉ cho thống kê đến năm 2003 nhưng nếu khảo sát thêm những năm sau đó sẽ thấy Thái Lan hồi phục nhanh hơn sau năm 2003. Nhìn chung, ngoài Trung Quốc và Việt Nam, các nước Đông Á từ cuối thập niên 1990 có mức tăng GDP đầu người trung bình là 3% đến 4%. Ở đây không có điều kiện đi sâu vào vấn đề phát triển kinh tế của các nước Đông Á từ cuối thập niên 1990. Những độc giả quan tâm vấn đề này có thể xem Stiglitz and Yusuf (2001) và các bản báo cáo hằng năm Asian Development Outlook (Asian Development Bank). . Nếu thành quả của Việt Nam ở giai đoạn gần đây tiếp tục được duy trì thì tương lai, Việt Nam sẽ nhanh chóng đuổi kịp các nước này.

Có thể nêu ra hai nhóm yếu tố giải thích thành quả phát triển đáng ghi nhận trong giai đoạn 1995 - 2003. Nhóm thứ nhất liên quan đến những nỗ lực, những chính sách đổi mới mạnh dạn từ năm 1989 tạo điều kiện để cơ chế thị trường hoạt động, dần dần khơi dậy được nguồn lực phát triển trước hết trong lĩnh vực nông nghiệp, sau đó là các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, song song với việc khắc phục nguy cơ lạm phát phi mã. Nhờ đó, từ năm 1993, kinh tế Việt Nam vừa phát triển vừa khắc phục lạm phát và thành quả đó tiếp tục được duy trì trong giai đoạn từ năm 1995. Nhóm yếu tố thứ hai liên quan đến tình hình quốc tế ngày càng thuận lợi cho Việt Nam. Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam từ cuối năm 1992, cộng đồng các nhà tài trợ gồm các nước phát triển và các cơ quan quốc tế bắt đầu cung cấp ODA cho ta từ năm 1993, do đó việc xây dựng cơ sở hạ tầng tiến triển nhanh và đi vào kế hoạch.

Hai nhóm yếu tố này đã tạo cơ sở để Việt Nam tham gia vào sự phân công quốc tế tại khu vực Đông Á. Cho đến năm 1994, hơn 70% ngoại thương của Việt Nam đã tập trung tại vùng này (trước năm 1990, hơn 70% kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam là với Liên Xô cũ và các nước Đông Âu). Đặc biệt, đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) tăng nhanh trong giai đoạn này, chủ yếu là do các công ty đa quốc gia từ Nhật Bản và các NIEs triển khai chiến lược cơ cấu lại mạng lưới sản xuất công nghiệp toàn vùng Đông Á.

1.2. Định vị kinh tế Việt Nam vào đầu thế kỷ 21

So với các nước xung quanh, trình độ phát triển của kinh tế Việt Nam hiện nay nằm ở đâu? Sau đây ta thử so sánh Việt Nam với Thái Lan, hai nước có số dân xấp xỉ nhau (năm 1990, dân số Việt Nam là 66 triệu người, Thái Lan là 56 triệu; vào cuối năm 2003 dân số Việt Nam là 81 triệu và Thái Lan là 63 triệu), có cấu tạo tài nguyên gần giống nhau, và nhất là vào thập niên 1950, hai nước hầu như có cùng trình độ phát triển. Theo tư liệu của ECAFE, tiền thân của ESCAP (Uỷ ban của Liên hợp quốc về kinh tế và xã hội châu Á - Thái Bình Dương), vào năm 1954 thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam là 117 USD trong khi của Thái Lan vào năm 1952 là 108 USD (Inđônêxia là 88 USD). Trích dẫn theo JICA (1995) . Ngoài ra, Trung Quốc cũng sẽ là đối tượng so sánh với Việt Nam mặc dù không khảo sát chi tiết như trường hợp Thái Lan. Trung Quốc là nước lớn nhưng có thể chế chính trị, kinh tế giống Việt Nam và cũng đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu nên sự so sánh cũng hữu ích. Cũng từ ý nghĩ này, tôi đã có dịp so sánh trình độ phát triển của Việt Nam với Trung Quốc trong một bài viết ngắn. Xem Trần Văn Thọ (1998). .

Việc so sánh trình độ phát triển của nước này với nước khác không phải dễ vì khó có một chỉ tiêu tổng hợp nào có thể biểu diễn tổng quát trình độ phát triển của một nước. Tuy nhiên, khảo sát một nhóm các chỉ tiêu cơ bản ta cũng có thể có một hình dung tương đối đầy đủ.

Một chỉ tiêu thường được đem so sánh là tổng sản phẩm quốc gia (GNP) hoặc tổng sản phẩm trong nước (GDP) tính trên đầu người. Theo tư liệu của Ngân hàng thế giới, vào năm 2003, GNP đầu người ở Việt Nam là 480 USD, ở Thái Lan là 2.190 USD và Trung Quốc là 1.100 USD (Bảng 1.2). Tuy nhiên, những con số này không phản ảnh mức sống của dân chúng vì sức mua của đồng USD khác nhau giữa nước này với nước khác. Để so sánh chính xác hơn phải dựa trên GNP hoặc GDP tính theo tỷ giá so sánh ngang sức mua (PPP). Bảng 1.2 cho thấy vào năm 2003, GNP trên đầu người theo PPP của Việt Nam gần 2.500 USD, xấp xỉ 1/2 của Trung Quốc và Philíppin, và người Thái Lan có mức sống cao hơn người Việt Nam khoảng ba lần.

Tuy nhiên, ở đây còn hai vấn đề nữa. Thứ nhất là vấn đề phân phối. Nếu việc phân phối lợi tức quá bất bình đẳng thì ý nghĩa của việc tăng tổng sản phẩm trên đầu người bị giảm đi. Vấn đề thứ hai liên quan đến môi sinh, môi trường, điều kiện làm việc. Hai nước dù có cùng thu nhập trên đầu người (trên cơ sở PPP) nhưng khác nhau ở mặt này thì rõ ràng là chất lượng cuộc sống của dân chúng không giống nhau. Tóm lại, nếu ta phát triển công bằng hơn và trong điều kiện môi trường, môi sinh tốt hơn thì không cần phải đạt gần 7.500 USD mới bằng mức sống của Thái Lan hiện nay.

Một cụm các chỉ tiêu khác chỉ trình độ phát triển của một nước liên quan đến trình độ chuyển dịch cơ cấu của một nền kinh tế. Những nước có mật độ dân số đông và xuất phát từ nền nông nghiệp lạc hậu phải qua con đường công nghiệp hoá mới phát triển được và mới hiện đại hoá được bản thân nền nông nghiệp. Thống kê của Ngân hàng thế giới cho thấy vào năm 1994, tỷ trọng của công nghiệp trong GDP của Việt Nam là khoảng 22%, xấp xỉ tỷ trọng của Thái Lan vào khoảng năm 1980. Theo tính toán của Vũ Quang Việt (1994), chuyên viên cao cấp về thống kê của Liên hợp quốc thì vào năm 1993, tỷ lệ này của Việt Nam chỉ có 15%. Trong cuốn sách xuất bản tám năm trước, chúng tôi căn cứ trên con số này và đánh giá tỷ trọng công nghiệp trong GDP của Việt Nam tương đương với Thái Lan vào năm 1970 (Trần Văn Thọ 1997, Chương 15). Dĩ nhiên sau năm 1993, công nghiệp của Việt Nam phát triển nhanh và vào thời điểm gần đây, theo World Development Indicators của Ngân hàng thế giới, tỷ lệ đó của Việt Nam đã vượt quá 20%, tương đương với Thái Lan vào đầu thập niên 1980 (Thái Lan vào năm 2001 là 32%).

Về tỷ lệ của hàng công nghiệp trong tổng xuất khẩu, vào năm 2002 Việt Nam đã vượt mức 50%, tương đương với Thái Lan vào đầu thập niên 1980. Tổng hợp hai chỉ tiêu công nghiệp hoá và với vài phân tích bổ sung, ta có thể kết luận là vào đầu thế kỷ 21, Việt Nam đi chậm hơn Thái Lan độ 20 năm. Tám năm trước, căn cứ theo dữ liệu thống kê năm 1993 hoặc 1994, tôi đã cho rằng Việt Nam đi chậm hơn Thái Lan độ 25 năm (Trần Văn Thọ 1997, Chương 15). Hai con số 25 năm và 20 năm vào hai thời điểm 1997 và 2003 nên được đánh giá như thế nào? Việt Nam đã phát triển nhanh hơn Thái Lan trong giai đoạn sau năm 1993 nên vào thời điểm gần đây, khoảng cách giữa Việt Nam và Thái Lan phải ngắn hơn khoảng cách 25 năm. Đây là lĩnh vực khó có sự chính xác về con số cụ thể nhưng ta có thể hình dung khoảng cách hiện nay giữa hai nước là khoảng 20 năm.

1.3. Chiến lược rút ngắn khoảng cách phát triển

Phân tích trong phần trên cho thấy một cách khái quát là Việt Nam đi chậm hơn Thái Lan khoảng 20 năm. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ta phải cần một thời gian như vậy mới bằng mức của Thái Lan bây giờ. Các nước đi sau nếu có chính sách đúng đắn có thể đốt giai đoạn và đây là khuynh hướng chung có thể thấy trong trường hợp của Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước khác. Thêm vào đó, như đã nói ở trên, nếu ta phát triển trong sự phân phối đồng đều hơn, và trong điều kiện môi sinh, môi trường tốt hơn, nghĩa là chất lượng phát triển tốt hơn, thì ta có thể đạt được mức sống bằng Thái Lan bây giờ với mức lợi tức đầu người thấp hơn.

So với Thái Lan, Việt Nam hiện nay có một số lợi thế, nhất là về mặt nhân lực. Bảng 1.3 tóm tắt một số chỉ tiêu về phát triển con người. Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổng kết các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, thu nhập, đã đưa ra một chỉ số tổng hợp về việc phát triển nhân lực (human development index) của 177 nước. Theo Human Development Report 2004 (UNDP), vào năm 2002, Việt Nam xếp thứ 112 và Thái Lan thứ 76, Trung Quốc thứ 94. Nếu xếp hạng theo GDP bình quân đầu người tính theo PPP thì Việt Nam đứng thứ 124, Thái Lan 67 và Trung Quốc 99. Các thống kê này cho thấy so với GDP/đầu người, Việt Nam có trình độ về nguồn nhân lực tương đối cao. Nếu nhìn các chỉ tiêu về nguồn nhân lực ở một số khía cạnh hẹp hơn như tỷ lệ người lớn biết chữ, ta thấy Việt Nam xấp xỉ Trung Quốc và không thua kém bao nhiêu so với Thái Lan (Bảng 1.3).

Mặc dù tình hình giáo dục xuống cấp ở Việt Nam hiện nay đang làm nhiều người lo ngại, nhưng nhìn vấn đề ở một góc độ khác, có thể nói nếu những vấn đề giáo dục hiện nay được quan tâm giải quyết triệt để thì trình độ về nguồn nhân lực của Việt Nam sẽ được nâng cao hơn nữa và nếu lợi thế này được phát huy, khả năng rút ngắn khoảng cách với các nước chung quanh sẽ rất lớn.

Một thuận lợi khác của Việt Nam là vị trí địa lý với bờ biển dài tiếp cận dễ dàng với các nước phát triển trong khu vực. Yếu tố này cùng với sự ổn định về chính trị, xã hội và tiềm năng về con người nói trên đã khiến nhiều công ty nước ngoài quan tâm đến Việt Nam từ đầu thập niên 1990. Nếu môi trường đầu tư được cải thiện, ta sẽ không thiếu tư bản, công nghệ và tri thức kinh doanh cần thiết để đuổi theo các nước chung quanh trong quá trình phát triển.

Thuận lợi thứ ba là việc phân bổ các thành phố, các trung tâm kinh tế trong cả nước tương đối hài hoà. Nếu có kế hoạch từ bây giờ, dân số và hoạt động kinh tế sẽ được phân tán rộng khắp cả nước, tránh tình trạng ô nhiễm môi trường và ngăn ngừa sự chênh lệch quá lớn về lợi tức giữa các tầng lớp dân chúng và giữa các khu vực. Đây là điều kiện để nâng cao chất lượng phát triển.

Những thuận lợi vừa nói chỉ là tiềm năng. Phải khơi dậy các tiềm năng này để kinh tế phát triển với tốc độ cao và bền vững. Nếu có quyết tâm vì sự nghiệp phát triển đất nước và từ đó ưu tiên tạo ra các cơ chế khơi dậy tiềm năng và tập trung trí tuệ xây dựng chiến lược phát triển đúng đắn, Việt Nam có thể phát triển trung bình trên dưới 9% năm (GDP bình quân đầu người tăng xấp xỉ 7% /năm đến 8% /năm ) trong 20 năm đầu của thế kỷ 21. Thực hiện được mục tiêu này thì cứ 10 năm mức sống của người Việt Nam sẽ tăng gấp đôi. Để kinh tế phát triển với tốc độ cao và bền vững trong thời gian dài như vậy phải vừa đẩy nhanh quá trình tích luỹ tư bản vừa tạo điều kiện để kinh tế phát triển có hiệu suất. Ta thử bàn thêm hai điểm này.

Thứ nhất, vấn đề tích luỹ tư bản. Vấn đề hiện nay của Việt Nam là phải tạo môi trường thuận lợi để kích thích tư bản trong nước và nước ngoài tích cực đầu tư. Giữa những năm 1990, tỷ lệ của tổng đầu tư trong GDP tăng nhanh, đạt mức 27% đến 28% nhưng sau đó giảm mạnh. Điều này một phần do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu Á nhưng phần quan trọng là do bộ máy hành chính kém hiệu quả làm cho phí tổn hành chính trong hoạt động đầu tư quá cao. Phương châm, đường lối về việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã có nhưng trên thực tế, thành phần ngoài nhà nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn, trong việc tiếp cận thông tin về cơ hội đầu tư, về thị trường... Việc định hướng chiến lược công nghiệp hoá không rõ ràng và phương châm, chính sách hay thay đổi làm cho độ rủi ro của các dự án đầu tư quá cao. Từ năm 2002, tỷ lệ của tổng đầu tư trong GDP tăng trở lại, đạt đến gần 34% vào năm 2003, nhưng đó là kết quả của việc cạnh tranh chạy dự án đầu tư của các bộ ngành, và các địa phương chứ không phải là hiện tượng tích luỹ tư bản lành mạnh. Điều này thể hiện trong việc giảm sút hiệu quả của đồng vốn đầu tư, phản ánh trong khuynh hướng tăng của việc hệ số ICOR. Increamental Capital - Output Ratio: Hệ số chỉ số vốn tăng cần thiết để tăng một sản lượng nhất định. .

Để tích luỹ tư bản nhanh và có hiệu quả cần tăng đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI). Tuy nhiên, FDI giảm liên tục từ năm 1997, gần đây mới hồi phục nhưng còn yếu. Trong tình trạng doanh nghiệp tư nhân trong nước còn nhỏ bé, các doanh nghiệp nhà nước còn yếu kém và đang trong quá trình cải cách, nếu không có một sự xoay chiều mạnh mẽ trong FDI thì liệu kinh tế Việt Nam có tăng trưởng được ở mức cao hay không? Nhìn sang các nước châu Á lân cận, ta thấy họ ngày càng nhận thức vai trò quan trọng của FDI trong xu thế toàn cầu hoá, và ra sức tạo điều kiện để thu hút FDI hơn nữa. Các nước này với quá trình phát triển và thu hút FDI trong nhiều thập kỷ đã xây dựng được một nền công nghiệp vững mạnh hơn Việt Nam rất nhiều. Có thể nói trình độ kỹ thuật, công nghệ, bề dày của tri thức quản lý kinh doanh tại các nước này đã tăng nhanh và phụ thuộc nhiều vào độ lớn của FDI được tích luỹ (FDI stock). Là một nước đi sau, FDI stock của Việt Nam quá nhỏ so với các nước lân cận là đương nhiên. Nhưng vấn đề đáng quan tâm ở đây là lưu lượng hàng năm (flow) của FDI vào Việt Nam cũng quá nhỏ so với Thái Lan chẳng hạn. Để rút ngắn khoảng cách, thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, phải quan tâm hơn đến vai trò của FDI. Điểm này sẽ được phân tích sâu hơn ở Chương 12. Trần Văn Thọ (2000) bàn về sự liên quan giữa FDI với nguy cơ tụt hậu.

Thứ hai là vấn đề phát triển có hiệu suất. Cùng với việc đẩy mạnh tích luỹ tư bản, phát triển có hiệu suất là biện pháp hữu hiệu nhất để rút ngắn khoảng cách với các nước xung quanh. Tích luỹ tư bản dù được đẩy mạnh cũng không thể vượt qua một giới hạn nhất định vì vấn đề môi trường và những hạn chế về vốn, về công nghệ và thị trường, v.v.. Do đó, với cùng một tốc độ về tích luỹ tư bản nhưng nước nào phát triển có hiệu suất thì nền kinh tế sẽ phát triển với tốc độ cao hơn. Bảng 1.4 cho thấy các nền kinh tế như Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia, Đài Loan và Hàn Quốc trong giai đoạn 1960 - 1994, tích luỹ tư bản đóng vai trò rất lớn, lớn hơn cả Nhật Bản trong giai đoạn 1950 - 1973 là giai đoạn phát triển thần kỳ của nước này, nhưng Nhật Bản phát triển có hiệu suất hơn nhiều (thể hiện bằng độ cống hiến của hiệu suất toàn yếu tố - total factor productivity, TFP) nên tốc độ tăng trưởng của kinh tế Nhật Bản cao hơn các nước châu Á khác.

Điểm này có nhiều gợi ý đối với Việt Nam. Để phát triển có hiệu suất, Việt Nam cần phải làm gì? Tôi đã có dịp phân tích trong cuốn sách xuất bản tám năm trước (Trần Văn Thọ, 1997, Chương 2), ở đây chỉ tóm tắt (và bổ sung) một vài điểm sau: Thứ nhất, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh (giữa các thành phần kinh tế) và hội nhập tích cực vào thị trường thế giới để tư bản và các yếu tố sản xuất khác được sử dụng một cách có hiệu quả nhất. Thứ hai, có kế hoạch dài hạn trong việc xây dựng nguồn nhân lực đồng thời tạo cơ chế để nhân tài được sử dụng đúng chỗ. Thứ ba, tạo môi trường để khoa học và công nghệ ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam, tri thức về công nghệ và quản lý, kinh doanh được phổ biến rộng khắp. Thứ tư, bộ máy hành chính cần phải được cải cách nhanh (quy rõ trách nhiệm và quyền hạn các cấp để có thể phân cấp quản lý) và tạo cơ chế để người tài giỏi và có phẩm chất đạo đức giữ những chức vụ quản lý nhà nước. Bộ máy hành chính như hiện nay dễ làm tăng phí tổn hành chính của doanh nghiệp và làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực. Trong trạng thái đó, doanh nghiệp sẽ tìm cách tạo quan hệ không chính đáng với quan chức quản lý mà kinh tế học phát triển gọi là mưu tìm đặc lợi (rent-seeking) thay vì nỗ lực tìm kiếm thị trường, cải tiến công nghệ để giảm giá thành và tăng phẩm chất hàng sản xuất. Một nước phát triển nhanh và có hiệu suất khi các doanh nghiệp hăng hái, nỗ lực trong việc mưu tìm lợi nhuận (prrofit-seeking) chân chính hơn là mưu tìm đặc lợi (Xem thêm Chương 16).

Kết luận

Việc tính toán lại số liệu thống kê kinh tế Việt Nam từ năm 1955 đã cho phép ta với tầm nhìn dài hạn so sánh được cơ cấu và nhịp độ phát triển của kinh tế nước ta với các nước xung quanh.

Trong nửa sau thế kỷ 20, dòng thác công nghiệp đã lan nhanh cả về bề sâu và bề rộng tại vùng Đông Á. Công cuộc đổi mới đã đưa Việt Nam hội nhập vào làn sóng công nghiệp tại khu vực này từ đầu thập niên 1990 nhưng vào đầu thế kỷ 21, giữa Việt Nam và các nước lân cận còn một khoảng cách lớn về trình độ phát triển.

Trong vài thập niên tới, với lợi thế về nguồn nhân lực và lợi thế của nước đi sau trong một khu vực mà công nghệ, tư bản và tri thức kinh doanh đang di chuyển nhộn nhịp, Việt Nam hoàn toàn có khả năng rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực. Tuy nhiên, đó mới chỉ là tiềm năng và cơ hội. Điều kiện đủ là phải có quyết tâm vì mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, mạnh dạn đổi mới hơn nữa để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế và tích cực thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Đó là những yếu tố quan trọng để tư bản tích luỹ nhanh và kinh tế phát triển có hiệu suất, hai điều kiện tiên quyết để có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững, tạo khả năng đuổi kịp các nước chung quanh. Trong quá trình đó, tiêu điểm lớn nhất là công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghiệp hoá của Việt Nam trong những năm tới đứng trước nhiều vấn đề mới và nhiều thách thức mới mà những chương sau sẽ phân tích kỹ.

