NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Phần 2 : Chiến lược công nghiệp hoá Việt Nam - GS TS Trần Văn Thọ , Kiều bào Nhật Bản

Chương 7: Phát triển trong công bằng trong thời đại toàn cầu hoá: Một cách tiếp cận mới về công nghệ thông tin và kinh tế tri thức

Sự phát triển của công nghệ thông tin và khuynh hướng tự do hoá, thị trường hoá các hoạt động kinh tế đang lôi cuốn các nước đang phát triển hội nhập vào xu thế toàn cầu hoá. Nhiều vấn đề rất mới đang đặt ra cho các nước này. Toàn cầu hoá sẽ ảnh hưởng như thế nào đến quá trình phát triển của các nước tiến sau? Các nước đang phát triển phải có chiến lược, chính sách như thế nào để lợi dụng tối đa các mặt tích cực của toàn cầu hoá và tránh những rủi ro và bất ổn định trong thời đại này ?

Chương này phân tích vấn đề phát triển trong công bằng của một nước đang phát triển trong thời đại toàn cầu hoá. Sau đây sẽ bàn về các khái niệm và đưa ra một khung lý luận để phân tích vấn đề phát triển trong công bằng này trong thời đại toàn cầu hoá, cuối cùng bàn về chiến lược, chính sách để có phát triển công bằng tại Việt Nam.

7.1. Thế nào là sự phát triển trong công bằng ?

Trước hết cần xác định thế nào là công bằng? Công bằng xã hội về phương diện kinh tế không có nghĩa là thành quả phát triển của xã hội được chia đồng đều cho mọi người. Công bằng trước hết phải được hiểu là sự bình đẳng trong cơ hội (equal opportunity), cơ hội làm việc, cơ hội đầu tư, nghĩa là bình đẳng trong việc tiếp cận những cơ hội mà với cố gắng và năng lực con người có thể đạt đến một mức sống cao hơn hiện nay. Mặt khác, những cơ hội như vậy phải có nhiều mới đáp ứng được nhu cầu làm việc của mọi tầng lớp dân chúng. Nói khác đi, nếu mọi tầng lớp dân chúng đều có cơ hội tham gia quá trình phát triển và được hưởng thành quả tương ứng với sức lực, khả năng và trí tuệ của họ thì đó là sự phát triển trong công bằng. Có thể nói, phát triển là sự tạo ra không ngừng những cơ hội làm việc và công bằng khi mọi người trong xã hội được tiếp cận bình đẳng những cơ hội đó. Trong trường hợp này, thành quả của sự phát triển sẽ được phân phối một cách công bằng (và không nhất thiết phải đồng đều), nghĩa là sự cách biệt về lợi tức (mức thu nhập) giữa các giai tầng trong xã hội chỉ ở một khoảng cách thoả đáng, phản ảnh sự cách biệt trong cố gắng, trong khả năng và trí tuệ của từng nguời.

Về khuynh hướng thay đổi của sự phân phối thu nhập trong quá trình phát triển kinh tế của một nước, giả thuyết của Kuznets (1955) được nhiều người biết đến. Theo Kuznets, hệ số Gini (hệ số diễn tả tình trạng phân phối lợi tức, hệ số càng lớn tình trạng bất bình đẳng càng mạnh) của một nước lúc đầu thấp nhưng từ từ tăng lên trong quá trình phát triển, sau khi đạt đỉnh cao, hệ số sẽ giảm. Đồ thị biểu diễn quá trình ấy sẽ vẽ ra một hình chữ U ngược. Hiện tượng này có thể giải thích như sau: khi nền kinh tế chưa phát triển thì sự phân phối lợi tức tương đối bình đẳng vì hầu như ai cũng nghèo như nhau trong một nước nông nghiệp lạc hậu. Khi kinh tế bắt đầu phát triển, một bộ phận lao động được đưa vào trong những ngành có năng suất cao; tầng lớp chủ doanh nghiệp, tầng lớp quản lý, chuyên viên ra đời, hình thành một giai tầng có lợi tức cao trong xã hội, làm cho sự cách biệt giàu nghèo trong xã hội có khuynh hướng tăng. Nhưng sau một quá trình phát triển dài, lao động xã hội được toàn dụng thì sự phân phối lợi tức có khuynh hướng bình đẳng trở lại.

Về phương diện kiểm chứng thực tế, giả thuyết Kuznets trong nhiều trường hợp được ủng hộ khi so sánh nhiều nước ở nhiều trình độ phát triển khác nhau, nhưng chưa rõ ràng khi khảo sát quá trình phát triển của từng nước riêng biệt. Xem, chẳng hạn, Perkin và những người khác (2001), tr. 129-130.. Dù sao, giả thuyết này đã cho một gợi ý đáng tham khảo là trong quá trình đạt đến giai đoạn toàn dụng nhân công, việc mở rộng trạng thái bất bình đẳng trong phân phối thu nhập là khó tránh khỏi. Tuy nhiên, tùy theo chiến lược phát triển, mức độ mở rộng đó có thể được kìm hãm ở mức thấp. Nói khác đi, đỉnh cao của chữ U ngược có thể hạ xuống thấp bằng một chiến lược phát triển trong công bằng với ý nghĩa như đã đề cập.

Để có một chiến lược phát triển trong công bằng ở một nước nông nghiệp, phải đẩy mạnh công nghiệp hoá với ưu tiên phát triển các ngành có hàm lượng lao động cao. Mô hình phát triển hai khu vực (truyền thống và hiện đại) của Lewis (1954) cho thấy tư bản nếu được tích luỹ liên tục trong khu vực hiện đại (chủ yếu là công nghiệp) sẽ thu hút dần lao động dư thừa trong khu vực truyền thống (chủ yếu là nông nghiệp). Trong mô hình này, thị trường lao động được xem là đã phát triển hoàn hảo nên không có sự chênh lệch về thu nhập giữa lao động trong công nghiệp và lao động còn ở lại trong nông nghiệp. Nhưng trên thực tế thì không phải vậy, lao động trong công nghiệp có mức thu nhập cao hơn nhiều so với nông dân. Tại sao như vậy? Vì chất lượng, trình độ hiểu biết của lao động được chuyển sang lĩnh vực công nghiệp cao hơn người nông dân còn lại trong lĩnh vực truyền thống.

Do đó, điều quan trọng ở đây là tăng cường giáo dục cơ bản (basic education), giáo dục phổ thông ở nông thôn, tạo điều kiện để lao động nông thôn di chuyển sang lĩnh vực công nghiệp. Chiến lược công nghiệp hoá ưu tiên phát triển các ngành có hàm lượng lao động cao song song với việc đẩy mạnh giáo dục cơ bản ở nông thôn là tiền đề để thực hiện sự phát triển trong công bằng. Đồng thời, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở nông thôn tạo điều kiện cho nông dân đa dạng hoá nông phẩm và tiếp cận thị trường sẽ góp phần hạ thấp đỉnh cao của hình chữ U ngược, thực hiện được chính sách phát triển nhanh nhưng không mở rộng độ chênh lệch giàu nghèo trong quá trình phát triển. Kinh nghiệm các nước ở Đông Á đã chứng minh điểm này. Xem, chẳng hạn, Oshima (1987), World Bank (1993), World Bank (1995), Trần Văn Thọ (1997)..

7.2. Tiếp cận vấn đề phát triển công bằng trong thời đại toàn cầu hoá

Khung phân tích trên đây cần được sửa đổi thế nào khi xét đến vấn đề toàn cầu hoá?

Về phương diện kinh tế, toàn cầu hoá là hiện tượng di động trên quy mô toàn cầu của hàng hoá và các yếu tố sản xuất như tư bản, công nghệ, tri thức quản lý kinh doanh. Trong quá trình toàn cầu hoá, thị trường trong nước ngày càng liên kết sâu rộng với thị trường thế giới.

Quá trình toàn cầu hoá được đẩy mạnh từ đầu thập niên 1990 do hai yếu tố: một là sự đồng loạt chuyển sang kinh tế thị trường của hàng loạt các nước, nhất là các nước ở Đông Âu và khuynh hướng tự do hoá các hoạt động kinh tế ngày càng mạnh tại hầu hết các khu vực khác. Dân số thế giới tham gia vào kinh tế thị trường đã tăng từ 2,5 tỷ người vào cuối thập niên 1980 lên hơn 4 tỷ nguời vào giữa thập niên sau. Yếu tố thứ hai là sự phát triển của công nghệ thông tin (IT). Từ đầu thập niên 1990, công nghệ thông tin bùng nổ mạnh, vào cuối năm 2000 đã có 390 triệu người dùng internet, tính trung bình mỗi ngày tăng 150.000 người, đến cuối năm 2003 con số tăng lên 688 triệu người. Thị trường công nghệ thông tin thế giới hàng năm hiện nay đã lên tới 1.500 tỷ USD. Theo International Telecommunications Union, Yearbook of Statistics 2000 (Geneva). Ở đây trích dẫn theo Hirono (2001). Công nghệ thông tin phát triển rộng rãi một mặt làm giảm nhanh phí tổn tìm kiếm thị trường và các phí tổn giao dịch (transaction cost) khác về hàng hoá và các yếu tố sản xuất, thúc đẩy xu hướng toàn cầu hoá các hoạt động kinh tế trên thế giới. Mặt khác, công nghệ thông tin phát triển làm tăng hàm lượng thông tin trong hoạt động sản xuất, lưu thông, phân phối.

Trong nhiều trường hợp, nền kinh tế có hàm lượng cao về công nghệ thông tin thường đồng nghĩa với kinh tế tri thức mặc dù kinh tế tri thức có phạm vi rộng hơn. Thông tin và tri thức ảnh hưởng đến phát triển kinh tế theo hai mặt: một là những ngành có hàm lượng tri thức, hàm lượng thông tin cao ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế, hai là thông tin, tri thức được áp dụng rộng rãi trong mọi mặt của hoạt động kinh tế. Trong mặt thứ nhất, các ngành có hàm lượng thông tin, tri thức cao lại có thể chia làm hai loại: một là các loại máy móc chuyển tải thông tin và tri thức, có thể gọi là các ngành thuộc phần cứng (hardware) như máy tính điện tử, máy điện thoại di động, thiết bị viễn thông, các linh kiện điện tử, v.v.. Hai là các ngành thuộc phần mềm (software), như dịch vụ viết phần mềm, dịch vụ xử lý dữ liệu, thông tin, v.v.. Trong các ngành này, ảnh hưởng của công nghệ thông tin và tri thức cũng có hai trường hợp: một là thông tin và tri thức áp dụng trong quản lý (về nhân sự, về tài vụ, tồn kho, v.v.), điều tra và tiếp cận thị trường, lưu thông, phân phối; hai là áp dụng trong nghiên cứu và triển khai (R&D), ứng dụng, trong việc tìm kiếm các mô hình, các mẫu mã mới, v.v..

Tóm lại, trong thời đại toàn cầu hóa, hoạt động kinh tế của một nước ngày càng hướng ngoại và vai trò của tri thức, của công nghệ thông tin ngày càng quan trọng.

Khuynh hướng tự do hoá các hoạt động kinh tế trên quy mô toàn cầu kết hợp với tác động của công nghệ thông tin làm cho các dòng chảy tư bản, công nghệ và tri thức kinh doanh di chuyển nhanh chóng từ nước này sang nước khác. Lợi thế so sánh của một nước trong một ngành công nghiệp cũng có thể thay đổi nhanh theo khuynh hướng như vậy. Đối với các nước đang phát triển, nếu đón nhận có hiệu quả các dòng chảy tư bản và công nghệ này, toàn cầu hoá sẽ trở thành một cơ hội phát triển, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước đi trước, nhưng toàn cầu hoá cũng là thách thức lớn vì kinh tế có thể biến động mạnh kéo theo các sự bất ổn về chính trị và xã hội.

Với các đặc tính này, thời đại toàn cầu hoá ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề phát triển trong công bằng? Cũng xuất phát từ các khái niệm cơ hội bình đẳng, tham gia rộng rãi trong quá trình phát triển, ta có thể phân tích vấn đề này từ hai phương diện: một là ảnh hưởng của sự mở cửa thị trường trong nước, hội nhập tích cực với thị trường thế giới, hai là công nghệ thông tin, kinh tế tri thức ảnh hưởng như thế nào đến cơ hội tham gia phát triển của đại đa số dân chúng.

Trước hết là ảnh hưởng của chính sách hướng ngoại, mở cửa thị trường. Không phải đợi đến thời đại toàn cầu hoá mà từ thập niên 1970, nhất là từ thập niên 1980, nhiều nước đang phát triển đã chuyển chiến lược công nghiệp hoá từ thay thế nhập khẩu sang hướng ngoại và xúc tiến xuất khẩu. Hai chiến lược này khác nhau ở một điểm quan trọng là chính sách hướng ngoại và xúc tiến xuất khẩu phát huy được lợi thế so sánh của đất nước. Nói khác đi, trong một nước có lao động dư thừa, các doanh nghiệp phải đầu tư vào các ngành có hàm lượng lao động cao và phải áp dụng công nghệ tận dụng lao động thì mới cạnh tranh được trên thị trường thế giới. Ngược lại, chiến lược thay thế nhập khẩu có khuynh hướng đẩy mạnh việc phát triển các ngành có hàm lượng tư bản cao, ít thu hút lao động và được bảo hộ trong thời gian dài. Tại nhiều nước, doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ chốt trong chiến lược thay thế nhập khẩu này.

Nhìn từ góc độ phát triển trong công bằng, rõ ràng chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu có khuynh hướng mang lại công bằng xã hội hơn vì góp phần tạo cơ hội để ngày càng nhiều lao động tham gia vào quá trình phát triển. Đã có nhiều ý kiến phê phán chiến lược xúc tiến xuất khẩu là tạo điều kiện để công ty đa quốc gia đến bóc lột sức lao động của nước đang phát triển vì động cơ đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài là tận dụng nhân công rẻ. Tuy nhiên, nhận xét này chỉ đúng nếu so với mức luơng tại các nước không còn lao động dư thừa. Còn trong nội bộ một nước có lao động dư thừa, vấn đề sẽ khác. Trong các nước này, lao động tại các doanh nghiệp có vốn nước ngoài có thể có mức lương thấp hơn lao động tại các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp được bảo hộ khác trong chiến lược thay thế nhập khẩu, nhưng các doanh nghiệp được bảo hộ thì chỉ thu hút một bộ phận lao động quá nhỏ, gây ra tình trạng một nhóm nhỏ lao động có may mắn được làm việc với mức lương cao trong khi số đông dân chúng phải thất nghiệp. Điều này rõ ràng tạo ra bất công xã hội. Kinh nghiệm các nước Đông Á cho thấy, trong dài hạn, các nước càng có chiến lược hướng ngoại, tiền lương thực chất càng tăng cao. Xem, Perkin và những người khác (2001), tr. 712 (Bảng 18.5).. Một điểm nữa, như Hayami (2000) nhấn mạnh, là những doanh nghiệp được bảo hộ trong chiến lược thay thế nhập khẩu, thường là những doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm trung gian, vì thiếu cạnh tranh và chỉ sản xuất cho thị trường trong nước nên đưa ra thị trường những sản phẩm với giá cao và chất lượng thấp, mà tầng lớp phải chịu hậu quả là nông dân và các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thu hút nhiều lao động vì sản xuất các sản phẩm tiêu thụ cuối cùng nhưng hoạt động trong môi trường như vậy không thể phát triển mạnh ra thị trường thế giới.

Như vậy, có thể nói chiến lược hướng ngoại có khuynh hướng tạo sự phát triển trong công bằng. Điểm này cũng được nhấn mạnh trong nghiên cứu của Fei, Ranis and Kuo (1979) về Đài Loan, hoặc của Berry (1992) về một số nước khác. Xem thêm các tài liệu trong World Bank (1995).. Từ gợi ý này, ta có thể nói, hội nhập vào xu hướng toàn cầu hoá trước hết sẽ làm cho các ngành, các công ty làm ăn kém hiệu quả, dựa vào bảo hộ để tồn tại, sẽ phải mất dần hoặc chuyển hướng để thích nghi với cạnh tranh hoặc nhường chỗ cho các doanh nghiệp tận dụng được lợi thế so sánh của đất nước. Về điểm này, có thể nói thời đại toàn cầu hoá tạo điều kiện để có sự phát triển trong công bằng.

Tuy nhiên, ở đây còn vấn đề về khả năng thích ứng của lao động trong thời đại toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá ảnh hưởng đến công ăn việc làm và đời sống của người dân tại một nước đang phát triển như thế nào?

Thứ nhất, toàn cầu hoá thúc đẩy sự di chuyển của tư bản, công nghệ, tri thức kinh doanh, nhưng lao động thì di chuyển rất ít. Chẳng hạn, luồng đầu tư trực tiếp trên thế giới vào năm 1999 đã lên tới 866 tỷ USD, tăng gấp 4 lần đến 5 lần so với dòng chảy trung bình hàng năm trong giai đoạn 1988 - 1993 (UNCTAD 2000, tr. 283), trong khi số người di cư từ nước này sang nước khác hiện nay cũng chỉ tăng trung bình 2% mỗi năm và mới chỉ chiếm 2,3% dân số thế giới. Theo Kohsaka (2000) trích dẫn từ tính toán của IMF.. Như vậy, lao động hầu như cố định tại mỗi nước trong khi các yếu tố sản xuất khác thì di chuyển nhanh với tốc độ ngày càng cao. Với sự phát triển của công nghệ, kỹ thuật, ngày càng ra đời nhiều sản phẩm mới, công nghệ mới rút ngắn chu kỳ sản xuất và tiêu thụ của hàng hoá. Do đó, cơ sở sản xuất của các sản phẩm cũng di chuyển nhanh từ nước này sang nước khác. Điều đó cũng có nghĩa là lợi thế so sánh của một quốc gia luôn luôn bị đặt trong trạng thái động, các nước đang phát triển ngày càng bị đặt trong sự chọn lựa của các công ty đa quốc gia. Trong thời đại toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia chọn lựa nước để đầu tư chứ không có chuyện ngược lại. Vì vậy, lao động tại các nước đang phát triển cũng bị động và bị đặt trong trình trạng bất ổn định.