Chương 2: Làn sóng công nghiệp Đông Á đầu thế kỷ 20

Có thể nói ít nhất trong 15 hoặc 20 năm tới, công nghiệp hoá là trọng điểm của chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam. Vậy công nghiệp hoá ở Việt Nam sẽ tiến hành trong một bối cảnh quốc tế như thế nào?

Thương trường của Việt Nam đang mở rộng ra khắp thế giới. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, khuynh hướng này sẽ càng mạnh hơn. Tuy nhiên, trong giai đoạn trước mắt, thách thức trực tiếp và cũng là cơ hội đối với công nghiệp Việt Nam là ở khu vực Đông Á. Tại đây, hai trào lưu đang nổi cộm và sẽ tác động đến sự phát triển của công nghiệp Việt Nam, đó là sự biến động trong làn sóng công nghiệp Đông Á và khuynh hướng tự do thương mại trong khu vực.

Hiểu đúng tính chất và tác động của hai trào lưu này để định được phương hướng chiến lược cho công nghiệp hoá trong giai đoạn tới là vấn đề tối quan trọng của kinh tế Việt Nam hiện nay. Chương này tập trung phân tích trào lưu thứ nhất, về sự biến động của làn sóng công nghiệp Đông Á, đặc biệt tìm hiểu xem sự phân công lao động giữa các nước đã thay đổi ra sao và vị trí của Việt Nam là ở đâu trong bản đồ công nghiệp hiện nay.

2.1. Việt Nam trong làn sóng công nghiệp Đông Á: Mô hình đàn sếu bay xưa và nay

Mô hình đàn sếu bay trước thử thách mới

Trong mấy thập kỷ qua, phát triển công nghiệp lan tỏa nhanh tại khu vực Đông Á, bắt đầu từ Nhật Bản sang Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Xingapo (gọi chung là nhóm NIEs) sau đó đến bốn nước ASEAN phát triển trước (Malaixia, Thái Lan, Philíppin và Inđônêxia, dưới đây gọi chung là ASEAN-4) rồi Trung Quốc, v.v.. Hiện tượng này được diễn tả bằng mô hình đàn sếu bay (flying-geese development pattern) với các nội dung có thể được tóm tắt như sau. Tư liệu, sách báo về mô hình này khá nhiều, ở đây chỉ giới thiệu hai nguồn mà nguời viết bài này đã phát biểu hoặc tham gia phát biểu: Trần Văn Thọ (1997, Ch. 1) và Kosai and Tran (1994). Những nguồn khác có phân tích tình hình gần đây nhất sẽ được đề cập trong phần sau. : Do vùng Đông Á gồm nhiều nhóm nước có các giai đoạn phát triển khác nhau, nên một ngành công nghiệp (tạm gọi là ngành A) thường được bắt đầu phát triển tại Nhật Bản, sau đó chuyển sang NIEs rồi ASEAN-4, sau nữa là đến Trung Quốc và tiếp theo có thể là Việt Nam và các nước khác; các nước đi trước sau khi mất lợi thế so sánh trong ngành A đã nỗ lực chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang những ngành có giá trị gia tăng cao với trình độ công nghệ cao hơn (ngành B rồi C, D, v.v.. khi B, C… cũng như A chuyển dần sang các nước khác). Đây là hiện tượng đuổi bắt (catch-up) nhiều tầng trong quá trình công nghiệp hoá ở Đông Á, tạo nên tính năng động của khu vực này. Yếu tố đưa đến hiện tượng này là nỗ lực tích luỹ tư bản, công nghệ tại các nước đi sau và quá trình đó được thúc đẩy bằng đầu tư trực tiếp và các hình thái chuyển giao công nghệ khác từ các nước đi trước.

Cho đến đầu thập niên 1990, hầu hết các nhà nghiên cứu kinh tế đều cho rằng việc áp dụng mô hình đàn sếu bay để giải thích sự lan toả của công nghiệp tại vùng Đông Á là có cơ sở. Nhìn toàn cục, ta thấy có sự tiến triển nhanh trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước theo hướng công nghiệp hoá, các nước đi sau đuổi theo các nước đi trước, rút ngắn khoảng cách phát triển công nghiệp. Chẳng hạn, Biểu đồ 2.1 cho thấy hiện tượng đuổi bắt ấy trong lĩnh vực xuất khẩu. Hiện nay, tại hầu hết các nước Đông Á, 80% kim ngạch xuất khẩu là hàng công nghiệp (NIEs, không vẽ trong hình, đã đạt mức gần 100% từ thập niên 1980). Ngay cả tại Inđônêxia, một nước trước đây chuyên xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt, tỷ trọng của công nghiệp trong tổng xuất khẩu cũng đã đạt mức 60%.

Khảo sát sự phát triển của từng ngành công nghiệp ta cũng thấy có hiện tượng đuổi bắt tương tự. Chẳng hạn, trường hợp ngành dệt may, lợi thế so sánh chuyển từ Nhật Bản sang NIEs vào đầu thập niên 1970, sang ASEAN-4 từ thập niên 1980 và từ cuối thập niên đó chuyển sang Trung Quốc. Một thí dụ khác: cho đến thập niên 1970 mới chỉ có Nhật Bản sản xuất tivi màu, nhưng ngành này bắt đầu phát triển tại Hàn Quốc và Đài Loan từ cuối thập niên 1970, rồi tại Malaixia và Thái Lan từ cuối thập niên 1980, và Trung Quốc trở thành nước sản xuất tivi màu nhiều nhất thế giới từ nửa sau thập niên 1990. Do quá trình đuổi bắt này, lượng sản xuất tại Nhật Bản giảm nhanh và phải nhập khẩu nhiều từ các nước Đông AÙ (Nhật sản xuất 15 triệu chiếc tivi màu năm 1990 nhưng chỉ còn độ 3 triệu chiếc vào năm 2000, trong thời gian đó nhập khẩu tăng từ 1 đến 9 triệu chiếc).

Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1990, với sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, sự phát triển của công nghệ thông tin, sự rút ngắn nhanh chóng khoảng cách công nghệ giữa các nước, nhiều người đã đặt nghi vấn về tính thuyết phục của mô hình đàn sếu bay. Bản báo cáo về kinh tế châu Á của Tổng cục kinh tế kế hoạch Nhật Bản (Keizaikikakuchou 2000) cho rằng nhờ công nghệ thông tin nên các nước đi sau ở Đông Á có thể đồng loạt sản xuất ngay trong các ngành công nghiệp có công nghệ cao, tiến lên ngang hàng với các nước đi trước. Sách Trắng về thương mại quốc tế của Bộ Công thương Nhật (Keizaisangyoushou 2003) xem sự lớn mạnh của Trung Quốc là yếu tố có thể chấm dứt mô hình đàn sếu bay. Tôi có dịp phản luận các ý kiến phủ nhận mô hình này trong cuốn sách viết chung mấy năm trước (Trần Văn Thọ và những người khác (2001). . Từ các nghi vấn này, có thể nêu vài điểm quan trọng nhìn từ góc độ Việt Nam: thứ nhất, với quy mô và tốc độ phát triển của Trung Quốc, với vùng tây nam rộng lớn và chưa phát triển của nước này, làn sóng công nghiệp có thể sẽ không lan toả tiếp xuống các nước có trình độ phát triển thấp hơn như Việt Nam mà lan rộng trong nội bộ Trung Quốc. Thứ hai, Trung Quốc xuất khẩu hầu như tất cả các loại hàng công nghiệp, từ các ngành có hàm lượng lao động cao đến các sản phẩm sử dụng nhiều tư bản và công nghệ cao, gây ra sự bất ổn trong trật tự phân công lao động ở Đông Á; các nước đi sau như Việt Nam khó chen chân vào cơ cấu phân công mới này, các nước ASEAN, NIEs và cả Nhật Bản cũng đứng trước một thách thức lớn. Dưới đây sẽ kiểm chứng các luận điểm này.

Khuynh hướng mới của làn sóng công nghiệp Đông Á

Khảo sát những khuynh hướng, đặc tính của sự phân công lao động hiện nay tại vùng Đông Á có thể thấy bức tranh công nghiệp khu vực có những đặc tính sau:

Thứ nhất, khu vực này đang ngày càng trở thành nhà máy sản xuất hàng công nghiệp của thế giới, đặc biệt là các loại máy móc từ đồ điện gia dụng, xe hơi, xe máy, máy chụp hình... đến các loại phần cứng của công nghệ thông tin như máy tính cá nhân, điện thoại di động. Có thể nhiều người sẽ ngạc nhiên khi xem thị phần của các nước này trong tổng lượng sản xuất của thế giới. Hiện nay, Đông Á sản xuất khoảng 95% máy nghe nhạc DVD, 85% máy tính xách tay, gần 100% ổ đĩa cứng máy tính, 70% máy cát xét (cassette), gần 80% máy phim đèn chiếu (VTR), 80% máy điều hoà không khí, 60% tivi màu và 30% xe hơi của thế giới. Công nghiệp hoá tiến nhanh và cơ cấu ngày càng hướng vào những ngành có giá trị gia tăng cao.

Thứ hai, do tiền lương và phí tổn sản xuất giữa các nước không đồng đều, trong khi đó chu kỳ công nghệ của các ngành ngày càng rút ngắn nên cơ sở sản xuất chuyển dịch nhanh từ nước này sang nước khác. Khi công nghệ vừa được khám phá và triển khai thì cơ sở sản xuất được đặt tại nước có công nghệ hoặc những nơi có nguồn nhân lực có trình độ quản lý, trình độ kỹ thuật cao. Nhưng khi công nghệ đã được tiêu chuẩn hoá thì cơ sở sản xuất di chuyển đến những nơi mà nhân công lao động thấp, tài nguyên, vật liệu trung gian huy động dễ dàng. Tại Đông Á, ta đã thấy các nhà máy trong nhiều ngành công nghiệp đã di chuyển từ Nhật Bản sang các nền kinh tế công nghiệp hoá mới như Hàn Quốc, Đài Loan, rồi sau đó chuyển sang ASEAN và Trung Quốc. Nhiều nước giữ vị trí áp đảo trong một số ngành nào đó, nhưng chỉ sau vài năm thị phần giảm nhanh vì các công ty đa quốc gia di chuyển hoặc lập thêm các cơ sở sản xuất tại các nước khác trong vùng. Chẳng hạn, năm 2000 Nhật Bản chiếm 73% thị phần thế giới về máy chụp hình kỹ thuật số (digital camera) nhưng đến năm 2003 thị phần giảm còn 55%. Năm 2000, Đài Loan sản xuất 55% máy tính cá nhân loại nhỏ nhưng sang năm 2003, Trung Quốc trở thành nước sản xuất hàng đầu với thị phần là 35%. Trong thời gian đó, trong ngành VTR, Trung Quốc phải nhường vị trí hàng đầu thế giới cho Inđônêxia. Điểm này cho thấy mô hình đàn sếu bay vẫn có thể áp dụng để khảo sát làn sóng công nghiệp Đông Á, mặc dù quá trình được rút ngắn hơn so với trước đây.

Thứ ba, sau vài thập niên phát triển, khoảng cách công nghệ giữa các nước trong vùng Đông Á được rút ngắn. Điều này được phản ánh trong hiện tượng các nước ASEAN và Trung Quốc, những nước đi sau trong quá trình công nghiệp hoá, ngày càng giành được sự phân công sản xuất hoặc thực thi những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong toàn bộ chuỗi giá trị (value chain) của từng ngành công nghiệp. Biểu đồ 2.2 biểu diễn chu trình sáng tạo giá trị gia tăng của một ngành công nghiệp. Đặc biệt, trong các ngành sản xuất máy móc như máy tính cá nhân, máy giặt, máy chụp hình, v.v., trước đây các nước ASEAN và Trung Quốc chủ yếu phụ trách công đoạn lắp ráp, công đoạn giá trị gia tăng thấp nhất nhưng bây giờ họ đã leo lên các tầng trên thượng nguồn của chuỗi giá trị, đặc biệt là giai đoạn sản xuất bộ phận, linh kiện.

Thứ tư, do khuynh hướng công nghiệp hoá lan rộng và đi vào chiều sâu nói trên, thương mại tại Đông Á cũng có một số chuyển dịch quan trọng:

Như đã đề cập và minh hoạ trong Biểu đồ 2.1, xuất khẩu của các nước hiện nay chủ yếu là hàng công nghiệp. Trong công nghiệp, các nước Đông Á ngày càng có lợi thế so sánh trong các ngành máy móc như đồ điện gia dụng và công nghệ thông tin. Các loại máy móc này đã chiếm trên 60% trong tổng xuất khẩu của Malaixia, 45% của Thái Lan, và 40% của Trung Quốc vào năm 2002. Con số tương ứng của Philíppin là 75%, một con số đáng ngạc nhiên. Như sẽ thấy dưới đây, thành quả xuất khẩu của Philíppin cũng đáng chú ý ở các mặt khác nữa.

Do các nước đồng loạt tiến về thượng nguồn trên chuỗi giá trị (di chuyển từ D lên C và B trong Biểu đồ 2.2), sự phân công trong nội bộ các ngành sản xuất máy móc được tiến hành nhanh chóng. Các nước Đông Á vừa xuất và nhập các linh kiện, bộ phận liên quan đến các loại máy móc. Chẳng hạn, vào năm 2002, các bộ phận, linh kiện điện tử và chất bán dẫn có kim ngạch xuất khẩu hàng đầu tại Hàn Quốc, Xingapo, hàng thứ hai tại Nhật Bản và hàng thứ 10 tại Trung Quốc, nhưng tại tất cả các nước này, trên 70% kim ngạch xuất khẩu là hướng vào các nước Đông Á. Phụ tùng thiết bị cho các loại máy móc dùng ở văn phòng có kim ngạch xuất khẩu hàng thứ tư tại Nhật Bản, thứ sáu tại Hàn Quốc, thứ ba tại Trung Quốc và nhiều nước ASEAN cũng có tỷ lệ xuất khẩu sang Đông Á rất cao. So sánh Bảng 2.1 và Bảng 2.2 ta thấy nhiều mặt hàng Trung Quốc và ASEAN xuất khẩu nhiều nhất cũng là những mặt hàng họ nhập khẩu nhiều nhất, và những mặt hàng đó có khuynh hướng xuất và nhập trong nội bộ vùng Đông Á. Ngược lại, những mặt hàng mà các nước này chủ yếu xuất chứ không nhập khẩu (ví dụ như dụng cụ thể thao, đồ chơi, giày dép, các loại quần áo, thiết bị thu âm, đồ điện gia dụng, v.v.) thì tỷ lệ buôn bán trong vùng thấp (vì chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Âu - Mỹ).

Vị trí của Trung Quốc trên bản đồ ngoại thương Đông Á khiến nhiều nước lo ngại, nhưng phân tích kỹ ta thấy các nước khác vẫn có thể tìm ra lợi thế so sánh mới để duy trì, phát triển một sự phân công lao động với nền kinh tế lớn mạnh này. Trong một thời gian dài, kinh tế Trung Quốc phát triển với tốc độ cao ( trung bình 10% /năm, gần đây 7% /năm đến 8% /năm ), chủ yếu là phát triển công nghiệp và ngày càng hướng ngoại (tỷ lệ xuất khẩu trên GDP tăng từ 7% năm 1980 lên 15% năm 1990 và lên tới gần 30% những năm gần đây). Hiện nay, trên 90% kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc là hàng công nghiệp (Biểu đồ 2.1). Từ năm 2002, Trung Quốc là nước có thị phần lớn nhất trong tổng nhập khẩu của Nhật Bản. Hiện nay Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn thứ ba trên thế giới. Những sự kiện này dễ gây ấn tượng rằng Trung Quốc đã áp đảo các nước khác, và sự thực Trung Quốc đã có gây khó khăn cho một số nước gần với Trung Quốc về trình độ phát triển, về cơ cấu kinh tế.

Tuy nhiên, kinh tế Trung Quốc phát triển khiến nước này trở thành một thị trường rộng lớn, tạo cơ hội cho nhiều nước ở Đông Á đẩy mạnh xuất khẩu. Nhập khẩu của Trung Quốc đã tăng từ 110 tỷ năm 1995 lên tới 561 tỷ USD năm 2004. Và như Bảng 2.1 và 2.2 đã cho thấy, Trung Quốc vừa xuất và vừa nhập nhiều loại linh kiện hay sản phẩm trung gian và những loại này chủ yếu xuất và nhập giữa Trung Quốc với các nước trong vùng Đông Á. Dĩ nhiên thị trường Trung Quốc không phải mang lại cơ hội đồng đều cho các nước ở trong vùng mà cơ hội đó tuỳ thuộc vào năng lực cạnh tranh của các nước. Ta có thể dùng ma trận mậu dịch (trade matrix) để khảo sát vấn đề này.

Bảng 2.3 là ma trận mậu dịch hàng công nghiệp giữa các nước Đông Âu (có thêm “Thế giới” để chỉ tổng xuất khẩu của các nước và thêm Mỹ là thị trường quan trọng của hầu hết các nước Đông Á). Nhìn hàng ngang từ bên trái sang ta biết được kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của từng nước Đông Á sang các nước Đông Á khác, sang Mỹ và thế giới. Hàng trên là kim ngạch xuất khẩu năm 1992, hàng dưới là năm 2002.

Ma trận này giúp ta biết được nước nào đã xuất khẩu hàng công nghiệp sang Trung Quốc nhiều nhất và trong khoảng 10 năm qua nước nào đã thành công trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường lớn này. Bảng 2.3 cho thấy Nhật Bản là nước có thị phần lớn nhất (38 tỷ năm 2002), tiếp theo là Hàn Quốc, sau đó là Xingapo. Kết quả này không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng đáng ngạc nhiên là tốc độ thâm nhập của Hàn Quốc và nhiều nước ASEAN vào thị trường Trung Quốc từ năm 1992 đến 2002. Trong thời gian đó, Hàn Quốc xuất khẩu hàng công nghiệp sang thế giới tăng gấp đôi nhưng sang Trung Quốc thì tăng gần 10 lần (hiện nay Hàn Quốc chiếm gần 10%, ngang hàng với Mỹ, trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc. Các nước ASEAN cũng chiếm khoảng 10%, Nhật Bản gần 20%). Xuất khẩu của Philíppin tăng 15 lần, Thái Lan 24 lần, Malaixia 14 lần (Việt Nam cũng tăng nhiều nhưng xuất phát từ một con số ban đầu quá nhỏ).

Như vậy, tuy một mặt đã trở thành nhà máy của thế giới và xuất khẩu nhiều loại hàng công nghiệp, nhưng mặt khác Trung Quốc cũng ngày càng trở thành thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp của các nước khác ở Đông Á. Nhiều nghiên cứu gần đây cũng cho thấy tuy đã bắt đầu tiến lên thượng nguồn trên chuỗi giá trị, song Trung Quốc vẫn phải phụ thuộc vào nhập khẩu nhiều bộ phận, linh kiện và các sản phẩm trung gian khác, nhất là những mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao. Chẳng hạn, xem Kwan (2002), Lall and Albaladejo (2004), Gilboy (2004). .

2.2. Vị trí của Việt Nam trong bản đồ công nghiệp Đông Á

Bảng 2.4 cho thấy hàng công nghiệp hiện nay chiếm khoảng 60% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam. Con số này tương đang với Thái Lan vào giữa thập niên 1980. Hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng công nghiệp nhẹ, tập trung vào các ngành may mặc và giày dép (riêng hai mặt hàng này chiếm gần 40% tổng xuất khẩu vào năm 2003). Nhưng phần lớn nguyên vật liệu và sản phẩm trung gian trong các hàng xuất khẩu này phải phụ thuộc vào nhập khẩu. Ngoài ra, máy móc các loại chỉ chiếm khoảng 8% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam. Như đã đề cập, con số tương ứng vào năm 2001 của nhiều nước Đông Á là từ 40 đến 60% (riêng Philíppin trên 70%). Ngay cả Inđônêxia từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997) được xem là nước bị bỏ rơi trong quá trình phát triển mạnh mẽ ở Đông Á thì tỷ lệ đó cũng đạt 16%, cao gấp đôi Việt Nam. Để thấy rõ hơn vị trí của Việt Nam trong làn sóng công nghiệp Đông Á, ta thử khảo sát chỉ số cạnh tranh của từng nước trong một số ngành công nghiệp tiêu biểu.

Nếu gọi X là xuất khẩu và N là nhập khẩu, chỉ số cạnh tranh của một nước trong một ngành công nghiệp nào đó được tính theo công thức sau:

(X-N)/(X+N)

Nếu chủ yếu là nhập khẩu và hầu như không xuất khẩu, chỉ số cạnh tranh sẽ bằng trừ 1. Đây là trường hợp nước này hoàn toàn không (hoặc chưa có) lợi thế so sánh trong ngành đang phân tích nên nhu cầu trong nước hoàn toàn phụ thuộc nhập khẩu. Ngược lại, nếu hầu như chỉ xuất khẩu và không nhập khẩu thì chỉ số cạnh tranh là 1. Đây là trường hợp ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ, có sức cạnh tranh áp đảo hàng nhập. Một trường hợp đặc biệt nữa là chỉ số cạnh tranh bằng 0 khi xuất và nhập hầu như bằng nhau. Trường hợp này có hai khả năng: nếu kim ngạch xuất và nhập rất nhỏ, đó là hiện tượng ngành công nghiệp đã qua giai đoạn thay thế nhập khẩu và bắt đầu chuyển sang giai đoạn xuất khẩu. Nếu kim ngạch xuất và nhập khá lớn thì đó là hiện tượng của sự phân công trong nội bộ một ngành công nghiệp (intra-industry division of labor) như ta đã thấy ở Bảng 2.1 và Bảng 2.2.