Thứ hai, như trên đã nói, toàn cầu hoá đi liền với sự phát triển của công nghệ thông tin và kinh tế tri thức, làm cho thị trường lao động thay đổi lớn về chất, ngày càng thiếu hụt lao động có trình độ cao về công nghệ thông tin và tri thức nói chung, trong khi lao động giản đơn, lao động không được tiếp cận công nghệ thông tin thì ngày càng dư thừa. Theo Low (1998, tr. 30), cuộc cách mạng công nghệ thông tin mang tính toàn cầu ngày nay gây ra vấn đề thất nghiệp trên quy mô toàn cầu (global unemployment). Hiện nay, số người không có việc làm đã lên tới 800 triệu. Lao động không lành nghề là rất bất lợi trong các cơ hội kiếm việc làm. Sự cách biệt về trình độ giáo dục, tri thức và cách biệt về khả năng tiếp cận thông tin (digital divide) giữa hai nhóm lao động cũng ngày càng làm tăng khoảng cách thu nhập. Tư liệu của World Bank (2000/2001) cho thấy chênh lệch tiền lương của giới lao động lành nghề và lao động không lành nghề tại Mêhicô từ cuối thập niên 1980 đến nay đã mở rộng đáng kể.

Như vậy, toàn cầu hoá và sự phát triển của công nghệ thông tin đã đặt ra vấn đề mới về sự phát triển trong công bằng. Theo giả thuyết của Kuznets, tại những nước đã qua một giai đoạn phát triển, sự phân phối thu nhập có khuynh hướng bình đẳng hoá. Tuy nhiên, nghiên cứu trường hợp của Thái Lan, Ikemoto and Uehara (2000) cho thấy là đường cong Kuznets xuất hiện nhiều lần, nghĩa là sự phân phối thu nhập có khuynh hướng bất bình đẳng trở lại khi có sự xuất hiện của nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ với năng suất cao.

Tuy vậy, ta vẫn có thể xuất phát từ khung phân tích cũ (với các thuật ngữ cơ hội bình đẳng, tham gia rộng rãi) để luận về vấn đề phát triển trong công bằng trong thời đại toàn cầu hoá. Trước hết, ở đây cần phân biệt nền kinh tế có hàm lượng thông tin và tri thức cao với một nền kinh tế chú trọng phổ biến thông tin và tri thức đến các tầng lớp dân chúng ở nhiều mức độ khác nhau tuỳ theo trình độ giáo dục của mỗi tầng lớp. Trong một nước nông nghiệp mà lao động giản đơn, chủ yếu là nông dân, còn dư thừa quá nhiều, không thể chỉ nhấn mạnh kinh tế tri thức ở trường hợp thứ nhất, không thể cùng một lúc giải quyết vấn đề chênh lệch về khả năng tiếp cận thông tin trên bình diện quốc gia. Trong một thời gian nhất định, chẳng hạn là 20 năm, không thể tri thức hoá toàn dân trong một đất nước như vậy. Chính sách giáo dục vẫn phải theo một cơ cấu hình tháp, trong đó tất cả các giai tầng cần được nâng lên từng bước. Tuy nhiên, tạo điều kiện để mọi giai tầng tiếp cận được thông tin và tri thức ở nhiều mức độ khác nhau thì kinh tế không những phát triển mà công bằng xã hội cũng được thực hiện. Cuộc cách mạng xanh là thành quả của nghiên cứu khoa học, của việc khám phá và áp dụng tri thức, nhưng thành tựu khoa học này chỉ đơm hoa kết trái trong điều kiện tri thức được phổ biến đến nông thôn để nông dân với trình độ giáo dục cơ bản, phổ thông cũng đủ khả năng áp dụng thành quả ấy vào hoạt động nông nghiệp. Xem World Bank (1998/1999), tr.4-6.. World Bank (2000/2001), đã đưa ra nhiều trường hợp người dân ở miền quê các nước nghèo như Bănglađét nhờ tiếp cận được thông tin mà tránh được sự ép giá của những thương gia trung gian đối với sản phẩm chăn nuôi ít ỏi của mình. Như vậy, trong một nước nông nghiệp còn ở trình độ phát triển thấp, còn nhiều chuyện phải làm của một nền kinh tế cũ (old economy) để thực hiện phát triển trong công bằng trước khi nói đến chiến lược phát triển một nền kinh tế mới (new economy), kinh tế tri thức.

Tất nhiên, ở đây không nên bỏ qua vấn đề phát triển công nghệ thông tin, phát triển những ngành có hàm lượng tri thức cao. Nếu có điều kiện, các nước đang phát triển có thể đẩy mạnh các ngành này để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước. Về mặt phương pháp luận, ta có thể tu chỉnh mô hình hai khu vực của Lewis nói ở trên. Ngoài hai khu vực truyền thống mà chủ yếu là nông nghiệp (tạm gọi là khu vực a. và khu vực hiện đại chủ yếu là công nghiệp (khu vực m) trong mô hình Lewis, ta có thể thêm vào khu vực thứ ba với đặc tính là khu vực có hàm lượng cao về công nghệ thông tin và tri thức (khu vực e). Để đơn giản hoá, ở đây không nói đến các ngành dịch vụ, thương nghiệp, hành chính sự nghiệp, v.v.. Tuỳ theo trình độ lao động làm việc ở các ngành này, có thể xếp những ngành chủ yếu dùng lao động giản đơn vào khu vực a, và những ngành đòi hỏi trình độ giáo dục cao (như ngân hàng, bảo hiểm...) vào khu vực m. Do đó, bản chất của vấn đề không thay đổi dù đơn giản hoá thành ba khu vực.. Ba khu vực cùng phát triển song song, lao động sẽ di chuyển từ khu vực a sang m, và từ m sang e. Quá trình di chuyển chỉ xảy ra khi trình độ giáo dục ở cả hai khu vực a và m được nâng cao. Lao động di chuyển từ khu vực này sang khu vực khác ở đây bao gồm cả số lao động mới sẽ được tham gia vào thị trường. Nếu được đào tạo đúng theo nhu cầu của hai khu vực m và e, sẽ có rất ít lao động mới làm việc trong khu vực a.. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, ranh giới giữa m và e trong nhiều trường hợp bị lu mờ, nhất là về mặt lao động vì nhiều ngành công nghiệp ngày càng ứng dụng thành quả của công nghệ thông tin trong quản lý và sản xuất. Do đó, đẩy mạnh giáo dục và đào tạo trong công nghệ phần mềm không chỉ làm cho khu vực e phát triển mà còn tạo điều kiện cho khu vực m ngày càng được thông tin hoá và tri thức hoá. Tuy nhiên, vấn đề giáo dục và đào tạo trong mô hình ba khu vực không thể dừng lại ở đây. Phải song song đẩy mạnh giáo dục cơ bản nữa để lao động di chuyển từ a sang m.

Đó cũng là điều kiện cần để có phát triển trong công bằng. Trong thời đại toàn cầu hoá, tầng lớp có thu nhập thấp và chủ yếu là cung cấp lao động giản đơn dễ bị bần cùng hoá khi có biến động lớn. Xem, chẳng hạn, World Bank (1998) và Boot (1999) về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đối với tầng lớp nghèo tại châu Á.. Nhiều người cho rằng cần phải xây dựng mạng lưới an toàn xã hội (social safety net) để cứu vớt tầng lớp này. Tuy nhiên, mạng lưới này không đủ khả năng giải quyết vấn đề đời sống lâu dài cho một tầng lớp đông đảo như vậy. Chiến lược giải quyết căn bản là triệt để phổ cập giáo dục cơ bản, xây dựng cơ sở hạ tầng hướng vào người nghèo, nhất là cơ sở hạ tầng ở nông thôn để mọi người dân dễ tiếp cận thông tin, thị trường, song song với một chiến lược ổn định vĩ mô, tăng cường nền tảng kinh tế cơ bản (fundamentals) để tránh khủng hoảng kinh tế trong thời đại toàn cầu hoá. Chiến lược lợi dụng cơ hội và tránh các rủi ro do thời đại toàn cầu hoá mang lại được phân tích kỹ trong Trần Văn Thọ và những người khác (2001).. Với chiến lược này, nông dân và những người nghèo khác nếu có nỗ lực vươn lên thì sẽ tham gia được vào quá trình phát triển.

Như đã nhấn mạnh nhiều lần, để có công bằng xã hội, phải tạo ra nhiều công ăn việc làm, tạo điều kiện để mọi người tiếp cận bình đẳng các cơ hội làm việc. Nếu chính sách này được áp dụng triệt để thì dù cho kết quả của sự phân phối thu nhập có khuynh hướng mở rộng trong một giai đoạn phát triển của nền kinh tế, vẫn không thể coi đó là dấu hiệu của sự phát triển không công bằng.