Trong mô hình đàn sếu bay, chỉ số cạnh tranh của một nước trong một ngành công nghiệp thường bắt đầu bằng trừ 1 tiến dần đến 0 (quá trình thay thế nhập khẩu) sau đó tiến về trị số 1 (từ thay thế nhập khẩu sang xuất khẩu)11. Ngược lại trong mô hình của lý thuyết về chu kỳ sản phẩm (product cycle theory) của Vernon (1966), chỉ số cạnh tranh bắt đầu bằng 1 sau đó tiến đến 0 rồi tiến về hướng trừ 1. .

Từ khảo sát sự thay đổi trong chỉ số cạnh tranh của một số ngành công nghiệp chủ yếu, vị trí của Việt Nam trong làn sóng công nghiệp Đông Á có thể được tóm tắt như sau:

Biểu đồ 2.3 cho thấy trong ngành dệt (textiles) Việt Nam phải nhập khẩu nhiều, chỉ số cạnh tranh rất thấp (- 0,7 vào năm 2002), trong khi đó, trừ Philíppin, hầu hết các nước ASEAN đều xuất siêu ở mức cao. Điều này khẳng định lại nhận xét liên quan đến Bảng 2.3 là tuy ngành dệt may là hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, song phần lớn sản phẩm trung gian phải phụ thuộc vào nhập khẩu. Các công ty thương mại hoặc thời trang của các nước tiên tiến nhập vải chất lượng cao vào Việt Nam, vẽ mẫu và đặt may gia công, sau đó xuất khẩu thành phẩm là quần áo. Áp dụng vào sơ đồ về chuỗi giá trị ở Biểu đồ 2.2, vị trí của Việt Nam chủ yếu ở khâu gia công, lắp ráp, còn những giai đoạn có giá trị gia tăng cao (thượng nguồn và hạ nguồn) phụ thuộc vào nước ngoài.

Chỉ số cạnh tranh trong ngành linh kiện, bộ phận máy tính (Biểu đồ 2.4) hoặc trong ngành máy móc thiết bị điện tử (Biểu đồ 2.5) cho thấy mấy năm gần đây Việt Nam có cải thiện được vị trí cạnh tranh nhưng vẫn nhập siêu nhiều (chỉ số còn rất thấp, -0,6), trong khi đó hầu hết các nước ASEAN khác và Trung Quốc thì ở vị trí xuất siêu cao. Ngành xe hơi, xe vận tải (Biểu đồ 2.6) và ngành linh kiện, bộ phận xe hơi (Biểu đồ 2.7) thì Việt Nam hầu như chỉ nhập khẩu (chỉ số cạnh tranh -1). Đa số các nước ASEAN khác hoặc Trung Quốc cũng còn nhập siêu nhưng kim ngạch nhập siêu giảm nhanh, chỉ số tiến gần đến 0 và sắp chuyển sang số dương.

Về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước lân cận, Việt Nam nhập siêu nhiều với Trung Quốc và với hầu hết các nước ASEAN. Năm 2003, Việt Nam nhập siêu với toàn thế giới là 5 tỷ USD nhưng riêng với các nước Đông Á nhập siêu lên tới gần 8 tỷ USD trong đó với Trung Quốc 1,4 tỷ và ASEAN 3 tỷ. Như sẽ thấy dưới đây, về cơ cấu thương mại, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu hàng công nghiệp và xuất khẩu nguyên liệu và nông sản phẩm, một cơ cấu hàng dọc thường thấy giữa một nước có trình độ phát triển thấp với các nước tiên tiến.

Phân tích ở trên cho thấy Việt Nam đi sau khá xa các nước chung quanh về phát triển công nghiệp, thể hiện trong sự cách biệt về tỷ lệ hàng công nghiệp, đặc biệt là tỷ lệ sản phẩm máy móc các loại trong tổng xuất khẩu, trong chỉ số cạnh tranh của những ngành công nghiệp chủ yếu, trong cơ cấu phân công hàng dọc giữa Việt Nam với các nước này, và Việt Nam phải nhập siêu nhiều với các nước đó. Không kể một số nước mới gia nhập ASEAN (Lào, Campuchia và Mianma), Việt Nam là nước đi sau cùng trong quá trình công nghiệp hoá ở vùng Đông Á. Nhưng chiến lược đuổi bắt của Việt Nam trong quá trình đó đang đối mặt với một thách thức lớn: phải sớm tiến hành tự do hoá thương mại với các nước ở Đông Á. Những chương tiếp theo đây sẽ phân tích các vấn đề này.

Chương 3: Thách thức của kinh tế Trung Quốc

Bàn về chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam không thể không phân tích ảnh hưởng của kinh tế Trung Quốc. Kinh tế Trung Quốc vừa lớn về quy mô vừa nhanh về tốc độ tăng trưởng, giai đoạn phát triển và cơ cấu tài nguyên, cơ cấu kinh tế lại tương đối gần với Việt Nam. Trung Quốc là thách thức hay là cơ hội đối với kinh tế Việt Nam?

3.1. Sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc

Như mọi người đều biết, sau quyết định cải cách vào cuối năm 1978, kinh tế Trung Quốc phát triển rất nhanh. Từ đầu thập niên năm 1980 đến 1996, kinh tế Trung Quốc lúc nào cũng tăng trưởng trên dưới 10% (có năm lên đến 15%), trừ hai năm 1989 và 1990 là thời kỳ kinh tế bị ảnh hưởng bởi sự kiện Thiên An Môn (1989). Sau cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á (1997-1998), tốc độ tăng trưởng của hầu hết các nước trong khu vực giảm nhanh nhưng Trung Quốc vẫn duy trì trong khoảng 7% đến 9% cho đến bây giờ (Biểu đồ 3.1). Như Biểu đồ 3.1 cho thấy, trừ hai năm 1989 và 1990, tăng trưởng của Trung Quốc lúc nào cũng cao hơn Việt Nam mặc dù kinh tế nước ta phát triển khá nhanh từ đầu thập niên 1990. Ngoài tốc độ tăng trưởng nhanh và kéo dài trong một thời gian dài, quá trình phát triển của kinh tế Trung Quốc còn có các đặc điểm đáng chú ý sau:

Thứ nhất, kinh tế Trung Quốc ngày càng hướng ngoại, mức độ phụ thuộc vào thị trường nước ngoài tăng rất nhanh. Như Biểu đồ 3.1 cho thấy, tỷ lệ của xuất khẩu trong tổng sản phẩm trong nước (GDP) vào nửa đầu thập niên 1980 chỉ mới là 6% đến 7% nhưng hiện nay đã lên tới gần 30%. Đây là con số đáng ngạc nhiên đối với một nền kinh tế lớn như Trung Quốc.

Thứ hai, xuất khẩu của Trung Quốc ngày càng nghiêng hẳn về hàng công nghiệp. Năm 1980, hàng công nghiệp chiếm 48% tổng xuất khẩu nhưng 10 năm sau tăng lên 78% và gần đây (2003) đã lên tới 92%. Hàng xuất khẩu công nghiệp của Trung Quốc hiện nay rất đa dạng, từ những mặt hàng có hàm lượng lao động giản đơn như may mặc, giày dép, dụng cụ lữ hành, đồ chơi trẻ em, tạp hoá, v.v., đến những mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao như các loại máy móc. Đồ điện, điện tử gia dụng, đồng hồ, máy tính cá nhân, xe máy và các loại máy móc khác chiếm tới 43% tổng xuất khẩu năm 2003. Số liệu năm 2003 dựa theo JETRO Boueki Toshi Hakusho (Sách Trắng về thương mại và đầu tư của JETRO), 2004. Số liệu năm 1980 và 1990 tính từ thống kê thương mại Liên hợp quốc. .

Trung Quốc đã nhanh chóng trỗi dậy thành một cường quốc kinh tế, chiếm vị trí hàng đầu thế giới trong sản xuất và ngoại thương. Năm 2004, GDP của Trung Quốc đạt 1.649 tỷ USD, xếp thứ bảy trên thế giới. Với đà phát triển hiện nay, chỉ vài năm nữa Trung Quốc sẽ vượt Italia, Pháp và Anh để lên hàng thứ tư (sau Mỹ, Nhật và Đức). Kim ngạch xuất và nhập khẩu của Trung Quốc năm 2004 đã lên tới 1.155 tỷ USD, lần đầu tiên vượt Nhật Bản trở thành cường quốc ngoại thương thứ ba (năm 2000 xếp thứ tám) trên thế giới (sau Mỹ và Đức). Từ cuối thập niên 1990, dư luận quốc tế đã nói đến Trung Quốc như là một "công xưởng thế giới" (world factory). Thật vậy, điều tra của báo Nikkei, tờ nhật báo kinh tế lớn nhất ở Nhật Bản, cho thấy vào năm 2000, Trung Quốc chiếm 40% tổng lượng sản xuất máy điều hoà không khí của thế giới, 24% tivi màu, 22% VTR, 11% máy tính cá nhân (desktop PC), 10% điện thoại di động, v.v.. Xu thế đầu tư tại Trung Quốc sau đó cho thấy thị phần của Trung Quốc hiện nay còn cao hơn. Ngành xe hơi chẳng hạn, vào năm 2000 Trung Quốc xếp thứ tám trong những nước sản xuất nhiều nhất thế giới nhưng đến năm 2004 đã tiến lên hàng thứ tư.

Trừ những ngành có hàm lượng công nghệ cao và việc sản xuất cũng như quản lý chất lượng đòi hỏi kinh nghiệm và trình độ của cả một hệ thống sản xuất và quản lý nhiều tầng lớp, điển hình là ngành xe hơi, hiện nay, trong các ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm tiêu thụ cuối cùng, Trung Quốc đã dần dần thay thế Nhật Bản với tư cách là nước sản xuất đứng đầu thế giới. Nhật Bản ngày càng chuyển các cơ sở sản xuất các ngành này sang Trung Quốc, thay vào đó là xuất khẩu sang Trung Quốc các sản phẩm trung gian, các linh kiện, bộ phận điện tử cao cấp. Theo Mino (2004), hiện tượng này xảy ra từ khoảng năm 1995 - 1996, đánh dấu khả năng của Trung Quốc trong việc sản xuất với giá thành rẻ và chất lượng cao các sản phẩm tiêu thụ cuối cùng, đặc biệt là đồ điện gia dụng.

Tại sao kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh như vậy? Có thể kể ra ở đây hai nguyên nhân và là hai yếu tố quan trọng mà Việt Nam có thể tham khảo cho chiến lược công nghiệp hoá:

Một là Trung Quốc tiến nhanh vào cơ chế thị trường, nhất là trong lĩnh vực sản xuất. Tuy việc cải cách doanh nghiệp nhà nước không tiến triển nhanh nhưng thay vào đó, doanh nghiệp ngoài nhà nước được tạo điều kiện về cơ chế để phát triển nhanh, có thể nói là rất ngoạn mục. Đặc biệt, các doanh nghiệp hương trấn (town village enterprises, TVEs) đóng vai trò đầu tàu trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước này. Về hình thức, phần lớn TVEs do chính quyền hương trấn ở địa phương sỡ hữu, một loại sở hữu tập thể giống như hợp tác xã, nhưng trên thực tế, các loại doanh nghiệp này hoạt động như doanh nghiệp tư nhân. Các chính quyền địa phương cạnh tranh nhau để kinh tế nơi mình phát triển nên có nhiều biện pháp hỗ trợ TVEs, nhất là giúp TVEs thoát khỏi các vướng mắc về pháp lý, về thủ tục hành chính. Tài liệu về TVEs có rất nhiều, nhưng Kato (2001) và Lin and Yao (2001) là những tài liệu tóm lược được các đặc tính quan trọng nhất của TVEs. . Vào những năm đầu trong quá trình cải cách của Trung Quốc, TVEs chỉ chiếm dưới 10% lực lượng lao động có việc làm ở nông thôn, nhưng đến giữa thập niên 1990 tỷ lệ đó đã tăng lên gần 30%. Tỷ lệ của TVEs trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Trung Quốc đã tăng từ 10% năm 1980 lên tới 58% năm 1997 (Lin and Yao 2001, tr. 146). Cùng với sự phát triển của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như sẽ nói dưới đây, TVEs là một trong hai đầu máy kéo lực lượng sản xuất của Trung Quốc theo hướng hiệu suất hoá và tăng năng lực cạnh tranh, phản ảnh trong thành quả xuất khẩu đã nói ở trên. Từ năm 1986 đến năm 1997, tỷ lệ của TVEs trong tổng xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng từ 9% lên đến 46% (Lin and Yao 2001, tr.147). Chương 14 có bàn về việc cải cách ở nông thôn Trung Quốc, trong đó cho thấy thành quả của cải cách trong nông nghiệp đã giúp cho TVEs đẩy nhanh quá trình tích luỹ tư bản. . Tỷ lệ của doanh nghiệp nhà nước trong tổng kim ngạch sản xuất công nghiệp đã giảm từ 54,6% năm 1990 xuống 23,5% năm 2000. Năm 2000, theo số liệu của Kwan (2004), những năm trước đó theo số liệu tính từ Niên giám thống kê Trung Quốc. . Đây là một thành quả rất đáng ngạc nhiên (con số của Việt Nam hiện nay là gần 40%).

Hai là vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong những năm đầu sau khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành (1979) và bốn khu kinh tế đặc biệt được thành lập (1980), hành lang pháp lý và kinh tế vĩ mô chưa ổn định, phản ứng của các công ty đa quốc gia còn yếu. Trong bốn năm đầu (1979-1982) chỉ có 83 dự án được cấp giấy phép, so với 1.412 dự án năm 1985. Con số dự án lên tới 12.987 năm 1991 và 41.081 năm 2003. . Nhưng thay vào đó là sự tích cực hưởng ứng của tư bản Hoa kiều ở Hồng Kông, Đài Loan và các nước Đông Nam Á ngay từ giai đoạn đầu. Từ đầu thập niên 1990, FDI từ Âu - Mỹ và Nhật Bản tăng nhanh, góp phần quan trọng vào việc thay đổi cả chất và lượng của kinh tế Trung Quốc. Tỷ lệ của FDI trong tổng vốn đầu tư cố định ở nước này tăng từ 4% năm 1991 lên tới 15% năm 2002 (Yu 2004). Các công ty FDI vào năm 1991 mới đóng 5,7% vào tổng kim ngạch sản xuất công nghiệp của Trung Quốc nhưng tỷ lệ này đã tăng lên 27% vào năm 2000 (riêng tỷ lệ này vào năm 2000 tại tỉnh Quảng Đông là 58%, Phúc Kiến 61%, Thiên Tân 46%, Thượng Hải 55% và Bắc Kinh 45%). Theo tư liệu trong RIM tập 3, số 8 năm 2003. . Hiện nay FDI chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của Trung Quốc. Một nền kinh tế lớn như Trung Quốc mà vai trò của FDI cao như vậy quả là rất đặc biệt.

3.2. Thách thức đối với ASEAN

Tuy kinh tế Trung Quốc lớn mạnh như vậy nhưng không phải là không có vấn đề nan giải. Môi trường bị ô nhiễm, thiếu năng lượng, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng và giữa các giai tầng gây nên căng thẳng trong xã hội là những vấn đề đang nổi cộm. Ngoài ra, gần đây một số nghi vấn được đưa ra xung quanh vấn đề thực lực của kinh tế Trung Quốc. Đặc biệt có ý kiến cho rằng trình độ công nghiệp, công nghệ của Trung Quốc còn thua xa Nhật Bản và với cơ chế hiện nay Trung Quốc khó có thể theo kịp Nhật Bản, Mỹ về trình độ và chất lượng phát triển. Xem Gilboy (2004), Kwan (2005).

Ta không phủ nhận những vấn đề vừa nói nhưng việc phân tích, đánh giá thành quả của kinh tế Trung Quốc không phải là chủ đích của cuốn sách này.

Chương này chỉ tập trung phân tích những tác động của kinh tế Trung Quốc đối với ASEAN, thể hiện ở các mặt như: cạnh tranh tại các thị trường lớn trên thế giới, cạnh tranh tại thị trường nội địa và cạnh tranh trong việc thu hút FDI.

Cạnh tranh tại các thị trường lớn.

Sức mạnh công nghiệp của Trung Quốc đang tác động đến các nước ASEAN đã có một trình độ phát triển tương đối cao như Thái Lan, Malaixia, Philíppin và Inđônêxia (dưới đây gọi chung là ASEAN-4). Các nước này hiện nay đang đứng trước thách thức về sự thâm nhập của Trung Quốc tại các thị trường lớn như Nhật Bản và Mỹ.

Như Bảng 3.1 cho thấy, từ năm 1992 đến 2003 (hoặc 2004), vị trí của ASEAN-4 tại thị trường Mỹ và Nhật Bản không thay đổi đáng kể trong khi Trung Quốc tăng thị phần một cách rất ngoạn mục. Tại thị trường Nhật Bản, hàng vải vóc, may mặc nhập khẩu từ Trung Quốc chỉ có 4 tỷ yên vào năm 1990 nhưng đã tăng lên 1.800 tỷ yên vào năm 2000, làm cho tỷ lệ hàng Trung Quốc trong tổng nhập khẩu của Nhật đối với các mặt hàng này tăng từ 0,2% lên tới 68% trong thời gian đó. Vào năm 1990, Trung Quốc hầu như chưa xuất khẩu đồ điện gia dụng sang Nhật nhưng đến năm 2000 đã chiếm gần 30% tổng lượng nhập khẩu máy điều hoà không khí của nước này, thị phần tương ứng của máy giặt là 30%, tivi và video là 25%. Về các mặt hàng nhiệt điện gia dụng như bàn là, nồi cơm điện, v.v., từ năm 1990 đến năm 2000, thị phần của Trung Quốc trong tổng lượng nhập khẩu của Nhật Bản cũng tăng nhanh. Trong nhập khẩu của Mỹ về các mặt hàng đồ điện gia dụng, hiện nay Trung Quốc cũng chiếm một tỷ lệ rất lớn (xem thêm ).

Để dễ phân tích, ta chia hàng công nghiệp thành năm nhóm. Nhóm A là những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động giản đơn, như vải vóc, quần áo, giày dép, dụng cụ lữ hành, dụng cụ du lịch, v.v.. Nhóm B là những ngành vừa có hàm lượng lao động cao vừa dùng nhiều nguyên liệu nông lâm thuỷ sản như thực phẩm gia công các loại, đồ uống, v.v.. Nhóm C là những ngành có hàm lượng tư bản cao và dựa vào nguồn tài nguyên khoáng sản như thép, hoá dầu. Nhóm D là những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động lành nghề, lao động có kỹ năng cao với nhiều trình độ khác nhau, như đồ điện gia dụng, xe máy, máy bơm nước và các loại máy móc khác, bộ phận điện tử, linh kiện điện tử, v.v.. Nhóm E là những ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao như máy tính, xe hơi, máy công cụ, các linh kiện, bộ phận điện tử cao cấp, v.v..

Trên thị trường thế giới, so với ASEAN-4, Trung Quốc đang cạnh tranh mạnh trong các mặt hàng thuộc nhóm A. Những ngành thuộc nhóm B thì ASEAN còn giữ được lợi thế so sánh. Về nhóm C, cả Trung Quốc và ASEAN đều không xuất khẩu, chủ yếu sản xuất cho thị trường trong nước và nhìn chung còn kém hiệu suất. Về nhóm E, cả Trung Quốc và ASEAN còn yếu và đây là lĩnh vực đáng chú ý trong giai đoạn tới, liên quan đến khả năng phát triển của các nước này. Nhóm D là lĩnh vực đang diễn ra cạnh tranh gay gắt giữa Trung Quốc và ASEAN-4. Nhìn chung, ASEAN còn chiếm ưu thế, phần lớn là nhờ họ đã tích cực tiếp nhận FDI của Nhật Bản từ nửa sau thập niên 1980, qua đó củng cố được những cơ sở sản xuất và xuất khẩu. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng ngày càng củng cố vị trí trong lĩnh vực này. Chẳng hạn, tại thị trường Nhật, từ năm 1991 đến năm 2000, trong tổng nhập khẩu máy điều hoà không khí của nước này, thị phần của ASEAN giảm từ vị trí áp đảo 84% xuống còn 35%, trong khi Trung Quốc tăng từ vị trí không đáng kể (0,1%) đến 29%. Trong nhập khẩu máy giặt, ASEAN giảm từ 38% xuống 30%, còn Trung Quốc từ số không (0%) tăng lên 33%. Trong nhóm D, tại thị trường Nhật Bản, ASEAN còn giữ vị trí ưu thế trong các mặt hàng như tivi màu, máy tính và phụ tùng máy tính cá nhân, VCR, bộ vi xử lý (IC). Tại thị trường Mỹ, lợi thế so sánh về từng mặt hàng và vị trí hiện nay của ASEAN và Trung Quốc cũng giống như tại thị trường Nhật Bản.

Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO (tháng 11-2001), hàng công nghiệp Trung Quốc thâm nhập dễ dàng hơn vào thị trường nước ngoài vì các nước không còn đối xử phân biệt giữa hàng Trung Quốc với hàng nhập khẩu từ nước khác. Đặc biệt là Mỹ, thị trường lớn nhất của Trung Quốc (theo JETRO 2004, năm 2003 Mỹ chiếm 21% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này), ngay trước khi Trung Quốc gia nhập WTO, vào tháng 09-2000, đã đồng ý cho Trung Quốc vĩnh viễn hưởng quy chế tối huệ quốc (từ tháng 07-1998 gọi là quan hệ thương mại bình thường - normal trade relations). Trung Quốc cũng đã dễ dàng tiếp cận các thị trường EU và Nhật Bản. Từ năm 2002, Trung Quốc vượt Mỹ trở thành nước có thị phần lớn nhất trong tổng nhập khẩu của Nhật. . Mặt khác, việc gia nhập WTO cũng đang tạo điều kiện cho thị trường dịch vụ của Trung Quốc mở rộng cửa, nhất là dịch vụ xuất nhập khẩu, có tác động tích cực đến việc xuất khẩu của nước này vì FDI của các công ty thương mại quốc tế có nhiều kinh nghiệm trên thương trường và có mạng lưới thông tin rộng khắp trên thế giới, có khả năng tăng nhiều trong lĩnh vực thương mại. Một thuận lợi nữa mà Trung Quốc cũng đã có được là, với tư cách là thành viên của WTO, họ có một vị thế ngang hàng với các nước khác trong các vụ tranh chấp liên quan đến hoạt động xuất khẩu (ví dụ như gần đây, nhiều nước, nhất là Mỹ, thường tố cáo Trung Quốc bán phá giá (dumping) khi hàng xuất khẩu của nước này tăng mạnh). Nói chung, Trung Quốc sau năm 2001 đã có nhiều thuận lợi trong việc xuất khẩu vào thị trường thế giới. Xem thêm Đỗ Tuyết Khanh (2005), một tài liệu đánh giá nhiều mặt của kinh tế Trung Quốc sau bốn năm gia nhập WTO.

Trung Quốc tại thị trường ASEAN và ASEAN tại thị trường Trung Quốc

Hàng công nghiệp Trung Quốc cạnh tranh tại thị trường ASEAN như thế nào? Nhìn chung, Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu sang ASEAN với tốc độ nhanh hơn các thị trường khác. Chẳng hạn, từ năm 1992 đến năm 2002, xuất khẩu hàng công nghiệp của Trung Quốc sang tất cả các thị trường trên thế giới tăng 4,4 lần, trong khi xuất khẩu sang năm nước ASEAN (ASEAN-4 cộng với Xingapo) tăng bảy lần. Hiện nay, tỷ lệ trong tổng xuất khẩu hàng công nghiệp của Trung Quốc sang ASEAN còn nhỏ, mới chỉ gần 6% vào năm 2002, nhưng với đà tăng trưởng hiện nay, ASEAN sẽ trở thành thị trường quan trọng của Trung Quốc trong một tương lai không xa. Các số liệu này được tính từ ma trận mậu dịch ở Chương 4 (Bảng 4.2). . Khảo sát tình hình tại thị trường nội địa của ASEAN-4, ta thấy Trung Quốc chưa cạnh tranh được với hàng sản xuất tại bản xứ thuộc các nhóm B, C, D và E, nhưng cạnh tranh mạnh trong các mặt hàng thuộc nhóm A và từng bước xâm nhập thị trường của nhóm D. Trong nhóm D, nhất là sản phẩm đồ điện gia dụng, hàng nội địa ASEAN mà chủ yếu là do doanh nghiệp Nhật Bản sản xuất (xem Chương 9) hiện nay vẫn giữ ưu thế. Tuy nhiên, theo đánh giá của giới kinh doanh Nhật Bản tại Thái Lan và Malaixia, trong 3 năm đến 4 năm tới, nhãn hiệu Trung Quốc sẽ thâm nhập mạnh hơn vì hiện nay hàng Trung Quốc ngày càng được đánh giá tốt về phẩm chất và mẫu mã.

Với việc gia nhập WTO, Trung Quốc có cơ hội tăng năng lực cạnh tranh hơn nữa trong những ngành thuộc nhóm A và D, và sức ép Trung Quốc đối với ASEAN sẽ mạnh hơn. Về chi tiết, xem Trần Văn Thọ (2002). . Tuy vậy, mấy năm gần đây, các nước ASEAN-4 đã đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp sang Trung Quốc và đang tìm cách thâm nhập vào thị trường này hơn nữa.

Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, thuế quan nhập khẩu giảm nên hàng công nghiệp nước ngoài, kể cả ASEAN, thâm nhập dễ dàng hơn trước. Theo cam kết với Mỹ trong quá trình thương lượng để Trung Quốc gia nhập WTO, thuế quan bình quân của tất cả hàng công nghiệp phải giảm từ 24,6% năm 1997 xuống còn 9,4% vào năm 2005. Tất nhiên, tuỳ theo ngành công nghiệp mà mức thuế hiện hành và mức thuế dự kiến sau khi cắt giảm cũng khác. Máy tính và các loại máy móc liên quan đến internet thì mức thuế hiện hành (vào thời điểm năm 2002) là 13,3%, sẽ được cắt giảm toàn bộ và vào năm 2005 thuế suất sẽ là 0%. Các sản phẩm mà Mỹ đặc biệt quan tâm như gỗ chế biến, giấy, sản phẩm hoá học, máy móc liên quan đến y khoa,... phần lớn phải giảm còn 7% vào năm 2003. Thuế suất trong ngành xe hơi hiện nay rất cao, bình quân từ 80 đến 100%, sẽ cắt giảm dần và đến tháng 07-2006 sẽ còn 25%. Ngoài ra, Trung Quốc cũng phải từng bước bãi bỏ hàng rào phi thuế quan. Chẳng hạn, trong 115 mặt hàng công nghiệp gồm vải vóc, may mặc, đồ điện gia dụng, xe hơi... Trung Quốc đã áp dụng chính sách hạn chế số lượng nhập khẩu, nhưng để gia nhập WTO, Trung Quốc phải dần dần bãi bỏ hạn chế này sau một giai đoạn chuyển tiếp từ hai đến tám năm, hầu hết là đến năm 2005 phải bãi bỏ. Riêng về xe hơi, cho đến thời điểm gia nhập WTO, Trung Quốc nhập khẩu mỗi năm không quá hạn ngạch 6 tỷ USD, nhưng sau đó mỗi năm tăng từ 10 đến 15% và đến năm 2005 thì chấm dứt chế độ hạn ngạch này. Nội dung những cam kết của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO chủ yếu tham khảo từ Samejima và những người khác (2001) và Ebina và những người khác (2000). . Với cam kết này, thị trường Trung Quốc ngày càng rộng mở đối với hàng công nghiệp nước ngoài.

Như sẽ phân tích chi tiết hơn trong Chương 6, các nước ASEAN-4 đã thành công trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp sang Trung Quốc. Nhìn chung, quan hệ thương mại giữa ASEAN-4 với Trung Quốc là quan hệ thương mại hàng ngang (cùng xuất và nhập khẩu hàng công nghiệp với nhau).

Cạnh tranh trong việc thu hút FDI

Từ giữa thập niên 1980, FDI chảy ào ạt vào ASEAN-4, đặc biệt là Thái Lan và Malaixia. Vì cơ sở hạ tầng và nguồn cung cấp nhân lực không tăng kịp nhu cầu, nên từ sau năm 1997, FDI vào ASEAN có khuynh hướng giảm hoặc tăng chậm. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc, một thị trường lớn và là nguồn lao động phong phú, ngày càng ổn định về kinh tế vĩ mô và hành lang pháp lý, đã thu hút dần FDI từ hầu hết các nước tiên tiến và một số nước có người Hoa ở châu Á.

Theo Biểu đồ 3.2, cho đến năm 1992, FDI ròng là vốn FDI vào (FDI inflows) đã được thực hiện trừ đi vốn FDI ra (outflows) đã thực hiện và các khoản tiền lời đầu tư do công ty đa quốc gia chuyển về nước. chảy vào tám nước ASEAN (không kể Xingapo và Brunây) nhiều hơn là vào Trung Quốc nhưng sau cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á (1997), FDI vào ASEAN giảm liên tục, trong khi đó FDI vào Trung Quốc tăng với tốc độ rất nhanh, tạo ra một khoảng cách lớn giữa hai bên. Biểu đồ 3.2 vì thống kê đã trừ đi FDI đi ra và lợi nhuận chuyển ra nước ngoài nên không cho thấy rõ khuynh hướng thu hút FDI. Trong Biểu đồ 3.2, FDI là vốn đăng ký nên cho thấy khuynh hướng rõ hơn. Nhưng theo hình này, bức tranh từ năm 1998 trở đi cũng không khác Biểu đồ 3.3 nhiều.

Về việc Trung Quốc thu hút FDI, việc gia nhập WTO có hai tác động trái ngược. Một mặt, do hàng rào quan thuế và hàng rào phi thuế quan sẽ bị bãi bỏ hoặc hạ xuống mức thấp, nên doanh nghiệp nước ngoài sẽ đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc nhiều hơn trước. Những dự án FDI vào Trung Quốc nhằm mục đích tránh hàng rào thuế và phi thuế đồng thời được bảo hộ tại thị trường nội địa sẽ giảm đi và thay bằng xuất khẩu từ các căn cứ sản xuất ở ngoài Trung Quốc. Mặt khác, do các quy chế liên quan đến hoạt động của các công ty có vốn nước ngoài sẽ bị bãi bỏ, nhất là các quy chế liên quan đến hoạt động thương mại. Gọi là TRIM (Trade-Related Investment Measures). , nên FDI có khuynh hướng tăng lên. Chẳng hạn, nguyên tắc cân bằng ngoại tệ (phải xuất khẩu để có ngoại tệ nhập khẩu), yêu cầu phải mua nguyên liệu và sản phẩm trung gian tại bản xứ (gọi là local content) sẽ không còn áp đặt trên công ty có vốn nước ngoài. Do tình hình mới này, tháng 10-2000, Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã sửa đổi Luật công ty liên doanh với nước ngoài và Luật công ty vốn nước ngoài. Ngoài ra, trước sức cạnh tranh ngày càng tăng của hàng nhập khẩu, các công ty của Trung Quốc, nhất là các doanh nghiệp nhà nước, sẽ phải đổi mới thiết bị, công nghệ, đổi mới cơ chế quản lý để tăng sức cạnh tranh, và một trong những biện pháp là tích cực liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài. Từ đầu năm 2000, trước triển vọng gia nhập WTO, nhiều địa phương Trung Quốc đã đặt kế hoạch liên doanh với nước ngoài. Chẳng hạn, liên doanh sản xuất xe hơi với Toyota, sản xuất điện thoại di động với Motorola tại Thiên Tân, liên doanh khai thác chất bán dẫn với công ty Điện Mitsubishi tại Bắc Kinh, liên doanh sản xuất hoá chất với BASF (Đức) tại Nam Kinh... được xúc tiến. Theo Nikkei Shinbun, 21-04-2000 và 06-07-2000. . Đây cũng là yếu tố làm tăng FDI.

Tuy nhiên, dù có hai tác động trái ngược song nhìn chung tổng lượng FDI có khuynh hướng tăng lên vì hiệu quả thứ hai mạnh hơn. Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, dòng chảy của FDI vào nước này đã tăng mạnh. Vốn đăng ký FDI vào Trung Quốc đã tăng từ 69 tỷ USD vào năm 2001 lên 83 tỷ năm 2002, rồi 115 tỷ năm 2003 và 154 tỷ USD năm 2004.

FDI vào Trung Quốc ảnh hưởng trực tiếp đến ASEAN như thế nào? FDI có mục đích sản xuất để cung cấp cho thị trường trong nước thì không ảnh hưởng đến FDI vào ASEAN. Tuy nhiên, sẽ có sự cạnh tranh gay gắt giữa Trung Quốc và ASEAN trong việc thu hút FDI có mục đích sản xuất để xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản và các nước thứ ba khác. Ở Trung Quốc, một phần không nhỏ FDI hướng vào thị trường nội địa, nhưng FDI hướng vào xuất khẩu cũng lớn và do đó sẽ là áp lực mạnh đối với ASEAN vì các lý do sau: Thứ nhất, FDI tại Trung Quốc ngày càng giữ một vai trò quan trọng trong xuất khẩu của nước này. Hiện nay, như đã đề cập, hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc là do hoạt động của các công ty có vốn nước ngoài. Dù cho thị trường nội địa rộng lớn, Trung Quốc vẫn có ưu thế là căn cứ sản xuất hàng công nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là những đặc khu kinh tế, những khu phát triển ven biển. Do đó, không thể đánh giá thấp luồng FDI vào Trung Quốc nhằm sản xuất cho thị trường các nước thứ ba. Hiện nay, các mặt hàng máy móc, điện tử ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong ngoại thương của thế giới và các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng chọn Trung Quốc là căn cứ sản xuất các mặt hàng này. Trên thực tế, các mặt hàng đó cũng ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng xuất khẩu của các công ty có vốn nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc. Theo Jiang Xiaojuan (2001), tỷ trọng đó tăng từ 44% năm 1996 lên 52% năm 1999. . Thứ hai, như đã đề cập, dưới sức ép của hàng nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp nhà nước phải tăng sức cạnh tranh bằng cách hợp tác hơn với các doanh nghiệp nước ngoài dưới nhiều hình thức. Thứ ba, như Biểu đồ 3.3 cho thấy, dòng chảy FDI vào Trung Quốc đã gấp năm lần so với dòng chảy vào ASEAN, do đó cho dù trong tổng FDI vào Trung Quốc, chỉ có 1/3 là hướng vào xuất khẩu, nhưng nó cũng trở thành một lực lượng mạnh hơn toàn dòng chảy FDI vào ASEAN.

Như vậy, trong thập niên 1990, dòng chảy FDI vào châu Á đã chuyển từ ASEAN sang Trung Quốc và khuynh hướng đó càng mạnh hơn trong những năm đầu của thế kỷ 21.

Đối sách của ASEAN

Như vậy, có thể thấy thách thức của Trung Quốc đối với ASEAN là rất lớn. Để giảm ảnh hưởng của thách thức và tranh thủ cơ hội trước thị trường mở rộng của Trung Quốc, nhiều nước ASEAN đã đưa ra các chiến lược đối phó. Đặc biệt, chiến lược của Thái Lan rất đáng chú ý. Ở đây ta không thể đi vào chi tiết về từng nước. Về Thái Lan ( xem Chương 5) . Phương hướng chiến lược đối phó của ASEAN nhìn chung có ba điểm sau:

Thứ nhất, trong những ngành có hàm lượng lao động cao mà hiện nay cả Trung Quốc và ASEAN đang cạnh tranh tại thị trường ở các nước thứ ba, ASEAN một mặt nhanh chóng tăng năng suất lao động để giữ cho tiền lương năng suất. Efficiency wage, tức tiền lương danh nghĩa chia cho năng suất lao động. ở mức thấp và mặt khác, tăng hàm lượng tri thức trong sản phẩm tiiêu thụ cuối cùng để tạo nên những mặt hàng có nét độc đáo. Chẳng hạn, tăng tính thời trang trong hàng may mặc, nhấn mạnh sự quan trọng của kiểu dáng, sự tiện dụng trong sản phẩm tạp hoá, đồ dùng trong nhà, trong văn phòng, v.v..

Thứ hai, nỗ lực chuyển dịch cơ cấu công nghiệp nhanh chóng xác lập lợi thế so sánh trong những ngành liên quan đến máy móc. Phạm vi các ngành này rất rộng và có thể chia làm hai nhóm chính có vị trí ngày càng quan trọng trong ngoại thương và phân công lao động quốc tế. Nhóm thứ nhất là các loại máy móc dùng trong gia đình và văn phòng như công nghệ thông tin phần cứng (máy tính, điện thoại di động, máy in, máy fax, linh kiện và bộ phận điện tử...), đồ điện, điện tử gia dụng. Như đã phân tích, Trung Quốc và nhiều nước ASEAN như Malaixia và Thái Lan cùng ở trong quá trình tăng lợi thế so sánh trong nhóm này. Chiến lược của ASEAN là tạo môi trường để tiếp tục thu hút FDI. Nhóm thứ hai là các loại máy móc cao cấp có hàm lượng công nghệ rất cao như xe hơi, máy công cụ, máy kỹ thuật số, người máy... Các loại máy móc này Trung Quốc sẽ nhập khẩu nhiều, nhưng trước mắt, Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan... đang có lợi thế và sẽ là những nơi xuất khẩu chính. Tuy nhiên, ASEAN cũng cố gắng tạo điều kiện để các công ty đa quốc gia chọn làm căn cứ sản xuất một số bộ phận của các loại máy móc đó.

Thứ ba, để thu hút FDI nhiều hơn, nhiều nước ASEAN đang cố gắng cải thiện các điều kiện về mặt cung cấp của nền kinh tế như lao động, cơ sở hạ tầng... Theo nhiều nhà đầu tư nước ngoài, từ thập niên 1990, nhiều nước ASEAN thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ lao động có kỹ năng cao gây trở ngại cho việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư của họ. Đặc biệt, trên thị trường lao động, lao động giản đơn thì dư thừa quá nhiều trong khi kỹ sư nhà máy và các chuyên viên có trình độ cao trong các ngành khoa học tự nhiên thì cung không đủ cầu nên tiền lương rất cao, khiến cho môi trường đầu tư tại ASEAN kém hấp dẫn. Đặc biệt, đáng lưu ý là Trung Quốc đã đi trước nhiều nước ASEAN trong việc giải quyết vấn đề này. Chẳng hạn, cứ một triệu dân thì Trung Quốc có 350 kỹ sư hoặc nhà khoa học, trong khi Thái Lan chỉ có 119 và Malaixia còn ít hơn (chỉ có 87). Theo Yusuf and Evenett (2002). Theo điều tra của Trung tâm JETRO tại Băng Cốc, hiện nay hằng năm Trung Quốc đào tạo 41 vạn sinh viên các ngành khoa học tự nhiên như cơ khí, điện tử, vật lý và toán (nghĩa là trung bình 3.000 dân có một sinh viên ngành này), trong khi Thái Lan chỉ có 1 vạn ( phải 6.000 dân mới có một sinh viên ). Nihon Keizai Shinbun, ngày 31-05-2001. Xem thêm Đỗ Tuyết Khanh (2005) về thành quả gần đây của Trung Quốc trong việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. .

3.3. Thách thức đối với Việt Nam

Như sẽ phân tích trong Chương 6, khác với ASEAN-4, quan hệ ngoại thương của Việt Nam với Trung Quốc là quan hệ hàng dọc (vertical trade). Nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc chủ yếu là hàng công nghiệp trong khi Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là nguyên liệu, nông lâm thuỷ sản. Nguyên nhân của tình trạng này là do Trung Quốc trong thời gian ngắn đã thành công trong việc trở thành “công xưởng thế giới” trong khi tốc độ công nghiệp hoá của ta chậm hơn và ít hiệu quả hơn (cơ cấu xuất khẩu hàng công nghiệp chuyển dịch chậm vì năng lực cạnh tranh còn giới hạn trong một vài ngành có hàm lượng lao động giản đơn cao). Quan hệ ngoại thương hàng dọc kéo dài cho đến nay chứng tỏ Việt Nam chưa tận dụng được cơ hội thị trường do kinh tế Trung Quốc mang lại, ngược lại, thách thức của Trung Quốc đối với quá trình công nghiệp hoá của ta sắp tới là rất lớn.

Ngoài yếu tố này, diễn tiến của tình hình khu vực châu Á gần đây cho thấy thách thức từ Trung Quốc có thêm một nội dung mới: Chiến lược của Trung Quốc đối với AFTA. Sau năm 2003, các nước ASEAN-4 thực hiện những cam kết về giảm thuế đối với hàng nhập khẩu từ các nước thành viên và như vậy, Trung Quốc sẽ bất lợi so với các nước ASEAN trong việc xuất khẩu sang thị trường này. Để tránh tình hình đó, nhiều công ty Trung Quốc đã bắt đầu tích cực đầu tư sang các nước ASEAN để lách khỏi hàng rào thuế quan mà hàng sản xuất tại Trung Quốc phải trực diện. Hiện nay, Việt Nam là một địa điểm đầu tư quan trọng của Trung Quốc với mục đích này. Từ năm 1999, công ty TCL của Trung Quốc đã sản xuất tivi màu tại Việt Nam, mục tiêu đến năm 2004 sẽ chiếm 20% thị trường nội địa (năm 2000 là 4%) và từng bước xuất khẩu sang các nước ASEAN khác. Theo Maruya và Ishikawa (2001). Hiện nay (tháng 08-2005) tôi chưa có số liệu để kiểm chứng mục tiêu năm 2004 của TCL. . Trong chiến lược dài hạn, Trung Quốc muốn kết hợp với ASEAN thành một thị trường thống nhất qua việc ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Chương 6 sẽ phân tích. Chương 6 sẽ cho thấy thách thức của Trung Quốc càng mạnh hơn. Nói chung, thách thức từ sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc đối với Việt Nam sẽ mạnh hơn nhiều so với các nước ASEAN khác.