Ở đây cần bàn thêm về đường cong Kuznets. Theo gợi ý từ nghiên cứu của Ikemoto và Uehara (2000) đã được đề cập ở trên, có thể phải tu chỉnh khuynh hướng của đường cong này. Có thể nói, khi lao động dư thừa ở khu vực a chuyển hết sang khu vực m, đường cong Kuznets sẽ đạt đến một điểm cao, nhưng sau đó quá trình di chuyển từ m sang e (hoặc lao động có hàm lượng công nghệ thông tin cao di chuyển trong nội bộ khu vực m) vẫn tiếp tục nên độ chênh lệch về thu nhập của toàn xã hội có thể chưa cho thấy một sự thu hẹp đáng kể. Nói khác đi, có thể có đường cong với nhiều điểm cao khác nhau. Tuy nhiên, chính sách phát triển trong công bằng không phải là tránh hiện tượng đó mà phải làm sao để hạ thấp đường cong này. Thực hiện chiến lược phát triển thu hút nhiều lao động và triệt để thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong cơ hội sẽ đi gần đến lý tưởng phát triển trong công bằng.

7.3. Toàn cầu hoá và vấn đề phát triển trong công bằng tại Việt Nam

Từ khung phân tích trên, ta thử đánh giá quá trình phát triển kinh tế Việt Nam trong khoảng 10 năm qua và thử đề khởi một phương hướng để thực hiện phát triển trong công bằng trong thời đại toàn cầu hoá.

Phát triển kinh tế và phân phối thu nhập tại Việt Nam từ đầu thập niên 1990

Từ năm 1992 đến năm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á (năm 1997), kinh tế Việt Nam phát triển với tốc độ cao và ổn định, mỗi năm trên 8%. Tính theo GDP trên đầu nguời thì trong thời kỳ này, Việt Nam đạt được thành quả tương đương với Hàn Quốc và Đài Loan trong giai đoạn 1973-1996 ( trên dưới 6,5% mỗi năm ). Sau cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á, kinh tế Việt Nam phát triển chậm lại ( GDP tăng 4% đến 5% trong hai năm 1998 và 1999 ) nhưng năm 2000 hồi phục lại mức 6% và tăng lên 7% đến 8% trong những năm tiếp theo.. Ở đây, ta không có chủ đích trực tiếp bàn về các yếu tố đưa đến thành quả phát triển này, nhưng có thể nêu ra hai yếu tố lớn như sau: thứ nhất, cùng với các chính sách ổn định vĩ mô, chính sách mở cửa và các cải cách khác, với hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, Việt Nam đã thu hút một lượng tư bản nước ngoài khá lớn dưới hai hình thức đầu tư trực tiếp (FDI) và viện trợ phát triển (ODA). Đặc biệt, tỷ lệ của FDI trong tổng đầu tư lên tới 25% trong giai đoạn 1990 - 1995, 24% trong giai đoạn 1996 - 2000 và 17% trong giai đoạn 2001 - 2005 (Theo Bộ Kế hoạch và đầu tư 2005, tr.31). Tỷ lệ này giảm dần qua các giai đoạn nhưng vị trí của FDI trong nền kinh tế như vậy là tương đối cao so với kinh nghiệm quốc tế, mặc dù nhu cầu FDI đối với Việt Nam lớn hơn nhiều (sẽ bàn thêm trong Chương 12). Thứ hai, công nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong khoảng 10 năm phát triển vừa qua. Công nghiệp ở đây không phải chỉ có các ngành chế biến, chế tác (manufacturing) mà bao gồm cả khai thác quặng mỏ và các ngành điện lực, khí đốt và cung cấp nước. Tuy nhiên, ngành chế biến chiếm 80% tổng giá trị sản xuất công nghiệp vào năm 1997 (Theo tư liệu của Tổng cục thống kê).. Trong giai đoạn 1992-1997, công nghiệp phát triển trung bình mỗi năm 13% đến 14% trong khi nông nghiệp là 4% đến 5%. Từ năm 1998, công nghiệp giảm tốc độ phát triển nhưng vẫn giữ mức 10%, tiếp tục đóng vai trò đầu tàu của cả nền kinh tế.

Tuy công nghiệp phát triển nhanh nhưng không thay đổi được cơ cấu lao động. Lao động vẫn chủ yếu tập trung trong nông nghiệp. Tỉ lệ của khu vực nông lâm thuỷ sản từ năm 1990 đến 2000 chỉ giảm vài phần trăm, từ 72% xuống 68%. Công nghiệp chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong nền kinh tế nhưng sức thu hút lao động rất yếu. Tỷ lệ của công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ 23,5% năm 1991 lên 34,5% năm 1999 nhưng tỷ lệ của các ngành đó trong tổng lao động có việc làm lại giảm từ 12,4% còn 12,1% trong thời gian này. Số liệu ước tính năm 2005 của Bộ Kế hoạch và đầu tư (2005) cho thấy tỷ lệ của khu vực nông lâm thuỷ sản giảm xuống 57% trong khi công nghiệp và xây dựng tăng lên 18%, một khuynh hướng đáng ghi nhận trong 5 năm qua. Tuy nhiên, trên căn bản dù công nghiệp phát triển nhanh song vẫn còn ít lao động di chuyển ra khỏi nông nghiệp như mô hình của Lewis dự tưởng. Nói chính xác hơn, công nghiệp phát triển có tạo ra một số lượng công ăn việc làm nhưng quá nhỏ bé, trong lúc đó lực lượng lao động lại tiếp tục tăng và chủ yếu tăng trong nông nghiệp.

Tại sao công nghiệp phát triển nhưng lại tạo ra ít công ăn việc làm? Nguyên nhân cơ bản là trong thời gian qua, các ngành công nghiệp nặng được ưu đãi, được bảo hộ nên phát triển mạnh nhưng là những ngành cần nhiều vốn và có hàm lượng lao động thấp. Như trên đã nói, FDI có vai trò lớn nhưng công nghiệp nặng chiếm tới 64% trong tổng FDI lĩnh vực công nghiệp (theo thống kê tính từ thời điểm có FDI đến tháng 06-2000). FDI vì vậy hướng vào các ngành thay thế nhập khẩu như Sachs và những người khác (1997) nhấn mạnh. Một chủ thể quan trọng khác xúc tiến phát triển các ngành công nghiệp nặng là các doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước từ năm 1994 tổ chức thành nhiều tổng công ty vừa độc quyền vừa được bảo hộ và liên kết chặt chẽ với FDI (hơn 90% các dự án có vốn đầu tư nước ngoài là các liên doanh giữa doanh nghiệp nhà nước với công ty nước ngoài). Theo báo Đầu tư, số ra ngày 16-06-2001, thị phần trong nước của Tổng công ty thép là 60%, Tổng công ty ximăng là 59%, và giấy là 50%.. Trong sản lượng công nghiệp, tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp nhà nước giảm từ 62% năm 1990 xuống 44% năm 1999, nhưng do tỷ lệ của các công ty có vốn nước ngoài (trong đó doanh nghiệp nhà nước góp 30% vốn) tăng vọt từ 9% đến 35% trong thời gian đó (World Bank 2000, tr. 28). Như vậy, các công ty tư nhân trong nước (phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa) trong sản xuất công nghiệp đã giảm từ 29% xuống còn 21% trong giai đoạn này.

Theo tính toán của World Bank (2000), tại Việt Nam, các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa có khuynh hướng đầu tư vào những ngành sử dụng nhiều lao động so với cả doanh nghiệp nhà nước và các công ty có vốn nước ngoài. Tuy nhiên, các công ty tư nhân gặp nhiều khó khăn trong việc thành lập và hoạt động so với hai loại doanh nghiệp kia. Thứ nhất là không được ưu đãi về vốn, khó khăn trong việc vay vốn ngân hàng, nhất là vốn dài hạn. Thứ hai là thủ tục hành chính để một doanh nghiệp ra đời quá nhiêu khê và hệ thống kiểm tra hoạt động doanh nghiệp quá phiền toái làm tăng phí tổn hành chính của doanh nghiệp (tình hình có được cải thiện từ khi có Luật doanh nghiệp, có hiệu lực từ tháng 1-2000). Thứ ba, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường sản xuất các sản phẩm tiêu thụ cuối cùng nhưng phải mua các sản phẩm trung gian với giá cao từ doanh nghiệp nước ngoài hoặc doanh nghiệp nhà nước. Những sản phẩm trung gian này là những hàng thay thế nhập khẩu được bảo hộ bằng thuế rất cao và thường là do các công ty độc quyền cung cấp nên giá cao. Chẳng hạn, thuế suất trong ngành luyện kim là 256%, nhựa và sản phẩm nhựa là 185%, giấy và sản phẩm giấy là 118%, v.v., ( World Bank 2000, tr. 25 ).