Đối sách của Việt Nam là phải phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn với chất lượng cao hơn Trung Quốc. Trong hơn 10 năm qua, kinh tế Việt Nam phát triển với tốc độ khá cao, nhưng như Biểu đồ 3.1 cho thấy, trong 20 năm qua, hầu như lúc nào kinh tế Trung Quốc cũng phát triển nhanh hơn Việt Nam nên hiện nay giữa ta với Trung Quốc có một khoảng cách khá lớn. Bảng 3.2 cho thấy hiện nay tổng thu nhập đầu người của Việt Nam mới bằng khoảng một nửa Trung Quốc, một nước có số dân đông gấp 16 lần nước ta và bao gồm cả một vùng phía Tây rộng lớn còn rất nghèo. Xét riêng về trình độ công nghiệp hoá, khoảng cách giữa hai nước cũng lớn. Kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp tính trên đầu người của Trung Quốc gấp 2,2 lần Việt Nam hiện nay và các loại máy móc chỉ chiếm 8% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam (xem Bảng 2.4, Chương 2), trong khi con số tương ứng của Trung Quốc là trên 40%.

Thử so sánh Việt Nam với riêng tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc, một tỉnh có nhiều điều kiện địa lý và dân số gần giống nước ta, ta thấy sự cách biệt càng lớn hơn nhiều. Về dân số, tỉnh Quảng Đông (73 triệu vào giữa năm 2003) và Việt Nam gần như nhau. Cả hai cùng có bờ biển dài tiếp cận dễ dàng với thị trường và công nghệ của vùng năng động tây Thái Bình Dương. Bảng 3.2 cho thấy, nếu tính trên đầu người, tỉnh Quảng Đông có mức tổng thu nhập bình quân cao gấp 3,5 lần Việt Nam và kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp lớn gấp 20 lần nước ta. Ngoài ra, bình quân trong ba năm 1999 - 2001, mỗi người dân Trung Quốc tiếp nhận kim ngạch đầu tư nước ngoài (FDI) nhiều gần gấp đôi người Việt Nam. Nếu tính theo vốn đăng ký FDI năm 2004, kim ngạch trên đầu người của Trung Quốc là 120 USD, gấp 4,3 lần Việt Nam (28 USD). Tính riêng tỉnh Quảng Đông, kim ngạch tiếp nhận FDI đầu người (bình quân 1999-2001) gấp 7,6 lần Việt Nam. Vì FDI hiện nay sẽ làm tăng công suất sản xuất và nhất là tăng sức cạnh tranh trong tương lai nên tình hình hiện tại cho thấy ta sẽ tiếp tục đi chậm hơn Trung Quốc rất nhiều.

Một điểm nữa đáng nêu ra ở đây là phát triển của ta hiện nay kém hiệu suất vì chưa phát huy lợi thế so sánh, và còn dựa vào vốn đầu tư từ ngân sách và vốn vay ưu đãi từ nước ngoài. Viện trợ nước ngoài tiếp tục tăng trong tình hình FDI mới bắt đầu hồi phục sau một thời gian dài giảm sút là điều đáng lo ngại. Trong lúc đó Trung Quốc phát triển mạnh mẽ và hiệu suất cao hơn nhiều vì dựa vào tư bản tư nhân và vốn đầu tư trực tiếp (FDI), phản ảnh trong việc ngày càng xuất khẩu mạnh mẽ hàng công nghiệp. Nếu không có sự chuyển hướng chiến lược và mạnh dạn cải cách, Việt Nam sẽ tụt hậu xa hơn nữa.

Chương 4: Triển vọng về cộng đồng kinh tế Đông Á

Trong mấy năm gần đây, tại vùng Đông Á, những chuyển động xung quanh vấn đề Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement, FTA) trở nên nhộn nhịp. Tại sao như vậy? FTA sẽ tác động như thế nào đến kinh tế và ngoại thương ở khu vực này?

Trong quá trình hình thành các FTA, cộng đồng Đông Á sẽ được triển khai như thế nào?

Mục đích của chương này là trả lời các câu hỏi trên và đặc biệt làm rõ vị trí của ASEAN trong trào lưu xây dựng những khu vực tự do thương mại tại vùng Đông Á, đồng thời đặc biệt bàn đến vị trí và chiến lược cần có của Việt Nam trước trào lưu chung này.

4.1. Tiến triển của các FTA song phương và đa phương tại Đông Á

Từ đầu thập niên 1990, song song với xu thế toàn cầu hoá (globalization), chủ nghĩa khu vực (regionalism) cũng phát triển mạnh. Trước đây, hình thái cụ thể của chủ nghĩa khu vực là khu vực thương mại tự do (free trade area) nhưng từ thập niên 1990, hình thái phổ biến là FTA, song phương hoặc đa phương. FTA có phạm vi hợp tác rộng, không giới hạn trong việc thực hiện thương mại tự do mà còn xúc tiến tự do hoá đầu tư, hợp tác chuyển giao công nghệ, hiệu suất hoá thủ tục hải quan và nhiều dịch vụ khác.

Tính đến thời điểm ngày 1-5-2004, FTA trên thế giới đã lên đến con số 107, trong đó có đến 66 hiệp định được ký kết từ sau năm 1995. Theo tính toán của JETRO sau khi loại trừ những FTA đã ký giữa những thành viên của EU. . Ngược lại với trào lưu chung này, tại Đông Á, chủ nghĩa khu vực phát triển chậm. Cho đến nay mới chỉ có vài hiệp định đã được ký kết. Có một số lý do giải thích tình hình này. Một là, do chiến tranh lạnh kéo dài, do sự khác biệt về thể chế kinh tế và do những vấn đề lịch sử để lại, các nước có nền kinh tế lớn như Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc không tích cực tìm kiếm một định chế hợp tác. Hai là, do chính sách ngoại giao kinh tế của Nhật Bản có truyền thống nhấn mạnh quan hệ đa phương trên quy mô toàn cầu thông qua các định chế quốc tế như GATT (Hiệp định chung về thuế quan và thương mại) trước đây và WTO (Tổ chức Thương mại thế giới) hiện nay.

Trong vài chục năm qua, dù không có những định chế thỏa thuận giữa các nước trong vùng song các nền kinh tế tại Đông Á vừa phát triển nhanh vừa ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau thông qua hoạt động thương mại và đầu tư. Như đã thấy ở Chương 2, trong mấy chục năm qua, công nghiệp hoá tiến hành rất nhanh tại khu vực này, phản ảnh trong tỷ lệ tăng nhanh của hàng công nghiệp trong tổng xuất khẩu. Bảng 4.1 cũng cho thấy các nước ở vùng này ngày càng cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới. Thị phần của các nước trong vùng trong tổng xuất khẩu hàng công nghiệp của thế giới tăng gấp đôi, từ 18% năm 1980 đến 39% năm 2002. Đặc biệt NIEs, ASEAN và Trung Quốc đều tăng thị phần đáng kể. Trong giai đoạn này, thị phần của Nhật giảm vì đã tăng nhanh trong thời gian trước đó (từ 4,2% năm 1955 tăng lên 10% năm 1975). Xem Trần Văn Thọ (1997). . Bảng 4.2 trình bày ma trận thương mại của ASEAN và các nước lớn trong vùng Đông Á. Từ thông tin trong Bảng 4.2 ta có thể thấy dễ dàng rằng các nước Đông Á đã tăng mạnh kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp sang các nước nội vùng với tốc độ cao hơn nhiều so với xuất khẩu sang toàn thế giới. Chẳng hạn, từ năm 1992 đến 2002, tổng xuất khẩu của vùng Đông Á (ASEAN+3) tăng 1,9 lần trong khi xuất trong nội vùng tăng 2,6 lần. Riêng Trung Quốc xuất khẩu ra thế giới tăng 4,4 lần nhưng sang các nước trong vùng Đông Á tăng 7 lần. Con số tương tự của ASEAN là 2,7 lần và 3,2 lần. Phân tích ở Chương 2 cũng đã cho thấy khuynh hướng tập trung thương mại trong nội bộ vùng Đông Á.

Như vậy, cho đến nay, dù không có một định chế hợp tác, song kinh tế Đông Á trên thực tế đã được kết hợp thành một khối (de facto integration) và sự kết hợp này được thực hiện qua cơ chế thị trường (market-led integration).

Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1990, các nước Đông Á kể cả Nhật Bản đã tích cực trong việc xây dựng một định chế hợp tác khu vực vì hai lý do. Thứ nhất, cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu Á cho thấy cần có một định chế hợp tác khu vực để ngăn ngừa những bất ổn tương tự. Thứ hai, song song với sự bế tắc trong các vòng đàm phán do WTO chủ truơng, chủ nghĩa khu vực đã phát triển mạnh tại nhiều nơi khác trên thế giới và thúc đẩy các nước Đông Á chuyển hướng theo trào lưu chung này.

Không kể AFTA (Khu vực thương mại tự do ASEAN), thành lập năm 1992, tại Đông Á, FTA mới được bắt đầu bàn đến từ năm 1999 bằng sự kiện Nhật Bản và Hàn Quốc thoả thuận cùng nghiên cứu khả năng và hiệu quả của một FTA giữa hai nước. Hiện nay, hai nước vẫn chưa đi đến một sự thoả thuận cụ thể nhưng sự kiện này đã châm ngòi cho những thảo luận, những đề án về FTA rất sôi nổi tại Đông Á. Theo đó, Nhật Bản và Xingapo bắt đầu thảo luận từ tháng 11-1999 và đã ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế (Japan - Singapo Economic Partnership Agreement, JSEPA) vào tháng 1-2002. Hiệp định này không giới hạn ở tự do thương mại mà còn nhắm đến việc đẩy mạnh đơn giản hoá, thông thoáng hoá các thủ tục giao dịch, và cùng xúc tiến hợp tác với các nước đang phát triển. Tự do thương mại cũng không giới hạn trong hàng hoá hữu hình mà còn trong các lĩnh vực dịch vụ như đầu tư, di chuyển lao động, v.v... Do phạm vi hợp tác khá rộng này, nên hiệp định này không gọi là FTA mà là Hiệp định hợp tác kinh tế (EPA) Nhật - Xingapo. Ngoài FTA và EPA, còn một khái niệm nữa là RTA (Regional Trading Agreement). RTA có phạm vi nhỏ hơn EPA nhưng tác động lại sâu hơn vì có đặc tính của một đồng minh về thuế quan (custom union), nghĩa là các bên ký kết hiệp định đó có cùng một chính sách thuế quan đối với các nước bên ngoài hiệp định.

Cũng vào thời điểm Nhật Bản và Xingapo ký kết JSEPA, Thủ tướng Nhật Bản Koizumi đề xướng xây dựng Quan hệ đối tác toàn diện Nhật Bản ASEAN (Japan-ASEAN Comprehensive Economic Partnership) và tháng 11-2002; lãnh đạo 10 nước ASEAN đã đồng ý sẽ bàn thảo về đề án này. Đặc biệt, Nhật Bản tỏ ra tích cực sau khi Trung Quốc đưa ra đề án lập FTA với 10 nước ASEAN vào tháng 11-2001. Cuối cùng Nhật Bản và ASEAN đã thoả thuận bắt đầu thương lượng vào tháng 05-2005 và, vào tháng 09-2004 hai bên đã cam kết sẽ đi đến một thoả thuận sau hai năm đàm phán. Tuy nhiên, cam kết này không được ghi vào bản thông báo chung của hội nghị cấp cao Nhật Bản - ASEAN tại Viêngchăn tháng 11-2004, cho thấy trước mắt hai bên khó có thể đi đến một thoả thuận. Theo báo Asahi ngày 01-12-2004, trong nội bộ Chính phủ Nhật Bản có người phản đối việc định ra một mốc thời gian nhất định cho việc ký kết hiệp định Nhật - ASEAN vì sợ Nhật phải sớm chịu những nhượng bộ liên quan đến nông phẩm nhập khẩu từ ASEAN. .

Quan hệ giữa Hàn Quốc và ASEAN đã có một sự tiến triển cụ thể. Tại Viêngchăn (tháng 11-2004), lãnh đạo hai bên đã thỏa thuận sẽ bắt đầu thương lượng trong năm 2005 để trong năm 2006 có thể ký kết FTA. Cũng theo kết quả của hội nghị ở Viêngchăn, hai bên sẽ cố gắng để đến năm 2009 xoá bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan cho ít nhất 80% mặt hàng. Tại đây, Hàn Quốc (cùng với Nga. đã ký tham gia Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á, đồng thời đẩy mạnh hợp tác kinh tế với ASEAN. Cụ thể là Hàn Quốc sẽ tăng Quỹ hỗ trợ những dự án Hàn Quốc - ASEAN từ 1 triệu lên 3 triệu USD, và sẽ xuất thêm 5 triệu USD để đẩy mạnh những nỗ lực nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển trong khối ASEAN.

Về FTA song phương, tiến triển khá nhanh và cụ thể là quan hệ Nhật Bản-Philíppin. Tại Viêngchăn ngày 29-11-2004, lãnh đạo hai nước đã đồng ý sẽ ký kết một hiệp định liên minh kinh tế mà FTA là nội dung chính. Ngoài việc giảm thuế quan hàng công nghiệp và nông lâm thuỷ sản, hiệp định còn bao gồm những điều khoản về mở rộng thị trường lao động. Hai bên sẽ chuẩn bị để ký kết và thực hiện hiệp định trong năm 2006. Khi hiệp định có hiệu lực, Nhật Bản sẽ bãi bỏ ngay hàng rào quan thuế cho tất cả các loại hàng công nghiệp, trừ hai mặt hàng da và giày, đồng thời lập tức bãi bỏ hàng rào quan thuế đối với hàng dệt may, những linh kiện bộ phận cao cấp trong xe hơi và đồ điện gia dụng. Philíppin cũng giảm thuế nhập khẩu xuống 0% trước năm 2010 đối với xe hơi và trong vòng 10 năm đối với sản phẩm điện, điện tử. Khác với hàng công nghiệp, Nhật Bản thận trọng hơn trong việc tự do hoá những mặt hàng liên quan đến nông lâm thuỷ sản. Nhật Bản sẽ bỏ quan thuế trong vòng 5 năm đối với cá hồi nhập khẩu và 10 năm đối với chuối nhập từ Philíppin, nhưng những mặt hàng khác thì sẽ định sau, có lẽ với một thời khoá biểu chặt chẽ và một thời gian tự do hoá lâu dài hơn.

Ngoài Philíppin, hiện nay Nhật Bản đang thương lượng với Thái Lan, Malaixia và Inđônêxia để hướng đến việc ký kết FTA song phương trong tương lai gần. Vào ngày 1-9-2005, Thủ tướng hai nước Nhật Bản và Thái Lan đã thoả thuận các điều khoản cơ bản để giữa năm 2006 có thể ký kết một hiệp định hợp tác kinh tế mà FTA là trọng tâm. Theo thoả thuận này, cho đến năm 2011, Thái Lan sẽ bãi bỏ thuế nhập khẩu linh kiện, bộ phận xe hơi từ Nhật (hiện nay là từ 15 đến hơn 30%), bãi bỏ thuế nhập thép trong vòng 10 năm, thuế nhập xe hơi nguyên chiếc cũng giảm từng bước. Phía Nhật tức thời bãi bỏ thuế nhập tôm, trái cây nhiệt đới, trong vòng 5 năm giảm thuế thịt gà gia công từ 6% xuống 3%, nới rộng thời gian cư trú của đầu bếp người Thái; hợp tác kỹ thuật giúp phát triển ngành xe hơi và ngành thép của Thái, v.v... Hàn Quốc và Xingapo cũng đã bắt đầu quá trình thương lượng.

Tại Đông Bắc Á, triển vọng về việc hình thành một FTA song phương Nhật Bản với Trung Quốc hoặc Nhật Bản - Hàn Quốc, hay Trung Quốc - Hàn Quốc có lẽ còn khá xa. Ngoài bối cảnh phức tạp về lịch sử, gần đây những tranh chấp về lãnh thổ cũng làm quan hệ giữa các nước phức tạp thêm. Trung Quốc bất bình với việc Thủ tướng Koizumi đi lễ bái ở đền Yasukuni (nơi thờ cúng cả những tội nhân gây chiến tranh trong Chiến tranh thế giới thứ hai) nên sự giao lưu cấp nguyên thủ quốc gia bị ngưng lại từ nhiều năm nay. Giữa Hàn Quốc và Nhật Bản gần đây lại có vụ tranh chấp về chủ quyền của hòn đảo Takeshima. Chỉ thuần về kinh tế, vấn đề FTA giữa Hàn Quốc và Nhật Bản cũng đang gặp khó khăn: Hàn Quốc lo ngại hàng công nghiệp của Nhật Bản sẽ tràn vào và nhập siêu của nước này sẽ tăng nhanh, ngược lại Nhật Bản lo là hàng nông phẩm của Hàn Quốc sẽ ảnh hưởng đến nông dân của họ.

Trong tình hình đó, FTA đa phương tại Đông Bắc Á càng không có tính khả thi. Tuy lãnh đạo Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc đã ra tuyên ngôn chung sau buổi họp thượng đỉnh tháng 10-2003 tại Bali là sẽ hướng tới việc lập FTA gồm ba nước Đông Bắc Á này nhưng cho đến nay không thấy có tiến triển gì thêm.

Trong khi đó, nỗ lực hướng tới một cộng đồng Đông Á gồm ASEAN và ba nước Đông Bắc Á thì có tiến triển cụ thể hơn. Tại Viêngchăn vào tháng 11-2004, các nước này đã quyết định cuối năm 2005 sẽ họp hội nghị thượng đỉnh đầu tiên, với tính chất là hội nghị toàn vùng Đông Á, tại Cuala Lămpơ. Cho đến nay, hằng năm đã có nhiều hội nghị thượng đỉnh của 10 nước ASEAN và ba nước Đông Bắc Á nhưng tất cả đều do ASEAN mời trong khuôn khổ ngoại giao của khối này. Hội nghị ở Cuala Lămpơ sắp tới do đó có tầm quan trọng đặc biệt và được dư luận châu Á và thế giới chú ý.

Nhìn chung, những tiến triển về FTA tại Đông Á cho đến nay có đặc điểm là xoay quanh các nước ASEAN. Đặc biệt, Nhật Bản và Trung Quốc đã tranh nhau đưa ra đề án FTA song phương giữa ASEAN với mình, do đó tại vùng này đang từng bước hình thành các thể chế ASEAN+1.

Riêng về ASEAN, từ nửa sau thập kỷ 1990, khối này đã trực diện nhiều vấn đề mới: ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ châu Á, sự xuất hiện mạnh mẽ của kinh tế Trung Quốc, và sự gia tăng nhiều thành viên mới. Các vấn đề này đã mở ra một cục diện mới đối với ASEAN. Khủng hoảng tiền tệ đã cho thấy hạn chế của tổ chức ASEAN trong việc gìn giữ sự ổn định kinh tế trong khu vực và gây ra những khó khăn nhất định đối với nền kinh tế các nước này. Cuộc khủng hoảng tiền tệ cũng đã làm lịch trình thực hiện AFTA của các nước thành viên bị chậm lại. Sự xuất hiện của Trung Quốc đã khiến cho sức cạnh tranh của các nước ASEAN tại những thị trường chính như Mỹ, Nhật Bản bị yếu đi và nhất là làm cho dòng chảy đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) chuyển hướng. Về chi tiết, xem lại Chương 3. .

Những tác động trên đã làm cho khoảng cách về sức cạnh tranh và mức độ mở cửa thị trường giữa các thành viên trong khối ASEAN ngày càng lớn. Điển hình là giữa Xingapo với các nước khác. So với các thành viên khác, Xingapo vừa là một nền kinh tế mở vừa ít bị ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ nên đã không bằng lòng với tiến độ thực hiện AFTA sau khi có khủng hoảng tài chính tại châu Á và đã tích cực ký kết hiệp định tự do thương mại song phương với các nước ngoài khu vực. Các nước thành viên khác của ASEAN lo lắng về hiệu quả chuyển hoán thương mại (trade diversion effect). Đây là hiệu quả xảy ra đối với nước C khi hai nước A và B thành lập khu thương mại tự do mà C không phải là thành viên. Xuất khẩu của C sang A và B bị giảm vì thuế quan của A và B đối với hàng nhập từ C vẫn như cũ trong khi giũa A và B không còn thuế. tại những nước ký kết FTA với Xingapo nên đã có những hành động tương tự đối với những đối tác trong FTA của Xingapo nhằm ngăn ngừa hiệu quả đó. Đặc biệt, Thái Lan đẩy mạnh việc triển khai FTA với Nhật Bản và các nước khác. Philíppin, Malaixia và Inđônêxia cũng tỏ ra tích cực. Trong bối cảnh đó, ta có thể hiểu được ngay tại sao Philíppin và Thái Lan đã có thái độ tích cực đáp lại đề nghị của Trung Quốc, chấp nhận việc sớm tự do hoá thương mại đối với những mặt hàng nông sản trước khi mục tiêu chung cho các sản phẩm khác sẽ được thực hiện vào năm 2010 đối với các thành viên cũ và năm 2015 đối với các thành viên mới của ASEAN (xem Chương 6).