Tình trạng nói trên ảnh hưởng như thế nào đến việc phân phối thu nhập? Kinh tế phát triển với tốc độ tương đối cao và chính sách xoá đói giảm nghèo đã góp phần làm cho tỷ lệ số dân sống dưới ranh giới nghèo khổ (poverty line) giảm nhanh, từ 58% năm 1993 còn 37% năm 1998, 33% năm 2000 và 22% năm 2005. Tuy nhiên, vì lao động dư thừa vẫn còn quá nhiều ở nông thôn, năng suất nông nghiệp thấp nên tỷ lệ số người sống dưới ranh giới nghèo khổ riêng ở nông thôn là 45% ( năm 1998 ), và 80% ( năm 1998 ) số người nghèo của cả nước sống ở nông thôn. Khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn ngày càng mở rộng. Năm 1990, thu nhập bình quân của người dân nông thôn bằng 25% thu nhập người thành phố, nhưng vào năm 1994, tỷ lệ đó giảm còn 18%. Từ năm 1993 đến năm 1998, thu nhập của người dân nông thôn chỉ tăng 30% trong khi ở thành thị là 61%. Vào năm 1993, chi tiêu trung bình của nguời thành phố bằng 1,8 lần người thôn quê, nhưng đến năm 1998 tăng lên 2,2 lần. Các số liệu này lấy từ Poverty Working Group (1999), riêng thống kê các năm 1990 và 1994 lấy từ Vũ Quang Việt (1997)..

Như vậy, trong khoảng 10 năm qua, tuy kinh tế phát triển nhanh nhờ các chính sách đổi mới, mở cửa theo hướng tích cực du nhập tư bản nước ngoài nhưng chiến lược công nghiệp hoá trên căn bản là thay thế nhập khẩu, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và được đẩy mạnh bởi doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài trong một thể chế bảo hộ thương mại. Chiến lược công nghiệp hoá này vừa ít tạo công ăn việc làm vừa gây trở ngại cho việc phát triển các công ty nhỏ và vừa nên không giải quyết được vấn đề lao động dư thừa ở nông thôn, làm cho thu nhập giữa nông thôn và thành phố ngày càng mở rộng.

Chiến lược phát triển công bằng trong thời đại toàn cầu hoá

Phân tích ở phần phương pháp luận và phần liên quan đến tình hình phát triển ở Việt Nam từ đầu thập niên 1990 đã gợi mở các vấn đề chiến lược, chính sách mà Việt Nam cần xây dựng để thực hiện phát triển công bằng trong thời đại toàn cầu hoá. Có thể rút ra một số điểm chính với phân tích bổ sung như sau:

Thứ nhất, cần tạo môi trường để các ngành công nghiệp có hàm lượng lao động cao phát triển mạnh mẽ, trong đó có vai trò quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Môi trường đó hy vọng sẽ được xác lập khi Việt Nam thực hiện xong chương trình giảm thuế quan trong khuôn khổ hợp tác của AFTA (Khu vực thương mại tự do ASEAN), theo dự định là năm 2006. Việc ký hiệp định thương mại với Mỹ và việc chuẩn bị gia nhập WTO có tác dụng giảm bảo hộ tràn lan, giảm đặc quyền đặc lợi trong công ty nhà nước và minh bạch hoá các chính sách, các quyết định chiến lược. Mở cửa là một thách thức lớn đối với công ty trong nước nói chung nhưng rõ ràng có tác dụng tốt đối với những thành phần cho đến nay ít được tiếp cận thông tin, bị đối xử phân biệt và chịu thiệt thòi trong cơ chế hành chính hiện nay. Tích cực hội nhập với thị trường thế giới, tham gia vào trào lưu chung của toàn cầu hoá với ý nghĩa đó sẽ có tác động tốt đến việc phát triển trong công bằng.

Thứ hai, trong những ngành tạo công ăn việc làm nêu trên, cần quan tâm hơn đến việc phát triển các ngành công nghiệp thuộc phần cứng của công nghệ thông tin. Tất nhiên, cốt lõi của công nghệ thông tin là phần mềm, nhưng ở Việt Nam hiện nay có khuynh hướng chỉ quan tâm và đặt kỳ vọng quá nhiều đến phần mềm mà quên đi lợi thế so sánh trong các công nghiệp liên quan đến lắp ráp máy tính, máy điện thoại di động, sản xuất các linh kiện, bộ phận điện tử. Hiện nay, tại vùng Đông Á, sự phân công quốc tế xoay quanh các ngành công nghiệp về máy móc, nhất là các ngành về công nghệ thông tin và xe hơi, đang tiến hành rộng rãi và mạnh mẽ (xem Chương 2). Năm 1999, chỉ riêng các loại máy móc liên quan đến công nghệ thông tin đã chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc, 57% của Malaixia và 64% của Philíppin. Tính từ thống kê trong JETRO Boeki Hakusho 2000 (Sách Trắng về thương mại năm 2000 của JETRO).. Trong khi đó, tại Việt Nam, cùng năm 1999, các sản phẩm lắp ráp và linh kiện thuộc công nghệ thông tin và các ngành máy móc khác chỉ chiếm 4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu (xem thêm Bảng 2.4 ở Chương 2). Dĩ nhiên không thể so sánh đơn thuần trường hợp của Việt Nam là nước mới bắt đầu mở cửa hơn 10 năm nay với các nước đã có một lịch sử phát triển lâu hơn, nhưng thực tế mấy năm qua cho thấy nhiều công ty đa quốc gia, đặc biệt là các công ty của Nhật Bản, đã quan tâm đến Việt Nam, muốn chuyển nhiều cứ điểm sản xuất các ngành điện, điện tử từ Xingapo, Malaixia và Thái Lan sang nước ta nhưng vì môi trường đầu tư không thuận lợi nên tư bản nước ngoài đổ xô vào các nước lân cận. Nếu Việt Nam quan tâm hơn đến việc phát triển các loại máy móc liên quan đến công nghệ thông tin và tạo môi trường đầu tư thuận lợi, chắc chắn các ngành này đã tạo nhiều công ăn việc làm và đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm ấy. Vào giữa năm 1998, lao động làm trong các công ty có vốn Nhật Bản tại Trung Quốc là 459.000, tại Thái là 355.000, tại Malaixia là 240.000, trong khi tại Việt Nam mới có 17.000. Nhật Bản đầu tư trực tiếp tại châu Á ngày càng nghiêng về các ngành công nghệ thông tin và các loại máy móc khác. Từ năm 1990 đến 1999, các ngành này chiếm 45% tổng FDI của Nhật tại châu Á. Số liệu về lao động và FDI lấy từ Trần Văn Thọ và những người khác (2001), tr. 98 và 107. Xem thêm Bảng 13.1 ở Chương 13. .

Thứ ba, các chính sách nói ở điểm thứ nhất và thứ hai sẽ đẩy mạnh sự chuyển dịch lao động từ khu vực a sang khu vực m. Tuy nhiên, để bảo đảm cho quá trình chuyển dịch không gặp trở ngại về mặt cung cấp lao động, cần chú trọng nâng cao trình độ giáo dục cơ bản cho lao động ở nông thôn. Điểm này rất quan trọng không những về mặt cung cấp lao động cho khu vực m mà còn có nhiều ý nghĩa khác khi nói về thời đại công nghệ thông tin tại nước ta. Cần nhận thức rằng công nghệ thông tin phát triển làm cho nhiều người tiếp cận thông tin dễ dàng, nhưng người tiếp cận phải có một trình độ giáo dục, văn hoá nhất định mới tận dụng được thông tin một cách có hiệu quả. Tiếp cận được thông tin nhưng không chọn lọc được thông tin, không biết xử lý thì cũng vô ích. Công nghệ thông tin chủ yếu là công cụ và phương pháp chuyển tải, truyền đạt tri thức.

Một đất nước mà dân trí không cao thì không thể có cuộc cách mạng thông tin theo đúng ý nghĩa của nó. Tại những nước dư thừa lao động giản đơn như ở Việt Nam hiện nay, giáo dục cơ bản phải được đẩy mạnh và phổ cập trước khi nói đến vấn đề khoảng cách trong tiếp cận thông tin và đây mới là điều kiện để có sự phát triển trong công bằng. Ngay trong khu vực a, việc nâng cao trình độ giáo dục và phổ cập tri thức về thành tựu khoa học trong nông nghiệp, về thị trường trong và ngoài nước rõ ràng là cần thiết để tăng năng suất lao động nông nghiệp, tăng thu nhập của nông dân và rút ngắn khoảng cách giữa họ với nguời dân thành phố. Đây cũng là một bộ phận không thể thiếu của một kinh tế tri thức mà Việt Nam đang nhằm đến.

Thứ tư, chiến lược phát triển công nghệ thông tin phần mềm nói riêng và các ngành có hàm lượng tri thức cao nói chung (khu vực e) cũng cần được đẩy mạnh nhưng phải được đặt trong một cơ cấu kinh tế gồm ba khu vực a, m và e. Muốn có phát triển trong công bằng, đầu tư của chính phủ cần phân bổ hợp lý cho cả ba khu vực. Có thể có suy nghĩ cho rằng, quỹ đầu tư của nhà nước có giới hạn, muốn đi tắt, đón đầu trong khu vực e không thể không ưu tiên đầu tư cho ngành này. Tuy nhiên liên quan đến giáo dục và phổ cập tri thức, tôi không đồng ý với suy nghĩ này. Cơ cấu giáo dục của một nước cần xây dựng theo hình tháp ( pyramid ) và từng bước nâng cả cơ cấu lên cao hơn mới phát triển bền vững và tạo công bằng xã hội. Về việc phát triển khu vực e, có thể ưu tiên đầu tư hạ tầng và đào tạo nhân tài cho ngành này bằng việc chuyển nguồn vốn từ các dự án phát triển công nghiệp nặng, những dự án cần nhiều vốn nhưng không thu hút lao động và khó cạnh tranh được trong thời đại toàn cầu hoá. Một biện pháp khác là tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư từ nước ngoài, để nguồn nhân lực về công nghệ phần mềm của người Việt Nam ở nước ngoài trở về tham gia phát triển. Biện pháp để đẩy mạnh phát triển công nghệ phần mềm và các ngành có hàm lượng tri thức cao khác không phải chỉ giới hạn trong vấn đề đầu tư của nhà nước mà phần quan trọng hơn là chính sách thông thoáng và những biện pháp ưu đãi về thuế, về quyền sở hữu trí tuệ, v.v., để khuyến khích cá nhân và doanh nghiệp tư tham gia vào lĩnh vực này.

Kết luận

Gắn liền với thời đại công nghệ thông tin và kinh tế tri thức, toàn cầu hoá đang mở ra nhiều vấn đề cho chiến lược phát triển của một nước đông dân, lao động dư thừa, và phần lớn lao động làm trong nông nghiệp. Từ góc độ phát triển trong công bằng mà nội dung cốt lõi là có chiến lược phát triển tạo nhiều cơ hội làm việc và tạo điều kiện để mọi người dân tiếp cận bình đẳng các cơ hội đó, hay nói khác đi là tạo điều kiện để mọi người tham gia vào quá trình phát triển, cần nhìn nhận vấn đề công nghệ thông tin và kinh tế tri thức trên một bình diện rộng. Như đã phân tích, ta có thể xây dựng mô hình phát triển ba khu vực trong đó nhấn mạnh sự quan trọng của giáo dục cơ bản, phổ cập tri thức và phát triển cả công nghệ thông tin phần cứng, song song với việc đẩy mạnh phát triển khu vực có hàm lượng cao về tri thức, về công nghệ thông tin phần mềm. Cả hai khái niệm kinh tế cũ (old economy) và kinh tế mới (new economy) được lồng ghép trong mô hình ba khu vực này. Ngoài ra, toàn cầu hoá tuy có đặt ra nhiều thử thách đối với một nước đi sau còn ở giai đoạn phát triển thấp, nhưng nó có thuận lợi đối với các thành phần yếu thế trong cơ chế kinh tế, hành chính hiện nay, và do đó tác động tích cực đến phát triển trong công bằng.

Chương 8 : Phương hướng chiến lược cho Việt Nam ?

Để đối phó với thách thức từ AFTA và Trung Quốc, Việt Nam cần nhanh chóng tăng sức cạnh tranh của một loạt các ngành công nghiệp xét ra có lợi thế so sánh để chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu sang Trung Quốc và các nước ASEAN. Như vậy có hai câu hỏi cần trả lời: Một là, Việt Nam có lợi thế so sánh trong những ngành nào? Hai là, làm sao để nhanh chóng tăng sức cạnh tranh của những ngành đó ?

8.1. Lợi thế so sánh tĩnh và động của Việt Nam

Lợi thế so sánh tĩnh (static comparative advantage) là lợi thế hiện tại, có ngành đã phát huy được, cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường quốc tế, nhưng cũng có ngành chưa phát huy được do môi trường hoạt động của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Lợi thế so sánh động (dynamic comparative advantage) là lợi thế tiềm năng sẽ xuất hiện trong tương lai gần hay xa khi các điều kiện về công nghệ, về nguồn nhân lực và khả năng tích luỹ tư bản cho phép. Nếu có chính sách tích cực theo hướng tạo ra nhanh các điều kiện đó sẽ làm cho lợi thế so sánh động sớm chuyển thành sức cạnh tranh hiện thực.

Để dễ phân tích, ta có thể chia các ngành công nghiệp thành năm nhóm:

Nhóm A: Những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động giản đơn, như vải vóc, quần áo, giày dép, dụng cụ lữ hành, dụng cụ du lịch, v.v..

Nhóm B: Những ngành vừa có hàm lượng lao động cao vừa sử dụng nhiều nguyên liệu nông lâm thuỷ sản như thực phẩm gia công các loại, đồ uống, v.v..

Nhóm C: Những ngành có hàm lượng tư bản cao và dựa vào nguồn tài nguyên khoáng sản như thép, hoá dầu.

Nhóm D: Những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động lành nghề, lao động có kỹ năng cao với nhiều trình độ khác nhau, như đồ điện gia dụng, xe máy, máy bom nước và các loại máy móc khác, bộ phận điện tử, linh kiện điện tử, v.v..

Nhóm E: Những ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao như máy tính, xe hơi, máy công cụ, các linh kiện, bộ phận điện tử cao cấp, v.v..

Trên thị trường thế giới, Trung Quốc đang cạnh tranh mạnh trong nhóm A và các sản phẩm lắp ráp trong nhóm D. Thái Lan và các nước ASEAN đi trước (ASEAN-4) có lợi thế trong nhóm B và các sản phẩm lắp ráp trong nhóm D. Cả Trung Quốc và ASEAN-4 đang tiến lên khá cao ở thượng nguồn của chuỗi giá trị trong các ngành thuộc nhóm D. Nhật Bản và NIEs còn duy trì lợi thế so sánh trong nhóm E nhưng tăng cường mạng lưới sản xuất khắp cả vùng Đông Á, do đó Trung Quốc và các nước ASEAN cũng tham gia ngày càng sâu vào các ngành trong nhóm E. Nói chung các nhóm D và E gồm những ngành liên quan đến các loại máy móc, và như đã phân tích ở Chương 2, đang ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong sự phân công ở khu vực Đông Á.

Nhóm A và nhóm B là những ngành Việt Nam đang có lợi thế so sánh. Nhưng trong hai ngành chủ lực là may mặc và giày dép, hiện nay Việt Nam mới tập trung trong công đoạn gia công (trong giai đoạn D của Biểu đồ 2.2 ở Chương 2) và chủ yếu dựa vào lao động giản đơn. Các giai đoạn cao hơn trong chuỗi giá trị hoàn toàn phụ thuộc nước ngoài. Việt Nam cần nỗ lực nội địa hoá các công đoạn có giá trị tính thêm cao. Nhưng dù sao các ngành này vẫn là nhóm thuộc các ngành Việt Nam có lợi thế so sánh tĩnh, nghĩa là những ngành đã và hiện đang có sức cạnh tranh.

Vấn đề quan trọng hơn là Việt Nam phải xác định được những lĩnh vực mà nhu cầu thế giới đang tăng, đồng thời xét ra Việt Nam có lợi thế so sánh động sẽ làm chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu trong tương lai không xa. Vấn đề khẩn cấp đối với Việt Nam hiện nay là xác định được những ngành hội đủ hai điều kiện này, và từ đó đưa ra các chính sách tạo ra các tiền đề, điều kiện để tiềm năng biến thành hiện thực.

Tôi cho rằng các ngành thuộc nhóm D và một phần trong nhóm E, đặc biệt là đồ điện gia dụng và máy móc liên quan đến công nghệ thông tin như máy tính cá nhân, điện thoại di động là những ngành có đủ hai điều kiện nêu trên.

Trước hết là về nhu cầu thế giới. Đồ điện gia dụng, máy tính, điện thoại di động đều là những mặt hàng có đàn tính thu nhập cao (thu nhập tăng có khuynh hướng làm cho nhu cầu các mặt hàng đó tăng cao). Mức độ phổ cập tại châu Á tăng nhanh nhưng còn thấp cho thấy tiềm năng về nhu cầu ở khu vực này rất lớn. Chẳng hạn, từ năm 2001 đến 2002, độ phổ cập của máy tính cá nhân (số chiếc đang sử dụng trên 100 người dân) tại Đài Loan tăng từ 25% đến 40%, tại Thái Lan từ 3% đến 4%, Trung Quốc và Philíppin từ 2 đến 3%. Về điện thoại di động, độ phổ cập năm 2002 tại Hàn Quốc là 68%, Malaixia 38%, Thái Lan 26%, Philíppin 19% và Trung Quốc 16%. Về đồ điện gia dụng, thống kê năm 1999 cho thấy ở Đài Loan, Hàn Quốc, và Malaixia mọi gia đình đã có tủ lạnh, nhưng tỷ lệ tại Thái Lan mới có 68%, Philíppin 37%, Inđônêxia 24% và Trung Quốc 6%. Về máy giặt, Trung Quốc mới có 2% gia đình có phương tiện này và con số đó cũng chỉ từ 5% đến 8% tại các nước ASEAN (trừ Xingapo và Malaixia). Thống kê mới hơn sẽ cho thấy độ phổ cập tại các nước cao hơn nhưng rõ ràng là dư địa để nhu cầu tăng còn rất lớn tại châu Á. Tại Nhật Bản và các nước Âu - Mỹ độ phổ cập đã đạt 100% nhưng sẽ có nhu cầu thay thế sản phẩm cũ và các thị trường này đều lớn. Nhu cầu thế giới do đó sẽ tiếp tục tăng mạnh.