Do đó, nhìn chung, “vẫn nói chuyện hợp tác khu vực nhưng lại hành động song phương với các nước ngoài khu vực” (talking regional, acting bilateral), một cách nói khá phổ biến gần đây tại các nước ASEAN, đã trở thành đặc trưng của các nước ASEAN từ những năm cuối thập kỷ 1990.

Những FTA song phương có phạm vi hợp tác rộng nên có thể kỳ vọng là nó sẽ thúc đẩy một cách trực tiếp, nhanh chóng những hiệu quả động làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển hiệu suất hơn. Hơn nữa, việc ký kết những hiệp định thương mại song phương mới như với Trung Quốc hay Nhật Bản sẽ có tác dụng nâng cao sự hợp tác trong khu vực Đông Á, và góp phần thúc đẩy quá trình hình thành thể chế ASEAN+3 trong tương lai. Từ cách phân tích này, ta thấy xu hướng mở rộng hợp tác song phương giữa các thành viên ASEAN với các nước ngoài tổ chức hoặc giữa toàn khối ASEAN với các nước là đáng khẳng định.

4.2. Bàn về khả năng thiết lập cộng đồng Đông Á trong tương lai

Kinh tế các nước khu vực Đông Á ngày càng phụ thuộc lẫn nhau qua đầu tư và thương mại. Độ phụ thuộc vào thương mại trong nội bộ của khu vực Đông Á (tỷ lệ kim ngạch thương mại nội bộ trong tổng thương mại của khu vực này đối với thế giới) tăng từ 33,6% năm 1980 lên 51,2% năm 2002. Xét tình hình xuất khẩu của từng nước, ma trận mậu dịch (Bảng 4.2) đã đề cập trong phần trước cũng cho thấy khuynh hướng đó. Như vậy, cho đến nay, dù không có một cơ chế hợp tác chặt chẽ, song kinh tế các nước ở vùng này cũng đã gắn bó mật thiết với nhau qua cơ chế thị trường.

Đồng thời với khuynh hướng đó, như đã phân tích ở các phần trước, trào lưu gần đây cho thấy nhiều nỗ lực nhắm tới việc hình thành các cơ chế hợp tác khu vực mà FTA là trọng tâm. Xoay quanh những nỗ lực này trong liên quan đến khả năng hình thành một cộng đồng Đông Á, ta thấy có hai vấn đề cần được chú ý:

Thứ nhất, trong dài hạn, để thực hiện cộng đồng Đông Á, những bước phát triển (process) sắp tới nên được triển khai như thế nào? Theo ý kiến của tác giả, phương án khả thi phải là từng bước một bắt đầu từ hai mũi: mũi xuất phát từ ASEAN và mũi xuất phát từ một trong ba nước lớn ở Đông Bắc Á (Nhật Bản - Hàn Quốc, Trung Quốc - Hàn Quốc, Nhật Bản - Trung Quốc rồi đến Nhật Bản - Trung Quốc - Hàn Quốc). Hai mũi này sẽ gặp nhau, kết hợp lại để tạo ra một cộng đồng kinh tế chung ở khu vực này. Mũi ASEAN tiến hành với từng nước ở Đông Bắc Á (tức ASEAN+1). Hiện nay FTA giữa ASEAN và Trung Quốc đã được ký kết. Trong tương lai gần, ASEAN với Nhật Bản, sau đó là ASEAN với Hàn Quốc cũng sẽ có những hợp tác tương tự. Mũi ASEAN xem như không có vấn đề gì lớn. Nhưng mũi thứ hai có lẽ không đơn giản vì như đã nói, bối cảnh lịch sử, chính trị đang làm trở ngại, chí ít là làm chậm trễ, quá trình thiết lập những cơ chế hợp tác kinh tế. Có lẽ ít nhất là trong trung hạn (5 - 6 năm tới) sẽ không thấy được những tiến triển cụ thể về mũi xuất phát từ Đông Bắc Á.

Thứ hai, trong quá trình hướng tới cộng đồng Đông Á, một vấn đề nữa là làm sao để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước và giảm những tác động quá mạnh do sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc. Tuy mục tiêu của việc hình thành một cộng đồng là tạo điều kiện hợp tác để cùng phát triển song các nước còn ở trình độ phát triển thấp phải nhanh chóng hội đủ các tiền đề mới tham gia có hiệu quả vào khuôn khổ hợp tác đó. Như sẽ phân tích ở Chương 6, chương trình tự do hoá thương mại trong khuôn khổ FTA giữa ASEAN và Trung Quốc đặc biệt gây tác động đối với các thành viên mới của ASEAN. Sự trỗi dậy quá nhanh của kinh tế Trung Quốc cũng gây một số khó khăn nhất định cho quá trình tái cơ cấu công nghiệp của cả các thành viên ASEAN cũ như Thái Lan, Philíppin. Do đó, vai trò của Nhật Bản, một nước công nghiệp tiên tiến có nền kinh tế lớn nhất khu vực, được xem là rất quan trọng. Việc chuyển giao công nghệ, bí quyết quản lý, kinh doanh và hợp tác tri thức từ Nhật Bản sẽ giúp các nước ASEAN tăng khả năng cạnh tranh, đối phó có hiệu quả đối với các thách thức do FTA mang lại và do sự trỗi dậy quá nhanh của kinh tế Trung Quốc.

Trong bối cảnh đó, chính sách tích cực của Nhật Bản gần đây đối với ASEAN là rất đáng chú ý. Đỉnh cao của chính sách này là Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt Nhật Bản - ASEAN vào hai ngày 11 và 12-12-2003 tại Tôkyô. Gọi là “đặc biệt” vì đây là lần đầu tiên một hội nghị như vậy được tổ chức tại một nước không phải là thành viên ASEAN. Bối cảnh mới của kinh tế - chính trị châu Á mà nổi bật là sự lớn mạnh của Trung Quốc đã thúc đẩy quan hệ đặc biệt giữa Nhật Bản với ASEAN.

Hai ngày của hội nghị thượng đỉnh được kết thúc bằng Tuyên ngôn Tôkyô và Kế hoạch hành động cho giai đoạn trung và dài hạn sắp tới. Theo Tuyên ngôn Tôkyô, Nhật Bản và các nước ASEAN quyết tâm tiếp tục mở rộng, đẩy mạnh hợp tác trên tinh thần đối tác chiến lược (strategic partnership). Nhật Bản sẽ đặt ưu tiên cao cho nỗ lực giúp các nước ASEAN phát triển và hội nhập (integration) với nhau hơn nữa. Với phương châm đó, Nhật sẽ ưu tiên cấp tiền viện trợ và vốn vay ưu đãi (ODA) cho ASEAN, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo nhân tài, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, và giúp phát triển các nước thuộc lưu vực sông Mêkông để rút ngắn khoảng cách giữa hai nhóm nước (sáu nước thành viên cũ và bốn nước thành viên mới) trong khối này. Mặt khác, Nhật Bản - ASEAN sẽ tăng cường sự liên kết kinh tế về mọi mặt. Cho đến năm 2012, hai bên sẽ cụ thể hoá ý tưởng này bằng việc ký Hiệp định liên kết kinh tế toàn diện Nhật Bản ASEAN (JACEP) mà Thủ tướng Koizumi Junichiro đề xướng tại Xingapo tháng 1-2002. Sự liên kết này có phạm vi rộng, từ trao đổi hàng hoá, dịch vụ, đến hợp tác đầu tư, tài chính, tiền tệ, công nghệ thông tin, năng lượng, v.v.. Trên quan hệ đặc biệt này, Nhật Bản và ASEAN sẽ hợp tác trong các vấn đề của khu vực và thế giới.

Một số nội dung cụ thể trong Kế hoạch hành động là quyết định lấy năm 2005 làm thời điểm bắt đầu thương lượng để tiến tới việc ký kết Hiệp định JACEP. Nhật Bản cũng đã cam kết trong năm năm tới sẽ đưa một vạn sinh viên và thực tập sinh ASEAN sang Nhật Bản học hoặc tu nghiệp, trong ba năm tới sẽ chi ra 1,5 tỷ USD để giúp ASEAN đào tạo nhân tài và 1,5 tỷ USD để giúp phát triển khu vực sông Mêkông. Nhật cũng sẽ giúp tăng cường cơ sở hạ tầng và đào tạo nhân tài để phát triển công nghệ thông tin, xe hơi điện tử… tại ASEAN và xúc tiến FDI từ Nhật Bản sang các nước này.

Đặc điểm của Tuyên ngôn Tôkyô và Kế hoạch hành động là sự cam kết cao độ của Nhật Bản trong việc giúp các nước ASEAN hơn nữa. Đây là chiến lược của Nhật Bản nhằm tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc tại vùng Đông Nam Á. Mặt khác, Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt này cũng cho thấy ASEAN muốn tận dụng khả năng của Nhật để tăng cường năng lực cạnh tranh trước sức mạnh áp đảo của kinh tế Trung Quốc.

Quan hệ Nhật Bản - ASEAN được đẩy mạnh lên một bước từ năm 1977 khi Thủ tướng Nhật Bản đương thời Fukuda công du năm nước thành viên ban đầu và phát biểu chính sách đặc biệt dùng ODA để vừa giúp từng nước thành viên vừa xây những ngành công nghiệp chung cho toàn khối. Quan hệ này lại phát triển một bước lớn khi các công ty Nhật Bản ào ạt sang đầu tư trực tiếp (FDI) tại Thái Lan, Malaixia, Xingapo và Inđônêxia sau khi đồng yên tăng giá đột ngột vào cuối năm 1985. ODA và FDI của Nhật Bản đã tạo ra một sự gắn bó mật thiết giữa Nhật Bản với ASEAN trong mấy thập kỷ qua, một quan hệ mà Tuyên ngôn Tôkyô ghi nhận là một đối tác đồng hành đồng tiến.

Tuy nhiên, từ giữa thập niên 1990, quan hệ Nhật Bản - ASEAN đối mặt với một tình huống mới: kinh tế Nhật Bản suy thoái triền miên, ngân sách dành cho ODA phải bị cắt giảm, chính phủ thay đổi luôn nên lãnh đạo có khuynh hướng hướng nội, ít ai quan tâm tăng cường quan hệ với những vùng không có vấn đề gì nổi cộm. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, Nhật tích cực hành động qua sáng kiến Miyazawa (30 tỷ USD) và cung cấp vốn vay đặc biệt (650 tỷ yên) cho các nước ASEAN (và Hàn Quốc) nhưng những cố gắng có tính chất tình thế này chỉ giúp các nước châu Á hồi phục sau khủng hoảng chứ không giúp ASEAN đối kháng lại với một trào lưu mới, đó là sự xuất hiện của Trung Quốc với một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ đã thu hút FDI nước ngoài, nhất là của Nhật Bản, và làm giảm bớt thị phần của ASEAN trên thị trường thế giới (Xem lại Chương 3).

Trong lúc ASEAN lo ngại trước áp lực này thì Trung Quốc triển khai chiến lược mới: đưa đề án ký hiệp định thương mại tự do (FTA) với ASEAN vào cuối năm 2001. Nội dung của đề án khá cụ thể và rất hấp dẫn đối với ASEAN nên đã được dư luận thế giới chú ý và nhất là ASEAN đã tích cực hưởng ứng. Chính sự kiện này đã làm cho Nhật thấy cần phải quay lại chiến lược ASEAN để vừa duy trì ảnh hưởng tại vùng này, vừa giữ thế chủ động trong quá trình hình thành cộng đồng kinh tế Đông Á (thể chế ASEAN+3) trong tương lai. Đây là bối cảnh ra đời của Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt Nhật Bản - ASEAN.

Vùng Đông Á hiện nay đang từng bước hình thành thế ba chân vạc: Nhật Bản, Trung Quốc và ASEAN, trong đó hiện nay ASEAN là yếu nhất nhưng trước mắt đang có lợi điểm là cả Trung Quốc và Nhật đều muốn tranh thủ. ASEAN có thể tận dụng thời cơ này để phát triển nhanh. Đặc biệt trước khi thực hiện FTA với Trung Quốc (năm 2010 đối với 6 nước thành viên cũ và 2015 đối với các nước thành viên mới), ASEAN cần tận dụng kết quả Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt vừa qua để nhanh chóng tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế các nước thành viên.

Khi bàn về cộng đồng Đông Á, nhiều người có khuynh hướng kỳ vọng quá mức vào khả năng hình thành tổ chức đó. Nhưng từ mấy điểm nêu trên, ta thấy rằng, ngay ở vấn đề tự do hoá thương mại không thôi, con đường đi lên cũng chưa suôn sẻ, nên khả năng hình thành một đồng tiền chung, một chính sách tài chính, tiền tệ chung hay chính sách ngoại thương chung đối với các khu vực khác càng trở nên khó khăn. Cũng phải mất ít nhất vài chục năm nữa mới có thể có những tiến triển cụ thể về những vấn đề này. Có thể nói những vấn đề đó là giấc mơ chung của người Đông Á và có thể mong muốn giấc mơ đó sẽ trở thành hiện thực vào một thời điểm khá xa trong tương lai.

Trong vòng 10 năm tới, tự do hoá thương mại trong khuôn khổ FTA và các nỗ lực hợp tác để các nước còn ở trong giai đoạn phát triển thấp có thể rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước là những lĩnh vực có tính khả thi cao. Nội dung của quá trình thực hiện cộng đồng Đông Á trước mắt có lẽ sẽ dựa trên ba lĩnh vực mà Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) nhằm tới, đó là tự do hoá thương mại (trade liberalization), thuận lợi hoá hoạt động thương mại (facilitation), và hợp tác kinh tế kỹ thuật (eco-tech) đối với những nước còn ở trình độ phát triển thấp.

Kết luận

Vùng Đông Á đang chuyển động về cả hai mặt: một là hoạt động giao thương, đầu tư nhộn nhịp làm cho các nước ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau; hai là các cơ chế hợp tác mà trọng tâm là FTA cũng đang hình thành. Trong tình hình đó, nhiều người kỳ vọng một cộng đồng kinh tế sẽ ra đời tại Đông Á trong tương lai. Tuy nhiên, trong 10 năm trước mắt, tự do thương mại và các kênh hợp tác kinh tế như chuyển giao công nghệ, thuận lợi hoá thương mại vẫn sẽ là những nội dung chủ đạo của quá trình hợp tác Đông Á. Những nội dung khác như thiết lập đồng tiền chung châu Á, xây dựng chính sách tiền tệ - tài chính chung, v.v.. là những vấn đề của một tương lai xa hơn.

Chủ nghĩa khu vực triển khai theo chiều hướng nói trên sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào? Có thể nói đây là cơ hội giao thương lớn nhất đối với Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới. Nhìn từng quốc gia riêng biệt thì Mỹ là thị trường lớn nhất với số dân 285 triệu người và GDP gần 9.500 tỷ USD. Mỹ cũng đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam từ năm 2003. Tuy nhiên, Đông Á là thị trường đáng kể và nhất là phát triển nhanh hơn nhiều so với các khu vực khác trên thế giới. Trước hết, Nhật Bản là thị trường lớn thứ hai trên thế giới với số dân 126 triệu người và GDP gần 5.000 tỷ USD. Thị trường Trung Quốc (số dân: 1,3 tỷ, GDP: 1.080 tỷ USD) và ASEAN (dân số 548 triệu, GDP 650 tỷ USD) còn tương đối nhỏ nhưng phát triển với tốc độ cao sẽ trở thành thị trường đáng kể trong tương lai. Đặc biệt, sự gần gũi về địa lý và văn hoá cùng các cơ chế hợp tác được thúc đẩy trong khuôn khổ FTA sẽ đẩy mạnh phân công quốc tế giữa các nước. Nhiều nghiên cứu cho thấy FTA tại Đông Á có khuynh hướng làm tăng tốc độ phát triển kinh tế của các nước trong khu vực, và những nước hiện có nền kinh tế càng nhỏ thì càng có lợi hơn trong thể chế hợp tác FTA.

Cơ hội mà FTA mang lại cho Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội đó, Việt Nam phải nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh. Hiện nay, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc hoặc giữa Việt Nam với các thành viên cũ của ASEAN là quan hệ Bắc - Nam trong đó Việt Nam chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu và các sản phẩm sơ chế, trong khi nhập khẩu chủ yếu là hàng công nghiệp. Việt Nam phải nhanh chóng tăng sức cạnh tranh để đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp sang Trung Quốc và ASEAN, tạo nên một cơ cấu thương mại hàng ngang với các nước láng giềng, mới tận dụng được hiệu quả mà FTA mang lại (xem thêm các Chương 3, 5 và 6).

Chương 5 : Thách thức AFTA và công nghiệp Việt Nam

Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa trong bối cảnh mà trào lưu toàn cầu hoá kinh tế ngày càng mạnh mẽ. Nói cụ thể hơn, thị trường thế giới đang rộng mở cho hàng công nghiệp Việt Nam, nhưng ngược lại, Việt Nam cũng phải mở cửa thị trường trong nước, tiến hành tự do thương mại. Nếu năng lực cạnh tranh của Việt Nam mạnh thì cơ hội của toàn cầu hoá sẽ lớn và thách thức sẽ nhỏ.

Trước mắt, cùng với quan hệ với Trung Quốc, Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) là thách thức trực tiếp đối với công nghiệp hoá Việt Nam.

5.1. AFTA: Thử thách hội nhập đầu tiên của Việt Nam

AFTA (ASEAN Free Trade Area) được sáu nước thành viên cũ của ASEAN quyết định thành lập năm 1992 nhằm mục đích bãi bỏ hàng rào quan thuế để tiến hành tự do thương mại giữa các nước trong khối. Sau một số lần điều chỉnh, vào năm 1995, các nước đã quyết định mục tiêu giảm thuế quan xuống dưới 5% vào năm 2003 và bãi bỏ hoàn toàn hàng rào quan thuế vào năm 2010. Gia nhập ASEAN năm 1995, Việt Nam cũng tham gia AFTA từ năm 1996 với mục tiêu giảm thuế quan nhập khẩu từ các nước thành viên xuống dưới 5% vào năm 2006 và 0% vào năm 2017. Tác giả đã có dịp phân tích hiệu quả của AFTA đối với công nghiệp hoá Việt Nam (Trần Văn Thọ 2002) và ý nghĩa của AFTA trong vùng năng động ở Đông Á (Trần Văn Thọ 2002).

Các cam kết của Việt Nam được tiến hành nhanh từ giữa năm 2003. Như Bảng 5.1 cho thấy, vào giữa năm 2004, Việt Nam đã đưa hơn 10.000 dòng thuế (chiếm khoảng 95% tổng số các dòng thuế) vào danh mục các mặt hàng sẽ được cắt giảm thuế (gọi là Inclusion List, IL) theo Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (Common Effective Preferential Tariffs, CEPT) của AFTA, trong đó gần 7.500 dòng thuế đã được cắt giảm xuống dưới 5%. Tư liệu mới hơn cho thấy vào năm 2005 số dòng thuế được cắt giảm sẽ tăng lên 8.459 và vào năm 2006 sẽ tăng lên 10.443. Con số này lớn hơn số trong Bảng 5.1 (10.143) vì sau tháng 6-2004 một số danh mục mới được đưa vào IL. Về tư liệu trước năm 2003, xem Bộ Tài chính (2000) và Bộ Thương mại (2001). Thông tin mới hơn lấy từ tư liệu của Viện Quản lý kinh tế trung ương.

Cho đến giữa năm 2003, các hàng công nghiệp được đưa vào danh mục giảm thuế trên nguyên tắc được chọn theo tiêu chuẩn không hoặc ít ảnh hưởng đến các ngành mới bắt đầu phát triển trong nước và đang được bảo hộ. Những ngành này được nằm trong danh mục loại trừ tạm thời (Temporary Exclusion List, TEL) ra khỏi khuôn khổ CEPT. Tuy nhiên, từ năm 2004, trừ một vài ngoại lệ, tất cả các mặt hàng công nghiệp đều được đưa vào chương trình giảm thuế xuống dưới 5% chậm nhất là năm 2006.