Vấn đề thứ hai là Việt Nam có lợi thế so sánh động trong những ngành này không. Có hai cách tiếp cận bổ sung nhau để trả lời câu hỏi này. Thứ nhất, ta thử xem trong quá khứ những nước có trình độ phát triển như Việt Nam hiện nay đã bước vào giai đoạn phát triển các ngành này chưa. Nhiều ngành sản xuất các loại máy móc, nhất là các ngành đồ điện gia dụng đã bắt đầu phát triển nhộn nhịp tại Thái Lan từ khoảng 20 năm trước. Sau khi kiểm chứng một số chỉ tiêu chỉ trình độ phát triển, tôi tạm kết luận là kinh tế Việt Nam đi chậm hơn Thái Lan khoảng 20 năm. Xem Chương 1. và tại Trung Quốc khoảng 10 năm trước cho thấy Việt Nam hoàn toàn có khả năng đẩy mạnh phát triển các ngành này vào giai đoạn hiện nay. Thứ hai, và quan trọng hơn, là xem các công ty đa quốc gia trong lĩnh vực trên đang đánh giá môi trường đầu tư của Việt Nam ra sao và hiện nay các dự án họ đang triển khai có đặc điểm gì. Về điểm này, ta thử khảo sát động hướng gần đây của các công ty Nhật Bản.

Theo điều tra vào cuối năm 2004 của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) về phương hướng lựa chọn môi trường đầu tư của các công ty lớn sản xuất hàng công nghiệp của Nhật Bản (Murakami và những người khác, 2005), Việt Nam được xếp thứ tư trong những nước được đánh giá cao (sau Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ). Cuộc điều tra hằng năm của JBIC bắt đầu từ năm 1992. Vị trí của Việt Nam tăng dần đến năm 1997 nhưng sau đó giảm và tăng trở lại từ năm 2003. Xem chi tiết ở Chương 13.. Đặc biệt nếu lấy riêng các câu trả lời của các công ty ngành điện và điện tử thì Việt Nam xếp thứ ba. Điều tra thực tế của tôi tại các khu công nghiệp Thăng Long, Biên Hoà, Bình Dương và Khu chế xuất Tân Thuận trong mấy năm qua cũng cho thấy những công ty Nhật Bản trong ngành điện, điện tử có kinh nghiệm hoạt động tại Việt Nam đều đánh giá cao chất lượng lao động của ta; họ cho rằng về sự lĩnh hội các tri thức cơ bản và cách thao tác máy móc, lao động Việt Nam bằng hoặc hơn nhiều nước xung quanh. Phân tích động hướng đầu tư của Nhật tại Việt Nam gần đây cũng cho thấy rằng một khi khởi động phát triển các ngành này, Việt Nam không chỉ dừng lại ở khâu lắp ráp trong chuỗi giá trị ở Biểu đồ 2.2 của Chương 2 mà còn có thể tiến thẳng vào giai đoạn có giá trị gia tăng cao hơn. Nội dung đầu tư của công ty Denso (một thành viên trong tập đoàn Toyota. hay công ty Nissan Techno tại Khu công nghiệp Thăng Long cho thấy Nhật đã đưa sang Việt Nam công đoạn thiết kế là công đoạn có giá trị cao trong chuỗi giá trị vì đánh giá cao tiềm năng nguồn nhân lực có trình độ cao của lao động Việt Nam. Tại Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận, mới trong vòng hai năm nay Nhật đã đầu tư ít nhất là 60 dự án trong ngành công nghệ thông tin mà nội dung chủ yếu là ở khâu thiết kế.

Như vậy phương hướng chiến lược của công nghiệp Việt Nam đã khá rõ. Vấn đề là phải đưa ra được chính sách, chiến lược cụ thể để đón đầu dòng thác công nghiệp ở Đông Á, tạo ra một sự chuyển dịch mạnh mẽ cho cơ cấu công nghiệp Việt Nam, phát huy tiềm năng để hội nhập có hiệu quả vào trào lưu tự do hoá thương mại ở khu vực này.

8.2. Chiến lược, biện pháp nào ?

Làm sao để có thể tham gia mạnh mẽ vào sự phân công ở Đông Á trong các ngành sản xuất các loại máy móc thuộc hai nhóm D và E? Ở đây ta không có điều kiện đi sâu vào vấn đề này, nhưng từ phân tích thực trạng của Việt Nam có thể tóm tắt ba điểm liên quan đến chiến lược, biện pháp như sau:

Thứ nhất, cần chuyển từ chiến lược, chính sách thay thế nhập khẩu sang chiến lược xúc tiến xuất khẩu. Hầu hết các ngành thuộc hai nhóm D và E đều đang sản xuất tại Việt Nam nhưng có một đặc tính chung là sản xuất chủ yếu cho thị trường nội địa, được bảo hộ bằng quan thuế ở cả sản phẩm cuối cùng và sản phẩm trung gian như bộ phận, linh kiện. Chính sách đánh thuế cao trên linh kiện, bộ phận để tăng tỷ lệ nội địa hoá đã làm tăng giá thành sản phẩm lắp ráp, sản phẩm này do đó phải được bảo hộ trong thị trường nội địa. Hơn nữa, chỉ sản xuất cho thị trường nội địa nên quy mô sản xuất quá nhỏ (xem Chương 9 về ngành điện, điện tử gia dụng), không phát huy tính quy mô kinh tế (economies of scale). Tính quy mô kinh tế là hiệu quả trong đó phí tổn sản xuất của một đơn vị sản phẩm (chẳng hạn một chiếc xe máy, một tủ lạnh, v.v...) giảm theo lượng tăng của quy mô sản xuất., càng làm cho giá thành tăng. Đó là cái vòng luẩn quẩn cản trở sức cạnh tranh. Trong quá khứ, nhiều nước châu Á cũng theo chính sách này nhưng phải tốn nhiều năm (đợi cho thị trường trong nước lớn mạnh) mới có sức cạnh tranh và chuyển sang xuất khẩu. Tuy nhiên, Việt Nam bây giờ không thể theo chiến lược này vì phải giảm thuế trong các chương trình tự do hoá thương mại, trước mắt là với ASEAN và sau này với Trung Quốc.

Như vậy, chính sách vừa giữ mức thuế quan cao đối với linh kiện, bộ phận nhưng vừa cho tự do nhập khẩu sản phẩm nguyên chiếc trong khuôn khổ AFTA đang đặt các ngành điện, điện tử gia dụng và các ngành máy móc khác của Việt Nam trước một thách thức rất lớn là không thể cạnh tranh được với hàng nhập từ ASEAN và Trung Quốc, và do đó nhiều công ty đa quốc gia có thể sẽ phải đóng cửa nhà máy tại Việt Nam, chuyển sang sản xuất tại Thái Lan và các nước có quy mô sản xuất lớn với các ngành công nghiệp phụ trợ đã phát triển (phần lớn những công ty đang sản xuất đồ điện gia dụng, xe hơi, v.v., tại Việt Nam cũng là những công ty sản xuất quy mô lớn tại Thái Lan). Để tránh trường hợp này, chính phủ nên khẩn cấp bỏ chính sách thuế quan cao đối với linh kiện, bộ phận để giảm giá thành lắp ráp sản phẩm nguyên chiếc và giữ chân các công ty đa quốc gia. Như đã đề cập ở trên, các công ty của Nhật đánh giá cao tiềm năng của Việt Nam, và theo tính toán của những công ty đã đầu tư tại nước ta trong ngành điện điện tử gia dụng, nếu vấn đề linh kiện, bộ phận được giải quyết, các sản phẩm nguyên chiếc của Việt Nam có khả năng xuất khẩu sang Nhật và các thị trường lớn khác, và dưới thể chế AFTA có thể xuất khẩu sang nhiều nước ASEAN. Trong trường hợp đó, quy mô sản xuất sẽ mở rộng nhanh chóng, kích thích sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ.