Những mặt hàng tiêu biểu được chuyển sang danh mục giảm thuế IL từ năm 2001 là thép xây dựng, chế phẩm kính, bộ phận và linh kiện tivi, máy phát điện, v.v.. Những ngành chuyển từ TEL sang IL vào năm 2002 là máy giặt, tủ lạnh, đồng hồ, linh kiện đồng hồ, rượu vang, nước hoa, v.v.. Năm 2003, những ngành chuyển từ TEL sang IL là bia, rượu, xăng dầu, xe hơi, xe máy, phân bón, hoá chất, v.v.. Hầu hết đây là những mặt hàng hiện được sản xuất ở trong nước, trong đó một số do công ty có vốn nước ngoài sản xuất như xe hơi, xe máy và các loại đồ điện gia dụng.

Thuế suất nhập khẩu của các mặt hàng này cho đến năm 2003 là khá cao, trên dưới 50%, đủ để bảo hộ với hàng nhập khẩu cùng loại. Dù vậy, chênh lệch giá giữa hàng nhập và hàng sản xuất trong nước không lớn. Điều này cho thấy sau khi các cam kết AFTA được thực hiện hoàn toàn (năm 2006), các mặt hàng này khó giữ vững vị trí hiện nay trên thị trường trong nước. Chẳng hạn, vào đầu năm 2001, với máy giặt cỡ 4KG giá bán của hàng sản xuất trong nước là 3,7 triệu đồng, trong khi hàng nhập kể cả thuế là 3,8 triệu. Tủ lạnh 150 lít giá hàng nội là 4,31 triệu và hàng nhập là 4,85 triệu đồng. Theo Market & Prices, ngày 02-01-2001. . Dù thông tin này tương đối cũ, nhưng như Chương 9 phân tích, tình hình sau đó về căn bản không thay đổi lớn (quy mô sản xuất nhỏ, thuế nhập linh kiện quá cao, v.v.) nên có thể nói giữa Việt Nam và Thái Lan vẫn còn một sự cách biệt lớn về năng lực cạnh tranh. Trong phần sau đây, ta thử đưa ra một đánh giá tổng hợp hơn về khả năng đối phó với thách thức hiện nay của Việt Nam.

5.2. Ảnh hưởng của AFTA đối với công nghiệp Việt Nam

Giữa những nước có trình độ phát triển khác nhau, việc thực hiện khu vực thương mại tự do phải theo một nội dung, một tiến trình hợp lý để các nước còn ở giai đoạn phát triển thấp hơn có thể tham gia mà không ảnh hưởng đến chiến lược, mục tiêu và nhu cầu phát triển của họ. Tiến trình hợp lý thông thường là để cho các nước đi sau chậm thực hiện nghĩa vụ tự do hoá so với các nước khác để có thời gian tăng năng lực cạnh tranh, và, như trường hợp của Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), nội dung của việc thực hiện tự do hoá thương mại còn có kế hoạch hỗ trợ kinh tế và công nghệ của các nước đi trước đối với các nước đi sau. Ba cột trụ của APEC là tự do hoá thương mại (liberalization), kế hoạch thuận lợi hóa (facilitation) các hoạt động thương mại và đầu tư, và kế hoạch hỗ trợ kinh tế và công nghệ (ecotech). Xem, chẳng hạn, Trần Văn Thọ (1997), Chương 10. . Trong trường hợp AFTA, Việt Nam thực hiện nghĩa vụ tự do hoá thương mại chậm hơn các nước đi trước chỉ ba năm và không có các chương trình hỗ trợ về kinh tế và công nghệ, có lẽ vì quan điểm chung là khoảng cách phát triển giữa Việt Nam với các nước ASEAN đi trước không xa lắm. Tuy nhiên, so với thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ tự do hoá thì khoảng cách phát triển lớn hơn nhiều. Theo đánh giá sơ bộ của tôi ở Chương 1, Việt Nam và Thái Lan có một khoảng cách phát triển khoảng 20 năm. So với Xingapo và Malaixia thì khoảng cách lớn hơn, so với Philíppin và Inđônêxia thì nhỏ hơn (tất nhiên Xingapo là một quốc gia đô thị nên không thể so sánh đơn thuần với Việt Nam được). . Tất nhiên, vào thời điểm gia nhập ASEAN (1995), với 10 năm (1996-2006) thực hiện từng bước AFTA (trên thực chất, như đã đề cập, thực hiện từ năm 2003) và với hoàn cảnh trong nước lạc quan (kinh tế vĩ mô đã ổn định, tăng trưởng khá cao), hoàn cảnh quốc tế thuận lợi (các nước tiên tiến và các định chế tài chính quốc tế từ năm 1993 đã quyết định hỗ trợ tài chính hằng năm cho ta, thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường với Mỹ, FDI tăng nhanh, v.v.), Việt Nam đã tự tin hơn và quyết định gia nhập AFTA là đúng đắn. Tuy nhiên, sau đó, Việt Nam bỏ mất thời cơ thu hút FDI (xem Chương 12) để chuyển dịch cơ cấu và tăng năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp. Hiện nay, khoảng cách phát triển công nghiệp giữa Việt Nam và các nước ASEAN đi trước vẫn còn khá lớn, thể hiện ở các mặt như sau:

Thứ nhất, các chỉ tiêu phát triển công nghiệp cho thấy Việt Nam đi sau khá xa so với Thái Lan, Malaixia... về cả lượng và chất. Theo Bảng 5.2, kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của Việt Nam mặc dù tăng rất nhanh (từ năm 1996 đến 2002 tăng gấp gần 4 lần), hiện nay mới chỉ bằng 1/3 của Philíppin và Inđônêxia, 1/5 Thái Lan và 1/7 Malaixia. Về chất lượng phát triển công nghiệp, tư liệu và phân tích ở Chương 2 cho thấy, so với các nước ASEAN khác, tỷ lệ của công nghiệp trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam còn thấp, nhất là tỷ lệ của các loại máy móc thì quá nhỏ.

Thứ hai, thương mại giữa Việt Nam với các nước ASEAN hiện nay có đặc tính là phân công hàng dọc, một tính chất thường thấy trong thương mại giữa nước tiên tiến và nước đang trên đường phát triển. Trong khi Việt Nam nhập khẩu từ ASEAN hầu hết là hàng công nghiệp, thì ta xuất chủ yếu là hàng nông lâm thuỷ sản và các nguyên liệu thô (ước tính từ thống kê của Tổng cục hải quan cho thấy các mặt hàng này chiếm tới 70% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN vào năm 2000). Tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghiệp rất thấp (chủ yếu là bộ phận, linh kiện điện tử mà phần lớn là nhờ công ty Fujitsu xuất khẩu sang công ty con của họ ở Philíppin, còn lại là quần áo, giầy dép và hàng thủ công mỹ nghệ). Riêng Việt Nam và Thái Lan, hai nước có cơ cấu tài nguyên gần giống nhau, đang triển khai phân công hàng ngang (vừa xuất và nhập hàng công nghiệp). Chẳng hạn vào năm 2001, trong tổng xuất khẩu của Thái Lan sang Việt Nam (798 triệu USD) có đến 76% là hàng công nghiệp, nhưng hàng công nghiệp cũng chiếm tới 62% trong tổng nhập khẩu của Thái Lan từ Việt Nam (327 triệu USD). Theo JETRO Boueki Toshi Hakusho (Sách Trắng về thương mại và đầu tư), 2002. . Tuy là phân công hàng ngang nhưng tổng kim ngạch xuất và nhập khẩu giữa hai nước cho thấy Việt Nam bị nhập siêu nhiều, phản ảnh năng lực cạnh tranh còn yếu của công nghiệp Việt Nam. Hiện nay, cả khối ASEAN chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nhưng Việt Nam nhập siêu với ASEAN khoảng 3 tỷ USD22. Theo thống kê năm 2003. Cùng năm, tổng nhập siêu của Việt Nam là 5 tỷ, nhập siêu với Hàn Quốc là 2,1 tỷ, với Trung Quốc 1,4 tỷ và với Nhật Bản khoảng 85 triệu USD. Mặt khác, Việt Nam xuất siêu với Mỹ 2,8 tỷ và châu Âu 1 tỷ USD. .

Từ những phân tích trên đây, ta có thể thấy những thách thức mà Việt Nam sẽ phải đối mặt sau khi thực hiện hoàn toàn các cam kết với AFTA như sau:

Thứ nhất là ảnh hưởng từ chiến lược tái cơ cấu hoạt động sản xuất của các công ty đa quốc gia. Nhiều mặt hàng công nghiệp hiện nay do các công ty có vốn nước ngoài sản xuất và được bảo hộ bằng thuế nhập khẩu. Khi hàng rào quan thuế bị cắt giảm, các công ty đa quốc gia sẽ tập trung sản xuất tại những nước có phí tổn thấp nhất trong khu vực AFTA. Do đó, từ nay đến giữa năm 2006, thách thức của Việt Nam là làm sao giữ chân các cơ sở sản xuất hiện có của các công ty đa quốc gia, đồng thời tạo cơ hội để các công ty này đầu tư mới hoặc chuyển những cơ sở sản xuất ở các nước ASEAN khác sang Việt Nam. Xem Chương 9 về trường hợp ngành điện, điện tử gia dụng. .

Thứ hai, trong số các doanh nghiệp nhà nước và một phần các công ty tư nhân trong nước cho đến nay hoạt động được chủ yếu là nhờ chính sách bảo hộ, sau năm 2006, nhiều doanh nghiệp có khả năng bị đẩy ra khỏi thị trường. Các công ty này cần nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh thì mới đối phó kịp. Như sẽ phân tích trong Chương 8, việc liên kết hàng dọc và hàng ngang với các công ty đa quốc gia là một trong những biện pháp nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh. Tất nhiên, ở đây ta không phủ nhận sự năng động đối phó một cách hữu hiệu của nhiều doanh nghiệp sau đợt cắt giảm quan thuế trong chương trình AFTA vào năm 2003. Theo Viện kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, dù thuế nhập khẩu giảm xuống dưới 5% từ giữa năm 2003, ít nhất là cho đến đầu năm 2005, sản xuất trong nước về những hàng công nghiệp như đồ nhựa, văn phòng phẩm, giấy vệ sinh, thủ công mỹ nghệ, gỗ chế biến, v.v. vẫn tiếp tục tăng, vì vẫn giữ được sức cạnh tranh với hàng hoá nước ngoài. Theo ý kiến của TS. Trần Du Lịch, Viện truởng Viện kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, trong buối trao đổi ý kiến với tác giả về công nghiệp Việt Nam ngày 19-2-2005. . Tuy nhiên, đó là những mặt hàng sản xuất nhỏ, có hàm lượng lao động giản đơn cao, thị trường có khuynh hướng phân tán trong nhiều địa phương nên hàng nước ngoài khó cạnh tranh. Trong các lĩnh vực mà công nghệ, tổ chức sản xuất và lưu thông hiện đại hơn, thách thức của hàng nhập khẩu dưới áp lực cắt giảm quan thuế sẽ lớn hơn nhiều.

Thứ ba, gia nhập AFTA chủ yếu là để mở rộng thị trường xuất khẩu, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, nhưng như đã thấy, hiện nay khả năng thâm nhập thị trường ASEAN của hàng công nghiệp Việt Nam còn quá yếu. Làm sao để mở rộng phân công hàng ngang (xuất và nhập đồng thời hàng công nghiệp) với các nước ASEAN khác trong quá trình hội nhập? Một trong những biện pháp có hiệu quả nhất là tăng cường chiến lược thu hút FDI (Chương 12) và tận dụng mọi thời cơ quốc tế đang có, nhất là thời cơ từ Nhật Bản (Chương 13).

Cần nói thêm là dưới áp lực cạnh tranh của Trung Quốc, nhiều nước ASEAN, đặc biệt là Thái Lan và Malaixia cũng đang ráo riết tăng cường năng lực cạnh tranh. Việt Nam cần theo dõi các động hướng này để khẩn trương hơn nữa trong việc thay đổi cơ chế, ưu tiên các mũi đột phá chiến lược để nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập. Chiến lược gần đây của Thái Lan rất đáng được chú ý:

Trước áp lực cạnh tranh của Trung Quốc và những thách thức do trào lưu toàn cầu hoá, khu vực hoá mang đến, Thái Lan thấy cần phải vạch ra chiến lược tăng sức cạnh tranh. Tháng 5-2002, họ lập Uỷ ban tăng cường cạnh tranh quốc gia do chính Thủ tướng đứng đầu. Họ mời các chuyên gia nước ngoài tham gia bàn bạc, thảo luận và tháng 10-2003 đưa ra bản báo cáo 600 trang phân tích cụ thể các mặt mạnh, mặt yếu và nhất là đưa ra chiến lược rất rõ ràng và biện pháp thực hiện rất cụ thể. Bộ máy hành chính cũng bắt tay ngay vào việc triển khai chiến lược và thực hiện các biện pháp. Trong chiến lược này, Thái Lan đã xác định năm lĩnh vực có thể tạo cho họ một vị trí trên thị trường quốc tế: xe hơi, thực phẩm, thời trang, du lịch và phần mềm máy tính. TháI Lan khẳng định hai biện pháp cần đẩy mạnh để thực hiện chiến lược này là tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và triển khai các hiệp định thương mại tự do (FTA). Gần đây, ta đã thấy các chính sách đối ngoại và hoạt động của các nhà lãnh đạo cao nhất của Chính phủ Thái Lan đều tập trung vào vấn đề này. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, FDI vào Thái Lan chững lại, nhưng từ hai năm nay FDI tăng trở lại và các công ty đa quốc gia tiếp tục đánh giá cao tiềm năng của Thái Lan. Thái Lan cũng đã tích cực tranh thủ ngay những cam kết trong khuôn khổ FTA giữa Trung Quốc và ASEAN và đã đạt thành quả trong việc đẩy mạnh xuất khẩu nông phẩm sang Trung Quốc mà tôi đã có dịp giới thiệu. Xem Thời báo kinh tế Sài Gòn, ngày 16-02-2004. .

Thách thức của AFTA rất lớn. Việt Nam cần khẩn trương hơn nữa.

Chương 6 : Hiệp định thương mại Trung Quốc - ASEAN

Như đã nói trong Chương 4, nhìn chung những tiến triển về hiệp định thương mại tự do (FTA) tại Đông Á cho đến nay có đặc tính là xoay quanh các nước ASEAN. Đặc biệt, Nhật Bản và Trung Quốc đã tranh nhau đưa ra đề án FTA song phương giữa ASEAN với mình, do đó, tại vùng này đang từng bước hình thành các thể chế ASEAN+1 (ASEAN cộng với một trong ba nước có nền kinh tế lớn ở Đông Á là Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc). Trong trào lưu đó, sự kiện đáng được quan tâm nhất là FTA giữa ASEAN với Trung Quốc (dưới đây gọi tắt là CAFTA).

Chương này phân tích bối cảnh ra đời của CAFTA, giới thiệu nội dung của hiệp định này và đánh giá hiệu quả, tác động của CAFTA đến các nước thành viên cũ của ASEAN, sau đó bàn về ảnh hưởng của AFTA đối với Việt Nam. Phần kết luận tóm tắt một số điểm cần nhấn mạnh về nỗ lực và chiến lược cần thiết của Việt Nam để tận dụng thời cơ và giảm thách thức do CAFTA mang lại.

6.1. Bối cảnh ra đời của CAFTA

Trung Quốc và 10 nước ASEAN qua các Hội nghị thượng đỉnh ở Brunây (2001), Phnôm Pênh (2002), Bali (2003) và Viêngchăn (2004) đã lần lượt thoả thuận các bước chuẩn bị để cuối cùng đi đến ký kết các hiệp ước liên quan đến Hiệp định thương mại tự do (FTA), một cơ cấu hợp tác kinh tế lôi cuốn sự quan tâm của thế giới từ ba năm nay khi Trung Quốc đưa ra đề án và được các nước ASEAN hưởng ứng.

Chiến lược của Trung Quốc

Điểm nổi bật của hiệp định này là Trung Quốc đã nhượng bộ tối đa, đưa ra một đề án với nội dung hấp dẫn để các nước ASEAN dễ chấp nhận. Ngoài kế hoạch giảm thuế nói chung, hiệp định bao gồm một chương trình gọi là Thu hoạch sớm (Early Harvest) để giảm thuế ngay (từ đầu năm 2004) những mặt hàng nông phẩm mà đa số các nước ASEAN đặc biệt quan tâm. Trong hiệp định, Trung Quốc cũng đặc biệt chiếu cố các thành viên mới của ASEAN (Việt Nam, Lào, Mianma và Campuchia): Trung Quốc dành sự đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) cho cả các nước chưa gia nhập WTO, trì hoãn nghĩa vụ thực hiện FTA đối với các thành viên mới, viện trợ 5 triệu USD cho chương trình phát triển lưu vực sông Mêkông, chịu 1/3 phí tổn xây đường cao tốc nối Côn Minh với Băng Cốc.

Có nhiều yếu tố giải thích thái độ tích cực của Trung Quốc: thứ nhất, Trung Quốc muốn tạo sẵn vị trí chủ đạo trong quá trình hình thành cộng đồng hợp tác Đông Á trong tương lai. Cho đến cuối thập niên 1990, Trung Quốc bận tâm trong việc chuẩn bị gia nhập WTO, chưa rảnh tay nghĩ về cơ chế hợp tác khu vực Đông Á. Sau khi đạt được thoả thuận tay đôi với Mỹ vào tháng 11-1999, Trung Quốc xem việc gia nhập WTO chỉ còn là vấn đề thời gian (thực tế Trung Quốc gia nhập năm 2001). Trung Quốc bắt đầu triển khai chiến lược Đông Á mà điểm đột phá được chọn là ASEAN vì ở đây Nhật Bản và Mỹ cũng đang chú trọng, Trung Quốc thấy cần tạo ngay ảnh hưởng. Ngoài ra, quá trình hình thành cộng đồng hợp tác Đông Á sẽ phải bắt đầu từ ASEAN, không thể từ Nhật Bản, Trung Quốc hay Hàn Quốc vì các quan hệ phức tạp về lịch sử đang tồn tại. Thứ hai, có ý kiến cho rằng Trung Quốc muốn qua FTA đẩy mạnh quan hệ với ASEAN để kiềm chế chiến lược hướng Nam của Đài Loan (thông qua đầu tư trực tiếp và thương mại, sự hiện diện của Đài Loan tại ASEAN ngày càng lớn). Xem, chẳng hạn, Maie (2004). . Thứ ba, từ thập niên 1990, kinh tế Trung Quốc phát triển quá nhanh, cạnh tranh với ASEAN trên khắp các thị trường lớn trên thế giới, tạo ra mối lo ngại tại các nước này. Để xoa dịu mối lo này ở ASEAN, Trung Quốc thấy cần gây ấn tượng là việc kinh tế Trung Quốc lớn mạnh cũng đưa lại cơ hội phát triển cho các nước ASEAN. Trung Quốc gần đây dùng khái niệm quật khởi hoà bình (phát triển mạnh mẽ trong hoà bình và có tác dụng tốt đến các nước khác) để diễn tả ý tưởng này.. Thứ tư, Trung Quốc cần đẩy mạnh phát triển vùng Tây Nam để thu hẹp khoảng cách với vùng duyên hải, chiến lược tiếp cận ASEAN hy vọng sẽ mở rộng thương mại giữa các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây với Thái Lan và các nước thành viên mới của ASEAN. Đây là nhận định của một số nhà nghiên cứu Trung Quốc học như Zha (2002).. Về giao thông, các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên tiếp cận dễ dàng với Việt Nam, Mianma, Lào và Thái Lan hơn là với vùng duyên hải của Trung Quốc. Triển vọng hợp tác tiểu vùng Mêkông mà Hành lang Nam Bắc là một trong những dự án trọng điểm sẽ thúc đẩy thương mại giữa vùng Tây Nam Trung Quốc với các nước ASEAN.

Tình hình phía ASEAN

Từ nửa sau thập kỷ 1990, ASEAN phải đối mặt với nhiều vấn đề mới: ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ châu Á, sự xuất hiện mạnh mẽ của kinh tế Trung Quốc, và sự gia tăng nhiều thành viên mới. Các vấn đề này đã mở ra một cục diện mới đối với ASEAN. Khủng hoảng tiền tệ gây ra những khó khăn nhất định đối với nền kinh tế các nước này và nhất là đã cho thấy hạn chế của tổ chức ASEAN trong việc gìn giữ sự ổn định kinh tế trong khu vực. Cuộc khủng hoảng tiền tệ cũng đã làm lịch trình thực hiện AFTA của các nước thành viên bị chậm lại. Sự xuất hiện của Trung Quốc khiến cho sức cạnh tranh của các nước ASEAN tại những thị trường chính như Mỹ, Nhật Bản bị yếu đi và nhất là làm cho dòng chảy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chuyển hướng (Chương 3). Do bối cảnh này, từ giữa thập niên 1990, nhiều nước ASEAN xem kinh tế Trung Quốc là mối đe doạ cho sự tăng trưởng vùng Đông Nam Á. Theo một số nhà phân tích, một trong những nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á từ tháng 07-1997 là do sự xuất hiện mạnh mẽ của kinh tế Trung Quốc. Xem, chẳng hạn, phần phân tích của Harada trong Trần Văn Thọ và những người khác (2001)..

Tuy nhiên, từ khoảng năm 2001, nhiều nước ASEAN, đặc biệt là Malaixia và Thái Lan, dần dần xem kinh tế Trung Quốc còn là cơ hội để các nước này tiếp tục tăng trưởng, vì thấy cùng với xuất khẩu, nhập khẩu của Trung Quốc cũng tăng nhanh và các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, v.v. đã xuất khẩu mạnh mẽ vào thị trường này. Chính các nước ASEAN cũng dần dần thấy là đối với họ, thị trường Trung Quốc ngày càng có vai trò quan trọng. Bảng 4.1 trong Chương 4 cho thấy Trung Quốc ngày càng trở thành thị trường hàng công nghiệp quan trọng của nhiều nước ASEAN. Đó là bản ma trận mậu dịch (trade matrix) của các nước Đông Á trong hai năm 1992 và 2002. Ta thấy trong giai đoạn này, các nước ASEAN đã đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp ra thị trường thế giới nhưng tốc độ xuất khẩu sang Trung Quốc tăng nhanh hơn các thị trường khác. Chẳng hạn, Thái Lan trong giai đoạn đó xuất khẩu hàng công nghiệp ra thế giới tăng 2,3 lần, nhưng sang Trung Quốc tăng tới 23,7 lần. Các con số tương ứng của Malaixia là 2,8 lần và 13,6 lần, Philíppin là 4,4 lần và 15,1 lần. Dĩ nhiên vào năm 1992 các nước ASEAN buôn bán với Trung Quốc chưa nhiều nên dễ làm cho tốc độ tăng nhanh. Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc đã chiếm một vị trí quan trọng trong thị trường xuất khẩu của ASEAN và, như sẽ thấy dưới đây, tiềm năng thâm nhập vào thị trường này còn rất lớn. Do đó, ASEAN tích cực hưởng ứng ký kết FTA với Trung Quốc với hy vọng khai thác tiềm năng này. Họ đã tích cực đáp lại đề nghị của Trung Quốc, chấp nhận việc sớm tự do hoá thương mại đối với những mặt hàng nông sản phẩm trước khi mục tiêu chung cho các sản phẩm khác sẽ được thực hiện vào năm 2010 đối với các thành viên cũ và năm 2015 đối với các thành viên mới của ASEAN.

6.2. Nội dung của CAFTA và hiệu quả đối với các nước ASEAN

Nội dung sơ lược của CAFTA

Nội dung chính của FTA Trung Quốc - ASEAN là chương trình cắt giảm thuế quan để mở rộng thương mại, trong đó các nhóm mặt hàng được chia làm hai loại, loại thông thường (normal track) và loại nhạy cảm (sensitive track). Trong loại thông thường, Trung Quốc và các nước thành viên cũ bắt đầu cắt giảm thuế từ tháng 01-2005 và bãi bỏ hoàn toàn vào năm 2010, các nước thành viên đặt mục tiêu bỏ hoàn toàn thuế quan vào năm 2015. Chi tiết cụ thể về loại nhạy cảm chưa được xác định, hai bên sẽ thương lượng trong thời gian tới.

Chương trình Thu hoạch sớm thực hiện cắt giảm thuế từ năm 2004 đến 2006 đối với các thành viên cũ của ASEAN và từ năm 2004 đến 2008 đối với Việt Nam (Lào, Mianma đến năm 2009 và Campuchia đến năm 2010). Cụ thể hơn, căn cứ vào mức thuế vào ngày 1-7-2003, các mặt hàng nông phẩm thuộc chương trình Thu hoạch sớm được chia làm ba loại: đối với các nước thành viên cũ của ASEAN, loại I có mức thuế quan hiện hành trên 15% được giảm xuống 10% vào đầu năm 2004, 5% vào năm 2005 và 0% năm 2006; loại II có mức thuế quan hiện hành dưới 15% đuợc giảm còn 5% năm 2004 và bãi bỏ hoàn toàn năm 2005; loại III có mức thuế hiện hành dưới 5% được bãi bỏ hoàn toàn năm 2004. Đối với Việt Nam, loại I có mức thuế quan hiện hành trên 30% giảm xuống còn 20% năm 2004 và giảm dần đến 0% năm 2008; loại II có mức thuế hiện hành từ 15% đến 30% giảm còn 10% năm 2004 và giảm dần xuống 0% năm 2008; loại III có thuế suất hiện hành dưới 15% được giảm xuống 5% năm 2004 và 0% năm 2008.

Đánh giá hiệu quả của CAFTA đối với kinh tế và ngoại thương ASEAN - trường hợp các nước thành viên cũ.

Hiệu quả của CAFTA đối với Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN tùy thuộc vào cơ cấu thương mại hiện tại và mức thuế quan hiện hành của từng nước. Đó là hiệu quả tĩnh (static). Hiệu quả động (dynamic) tuỳ thuộc vào chính sách, chiến lược của từng nước nhằm thay đổi cơ cấu thương mại hiện tại để tận dụng các cơ hội do CAFTA mang lại. Dưới đây sẽ phân tích cơ cấu ngoại thương hiện nay giữa Trung Quốc với từng nước thành viên ASEAN và tham khảo tình hình mức thuế quan hiện nay để đánh giá sơ bộ hiệu quả của CAFTA đối với các thành viên cũ, và nêu một số gợi ý về chiến lược của các nước này để tăng hiệu quả động của CAFTA. Mục 6.3 sẽ bàn riêng về hiệu quả của CAFTA đối với Việt Nam, một thành viên mới của ASEAN, trong quan hệ thương mại với Trung Quốc và cũng sẽ đưa ra vài gợi ý cho Việt Nam để thay đổi cơ cấu ngoại thương hiện tại nhằm tận dụng hiệu quả động của CAFTA.

Dựa trên thống kê của Liên hợp quốc, ta thử phân tích cơ cấu thương mại của Trung Quốc đối với các nước ASEAN. Bảng 6.1 trình bày kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Trung Quốc sang 10 nước ASEAN trong bốn năm từ năm 1992 đến 2002. Có thể nêu ra mấy nhận xét sau: thứ nhất, riêng hai nước Xingapo và Malaixia chiếm tới hơn một nửa kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc với ASEAN. Ngược lại, kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc với Lào, Campuchia và Mianma hầu như không đáng kể. Thứ hai, gần đây (2002), Trung Quốc nhập siêu với tất cả sáu nước thành viên cũ của ASEAN trong khi đó xuất siêu với tất cả bốn nước thành viên mới. Vì lý do này, ở đây ta ít bàn đến những nước ở hai thái cực này mà chủ yếu phân tích tình hình của các nước Thái Lan, Inđônêxia và Philíppin là những nước có quy mô dân số tương đối lớn và ở trong một giai đoạn phát triển gần với Trung Quốc. Thứ ba, nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước Malaixia, Philíppin và Thái Lan tăng nhanh trong giai đoạn 1996 - 2002, nói lên nỗ lực của ba nước này trong việc thâm nhập vào thị trường Trung Quốc.

Nếu tách riêng hàng công nghiệp ra để khảo sát ta cũng thấy những đặc điểm tương tự, chỉ khác một vài điểm nhỏ: Thứ nhất, Trung Quốc xuất siêu với Inđônêxia trong mậu dịch hàng công nghiệp nhưng kim ngạch cũng không lớn lắm. Thứ hai, Philíppin, Malaixia và Thái Lan đặc biệt đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp sang Trung Quốc với tốc độ cao hơn các sản phẩm khác. Từ năm 1996 đến 2002, nhập khẩu hàng công nghiệp của Trung Quốc từ Philíppin tăng 18,2 lần, từ Malaixia tăng 5,4 lần và từ Thái Lan tăng 4,6 lần.

Về hàng nông sản, Trung Quốc nhập siêu nhiều với Thái Lan, Malaixia và Inđônêxia. Riêng xuất khẩu từ ba nước này tính gộp chiếm gần 90% tổng nhập khẩu của Trung Quốc từ khối ASEAN (năm 2002). Xuất khẩu của các nước ASEAN khác sang Trung Quốc trong mặt hàng này không đáng kể. Do đó, chương trình Thu hoạch sớm trong CAFTA có lợi cho ba nước Thái Lan, Malaixia và Inđônêxia nhất. Và đây cũng là lý do cho thấy ba nước này tích cực nhất đối với đề án của Trung Quốc về CAFTA.

Bảng 6.2 khảo sát cơ cấu ngoại thương giữa Trung Quốc và 10 nước ASEAN trong hai năm 1996 và 2002. Có mấy đặc điểm đáng ghi nhận: một là, hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong xuất khẩu của Trung Quốc đối với hầu hết các nước ASEAN. Tỷ lệ hàng công nghiệp cũng cao trong nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước thành viên ASEAN cũ. Tuy nhiên, nhập khẩu của Trung Quốc từ Việt Nam và các nước thành viên mới thì phần lớn là hàng nông sản hoặc quặng mỏ, tỷ lệ hàng công nghiệp khá thấp. Hai là, trong cơ cấu nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước thành viên cũ của ASEAN, tỷ lệ của hàng công nghiệp đặc biệt tăng nhanh (giai đoạn 1996 - 2002), nhất là Philíppin, Thái Lan, Inđônêxia, nói lên nỗ lực của các nước này trong việc chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của họ sang Trung Quốc. Ngược lại, sự chuyển dịch đó không đáng kể trong trường hợp các nước thành viên mới. Tóm lại, có sự phân công hàng ngang (vừa xuất và nhập hàng công nghiệp) giữa Trung Quốc với các nước thành viên cũ của ASEAN, nhưng giữa Trung Quốc với các nước thành viên mới thì có sự phân công hàng dọc (Trung Quốc xuất hàng công nghiệp, nhập hàng nông lâm thuỷ sản và nguyên liệu khai từ các loại quặng mỏ).

Từ cơ cấu thương mại như đã phân tích, hiệu quả của CAFTA đối với ASEAN sẽ ra sao? Như đã nói, để phân tích hiệu quả cần có thông tin về thuế quan hiện nay của những mặt hàng buôn bán chủ yếu giữa ASEAN và Trung Quốc. Theo tính toán sơ bộ của chúng tôi (Trần Văn Thọ và Matsumoto 2004), đối với những nước thành viên cũ của ASEAN, những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc đang có thuế suất thấp (phần lớn dưới 10%, nhiều mặt hàng 0%). Ngược lại, những mặt hàng chủ yếu mà Trung Quốc nhập khẩu từ các nước thành viên cũ của ASEAN thì thuế quan cao hơn nhiều. Do đó, hiệu quả của CAFTA sẽ lớn đối với các nước thành viên cũ như Thái Lan, Malaixia, Philíppin (tăng xuất khẩu từ các nước này sang Trung Quốc khi thuế quan bên Trung Quốc giảm), và hiệu quả của CAFTA đối với Trung Quốc có thể thấp hơn. Tuy nhiên, trong các ngành máy móc như đồ điện gia dụng, xe máy, xe hơi, máy tính cá nhân, máy in, v.v., thuế quan của ASEAN đối với hàng nhập các bộ phận, linh kiện từ Trung Quốc còn cao, ít nhất cao hơn thuế suất áp dụng trong AFTA. Do đó, khi CAFTA thành lập, xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAN sẽ tăng với tốc độ nhanh hơn hiện nay. Hiện nay, trong các ngành máy móc nói trên, Trung Quốc xuất và nhập cùng một loại mặt hàng (ngoại thương trong nội bộ từng ngành, intra - industry trade) và các nước thành viên cũ của ASEAN cũng có khuynh hướng tương tự. Giữa Trung Quốc và ASEAN cũng có hiện tượng cùng xuất và nhập những mặt hàng trong nội bộ các ngành máy móc. Các công ty đa quốc gia đã và đang xây dựng mạng lưới sản xuất tại châu Á, tuỳ theo đặc tính của mỗi linh kiện, bộ phận mà chọn địa điểm sản xuất tại từng nước. Như vậy, nếu thuế quan giảm theo lộ trình của CAFTA, việc xây dựng mạng lưới sản xuất nói trên sẽ thực hiện dễ dàng hơn và ta có thể kỳ vọng ngoại thương trong nội bộ từng ngành sẽ được triển khai mạnh mẽ hơn giữa Trung Quốc và ASEAN.

Phân tích chi tiết cơ cấu nhập khẩu của Trung Quốc và cơ cấu xuất khẩu của các nước vào thị trường này (Bảng 6.3) ta thấy năm nước thành viên cũ của ASEAN cũng có một vị trí quan trọng. Thị phần của ASEAN trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc xấp xỉ với Hàn Quốc và Mỹ. Đặc biệt trong những mặt hàng như linh kiện điện tử, bán dẫn, phụ tùng linh kiện thiết bị văn phòng, máy thiết bị lưu trữ, xử lý dữ liệu v.v., ASEAN có thị phần khá lớn. Tuy nhiên, như đã thấy ở Bảng 6.1, hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu của ASEAN sang Trung Quốc là từ hai nước Xingapo và Malaixia. Các nước Thái Lan, Để tăng năng lực cạnh tranh, các nước ASEAN cần đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp (FDI) nước ngoài. Để tạo thị trường đầu tư hấp dẫn, làm sao tăng khả năng cung cấp lao động lành nghề, lao động có trình độ kỹ thuật cao đang là vấn đề then chốt. Như đã đề cập trong Chương 3, hiện nay nhiều nước ASEAN thua hẳn Trung Quốc về lĩnh vực này. Điều này sẽ làm hạn chế sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của ASEAN và có thể làm cho thị trường đầu tư của các nước này kém hấp dẫn. Nhanh chóng khắc phục vấn đề này là tiền đề để thu hút FDI hơn nữa và do đó năng lực cạnh tranh của ASEAN mới được tăng cường.

6.3. Đánh giá hiệu quả đối với Việt Nam

Để dễ phân tích chỗ đứng của Việt Nam và hiệu quả của CAFTA đối với kinh tế Việt Nam, ở đây ta thử so sánh Việt Nam với Philíppin và Thái Lan là những nước có cơ cấu kinh tế và trình độ phát triển tương đối gần Việt Nam. Có thể thấy vị trí của Việt Nam hiện nay đang bất lợi (xem các Bảng 6.1 và 6.2). Thứ nhất, kim ngạch xuất khẩu từ Trung Quốc sang ba nước Việt Nam, Philíppin và Thái Lan hầu như bằng nhau, nhưng nhập khẩu của Trung Quốc từ Việt Nam rất ít trong khi Philíppin và Thái Lan đang mạnh mẽ tiến vào thị trường to lớn này. Việt Nam đang nhập siêu nhiều với Trung Quốc, trong khi Thái Lan và Philíppin đều xuất siêu ở mức cao. Thứ hai, phần lớn hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAN đều là hàng công nghiệp; hai nước Philíppin và Thái Lan từ năm 1996 đến 2002 cũng thành công trong chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu sang Trung Quốc. Trong khi đó, tỷ lệ hàng công nghiệp trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc từ Việt Nam hiện nay chỉ hơn 10% (các loại khoáng sản như dầu thô, than đá chiếm khoảng 70% và nông sản gần 20%). Như vậy, quan hệ ngoại thương giữa Việt Nam và Trung Quốc có đặc tính là sự phân công hàng dọc. Tôi đã có dịp phân tích cơ cấu ngoại thương này và gọi quan hệ kinh tế giữa Việt Nam, và Trung Quốc là quan hệ Bắc Nam. Xem Trần Văn Thọ (2002)., trong khi đó, như đã đề cập, các nước ASEAN khác triển khai phân công hàng ngang với thị trường lớn này. Đáng chú ý là thành quả của Philíppin: năm 1996 kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc chỉ lớn hơn một chút so với Việt Nam, nhưng cho đến năm 2002 đã tăng 8,6 lần và tăng tỷ trọng hàng công nghiệp lên đến trên 90%.

Trước mắt, nhiều người quan tâm về hiệu quả của chương trình Thu hoạch sớm. Các nước thành viên cũ của ASEAN xuất khẩu mạnh hàng công nghiệp sang Trung Quốc nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng nông phẩm cũng không nhỏ. Vào năm 2002, kim ngạch đó của Thái Lan là gần 1 tỷ USD, của Malaixia là 1,2 tỷ và Inđônêxia cũng 1,2 tỷ, trong khi Việt Nam chỉ có 202 triệu. Do đó hiệu quả của chương trình Thu hoạch sớm đối với ba nước thành viên cũ sẽ khá lớn. Đặc biệt, Thái Lan đã chuẩn bị rất chu đáo để tận dụng hiệu quả này: Chính phủ và doanh nghiệp Thái Lan từ khi xác định được thời điểm bắt đầu thực hiện chương trình Thu hoạch sớm từ cuối năm 2002 đã nỗ lực tiếp thị và mở rộng các kênh xuất khẩu hàng nông phẩm sang Trung Quốc. Do đó, khi chương trình có hiệu lực, thành quả của Thái Lan đã thấy rõ. Trong sáu tháng đầu năm 2004, xuất khẩu rau và trái cây của Thái Lan sang Trung Quốc đã đạt gần 600 triệu bạt, tăng khoảng 50% so với cùng kỳ năm trước (theo Ohizumi 2004). Việt Nam muốn tận dụng hiệu quả của chương trình Thu hoạch sớm thì ngay từ bây giờ phải tăng năng lực cung cấp đồng thời mở rộng các kênh xuất khẩu và tăng tiếp thị.

Về hàng công nghiệp, như đã nói ở trên, hiện nay mức thuế tại các nước thành viên cũ của ASEAN tương đối thấp, thuế ở Trung Quốc cao hơn. Với năng lực cung cấp hiện nay và kế hoạch tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài để mở rộng sản xuất, các nước Thái Lan, Malaixia, Philíppin… có triển vọng sẽ tăng xuất khẩu hàng công nghiệp sang Trung Quốc hơn nữa khi thuế suất giảm dần trong khuôn khổ FTA. Hai bên sẽ tiếp tục đẩy mạnh phân công hàng ngang trong ngoại thương. Riêng trường hợp Việt Nam, hiện nay thuế quan của nhiều mặt hàng công nghiệp đang rất cao mà hàng Trung Quốc vẫn thâm nhập vào được nên có thể dự đoán được rằng khi thuế quan được tiến hành cắt giảm trong khuôn khổ FTA, hàng công nghiệp Trung Quốc sẽ ào ạt vào thị trường Việt Nam nếu khả năng cạnh tranh của Việt Nam không thay đổi. Như vậy, quá trình công nghiệp hoá của Việt Nam sẽ gặp khó khăn. Mặt khác, thị trường Trung Quốc sẽ rộng mở hơn nhưng với năng lực cung cấp hiện nay, Việt Nam khó có thể tận dụng cơ hội do FTA với Trung Quốc mang lại.

Hiệu quả tĩnh của FTA đối với Việt Nam như vậy là đáng lo. Con đường duy nhất để khắc phục hiệu quả này là chủ động tạo ra một sự chuyển dịch đáng kể trong cơ cấu ngoại thương với Trung Quốc để làm phát sinh hiệu quả động của FTA mới tận dụng được cơ hội do FTA với Trung Quốc mang lại. Việt Nam sẽ hoàn toàn bãi bỏ hàng rào quan thuế đối với hàng công nghiệp Trung Quốc từ năm 2015 nhưng trước đó đã phải giảm đáng kể mức thuế quan. Do đó, thách thức sẽ đến trong 5 năm hoặc 6 năm tới. Thời gian không còn nhiều. Việt Nam phải tận dụng FDI, tìm mũi đột phá cho chiến lược công nghiệp hoá để đối phó có hiệu quả thánh thức này và tận dụng được cơ hội do thị trường Trung Quốc mang lại trong khuôn khổ FTA.

Kết luận

Kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh vừa trở thành thách thức vừa đem lại cơ hội (Trung Quốc cũng nhập khẩu nhiều, thị trường đang lớn mạnh) đối với các nước ASEAN. Hiệp định thương mại tự do giữa Trung Quốc và ASEAN đối với Trung Quốc có ý nghĩa về chính trị hơn là kinh tế nhưng đối với những nước thành viên cũ của ASEAN, hiệp định đã tăng thêm cơ hội để các nước trên đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường to lớn này. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là các nước này phải tăng cường năng lực cạnh tranh để tận dụng cơ hội đó. Chú trọng vấn đề cung cấp lao động lành nghề để thu hút FDI hơn nữa là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để tăng sức cạnh tranh.

Đối với Việt Nam, sự lớn mạnh của kinh tế Trung Quốc đang trở thành một thách thức lớn và CAFTA sẽ làm cho thách thức đó càng mạnh hơn. Để giảm thách thức và tận dụng được cơ hội do Trung Quốc mang lại, Việt Nam phải chuyển dịch nhanh cơ cấu xuất khẩu sang Trung Quốc, phải có khả năng cung cấp ngày càng nhiều mặt hàng công nghiệp cạnh tranh được trên thị trường Trung Quốc. Thu hút FDI là con đang ngắn nhất để đạt mục đích này.

( Xin mời bạn xem tiếp Phần 2 : Chiến lược công nghiệp hoá Việt Nam - GS TS Trần Văn Thọ ) tại trang Web: http://niemtin.free.fr/dongavavn2.htm.