Để xây dựng các ngành công nghiệp phụ trợ, trong quá khứ cũng có nhiều nước đã áp dụng biện pháp nâng cao thuế suất linh kiện nhập khẩu nhưng phải đồng thời bảo hộ sản phẩm nguyên chiếc. Việt Nam ngày nay không thể bảo hộ sản phẩm nguyên chiếc thì phải theo một chiến lược khác. Chính sách tối ưu hiện nay là phải nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh để xuất khẩu được sản phẩm nguyên chiếc, từ đó quy mô sản xuất trong nước tăng nhanh, tạo điều kiện để các công ty cung cấp sản phẩm công nghiệp phụ trợ đầu tư lớn. Thật ra, nếu nhà nước có tín hiệu về sự thay đổi chính sách theo hướng đó thì công ty nước ngoài có thể sẽ đầu tư để xây dựng các cụm công nghiệp ngay từ bây giờ. Các loại máy móc gồm nhiều công đoạn nên thường có sự phân công hàng ngang giữa các nước trong việc sản xuất và cung cấp lẫn nhau các linh kiện, bộ phận. Tuy nhiên, công nghệ của nhiều loại trong nhóm D tương đối đã tiêu chuẩn hoá và ít sai biệt về độ sâu lao động hay tư bản. Do đó, doanh nghiệp có khuynh hướng nội địa hoá linh kiện, bộ phận một khi lượng sản xuất đạt quy mô kinh tế. Thêm vào đó, khi sản phẩm nguyên chiếc sản xuất cả cho thị trường thế giới thì các công ty lắp ráp phải thường xuyên thay đổi cơ năng, mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm. Điều này buộc họ phải luôn bảo đảm một sự cơ động, linh hoạt trong việc tổ chức quản lý dây chuyền cung cấp (supply chain management) của các sản phẩm phụ trợ và do đó phải tăng tỷ lệ nội địa hoá, chủ động tham gia xây dựng các cụm công nghiệp.

hứ hai, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hơn nữa. FDI là biện pháp hữu hiệu, là con đường ngắn nhất để tăng sức cạnh tranh. Thay đổi chính sách theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu và tự do hoá nhập khẩu sản phẩm trung gian như đã nói ở trên sẽ thu hút FDI dễ dàng. Ngoài ra, vì các ngành thuộc hai nhóm D và E được triển khai thành mạng lưới sản xuất toàn khu vực Đông Á, nên để tham gia hiệu quả vào sự phân công này, Việt Nam phải trở thành những cứ điểm sản xuất và lưu thông có hiệu suất mới hấp dẫn các công ty đa quốc gia. Cứ điểm sản xuất và lưu thông có hiệu suất là nơi bảo đảm sản xuất một sản phẩm với giá thành (cost) rẻ (nhờ chi phí lao động, chi phí đầu vào thấp), chất lượng (quality) cao và phân phối (delivery) đúng thời hạn. Nếu một cơ sở sản xuất nào đó không cung cấp đúng thời hạn thì cả mạng lưới sản xuất toàn khu vực bị ảnh hưởng, do đó các công ty đa quốc gia rất nhạy cảm về vấn đề này khi chọn môi trường đầu tư. Phân phối là công việc của nhà sản xuất, của công ty đa quốc gia, nhưng yếu tố quy định phân phối là môi trường đầu tư trong đó hạ tầng phần cứng (hệ thống giao thông, thông tin, v.v.) và phần mềm (thủ tục hành chính, thuế quan, luật lệ, quy định, v.v.) có vai trò quyết định. Phí tổn liên quan đến việc này còn được gọi là phí tổn nối kết dịch vụ (service link cost), đang ngày càng trở thành yếu tố quan trọng cho việc đánh giá môi trường đầu tư, nhất là đầu tư trong những ngành thuộc nhóm D và E. Về ý nghĩa và liên quan giữa phí tổn nối kết dịch vụ với FDI, có thể xem, chẳng hạn, Kimura (2005)..

Thứ ba, cần đẩy mạnh sự liên kết giữa các công ty FDI với các loại doanh nghiệp trong nước như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân. Chương 11 dựa trên kết quả phân tích các ngành xe máy và dệt may, cho thấy sự liên kết giữa FDI với các công ty trong nước còn quá yếu vì các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu suất, còn các công ty tư nhân chưa có đủ điều kiện về vốn và thông tin, v.v.. Các công ty trong nước (nhà nước và tư nhân) có thể đẩy mạnh liên kết với các công ty đa quốc gia ở hai mặt: liên kết hàng dọc và liên kết hàng ngang.

Liên kết hàng dọc là nỗ lực cung cấp bộ phận, linh kiện cho các công ty FDI, góp phần đưa nền công nghiệp cả nước tiến về thượng nguồn trong chuỗi giá trị (Biểu đồ 2.2 trong Chương 2). Việc này đòi hỏi các công ty trong nước phải năng động, tích cực tiếp cận các công ty FDI, tìm hiểu nhu cầu của họ và nỗ lực cải tiến công nghệ, cải tiến phẩm chất lượng để đáp ứng nhu cầu đó. Thực ra ở giai đoạn đầu, việc đáp ứng ngay nhu cầu của các công ty FDI không phải dễ và cũng không phải là tiền đề tối quan trọng để có được sự quan tâm của các công ty FDI. Vấn đề quan trọng hơn là các công ty trong nước phải cho thấy mình có đủ khả năng tiếp thu công nghệ, có quyết tâm thay đổi tổ chức, sửa đổi cung cách quản lý để tiếp thu có hiệu quả công nghệ mới, tri thức mới, những tiền đề để sản xuất các linh kiện, bộ phận và những sản phẩm trung gian khác với chất lượng cao và phí tổn thấp. Các công ty FDI thường chú trọng đến những mặt này khi tìm đối tác để liên kết. Một khi tìm được đối tác có triển vọng họ sẽ tích cực chuyển giao công nghệ để được cung cấp những sản phẩm trung gian với chất lượng và giá thành đạt yêu cầu. Những công ty lớn FDI chuyên lắp ráp xe máy, xe hơi, v.v., thường mở các hội chợ để thông báo, quảng bá nhu cầu linh kiện, bộ phận của mình. Có thể gọi đây là những hội chợ ngược hoặc tiếp thị ngược vì hoạt động này không nhằm tuyên truyền sản phẩm mình bán mà là sản phẩm mình mua từ các công ty khác. Các công ty trong nước cần theo dõi và tham gia tích cực các hội chợ ngược này, từ đó nỗ lực đáp ứng nhu cầu của thị trường.. Chương 10 sẽ bàn cụ thể về vấn đề này.

Liên kết hàng ngang là tiến hành hợp tác với các công ty đa quốc gia về nhiều mặt để sản xuất và xuất khẩu ra thị trường thế giới. Lúc đầu có thể sản xuất và cung cấp dưới thương hiệu của công ty nước ngoài, xuất khẩu theo mạng lưới của công ty nước ngoài (gọi chung là OEM, Original Equipment Manufacturing). Sau đó dần dần tự mình thiết kế sản phẩm (sản xuất theo hình thức ODM, Own Design Manufacturing), tạo những sản phẩm độc đáo để chào hàng với các công ty đa quốc gia (multi-national corporations, MNCs), sản phẩm càng độc đáo thì càng có ưu thế trong việc thương lượng với MNCs. Và cuối cùng tiến đến giai đoạn xây dựng thương hiệu, làm chủ hoàn toàn sản phẩm công nghiệp (gọi là OBM, Own Brand Manufacturing), không còn tuỳ thuộc vào MNCs. Quá trình chuyển từ OEM sang ODM rồi đến OBM là quá trình tự lập của các công ty trong nước, lúc đầu dựa vào ngoại lực để dần dần củng cố nội lực để cuối cùng tự lập hoàn toàn. Chương 11 bàn kỹ vấn đề này.. Trường hợp thành công điển hình nhất của quá trình tự lập này có lẽ các công ty sản xuất máy tính, kể cả máy tính cá nhân (personal computer, PC) và máy để bàn (desktop), của Đài Loan. Các công ty máy tính của Đài Loan lúc đầu cũng dựa vào OEM nhưng dần dần chuyển sang ODM rồi OBM. Ngày nay, các thương hiệu của Đài Loan như Quanta, Compal, Asustec, Inventec, v.v., đã trở thành những thương hiệu nổi tiếng thế giới. Các công ty này đã làm cho Đài Loan trở thành nơi cung cấp hơn 50% sản lượng máy tính của thế giới hiện nay và đang tích cực đầu tư sang Trung Quốc để lắp ráp những công đoạn có hàm lượng lao động cao nhằm duy trì năng lực cạnh tranh của họ trên thương trường thế giới.

Kết luận

Làn sóng công nghiệp ở vùng Đông Á với đặc tính là sự phân công hàng ngang giữa các nước đang ngày càng lan rộng, nhất là tập trung mạnh trong những ngành chế tạo các loại máy móc. Sự xuất hiện mạnh mẽ của Trung Quốc làm nhiều người lo ngại nhưng thị trường lớn này cũng mở ra nhiều cơ hội đẩy mạnh hơn nữa sự phân công trong vùng và nhiều nước Đông Á đã thành công trong việc nắm bắt cơ hội đó. Thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như giữa Việt Nam và các nước ASEAN chủ yếu là thương mại hàng dọc, bất lợi đối với Việt Nam, và Việt Nam đang đứng trước một thử thách là phải tiến hành công nghiệp hoá trong trào lưu tự do hoá thương mại trong khu vực. Tuy nhiên, Việt Nam đang có lợi thế so sánh động trong nhiều ngành công nghiệp, nhất là các ngành liên quan đến các loại máy móc, nếu có chiến lược, chính sách đúng đắn vẫn có thể tham gia vào sự phân công năng động ở vùng này.

Từ quan điểm phân tích của chương này, Chương 9 sẽ khảo sát trường hợp ngành điện, điện tử gia dụng, một ngành điển hình trong nhóm D.

Chương 9: Cần chuyển hướng chiến lược: Công nghiệp điện điện tử gia dụng

Như đã phân tích trong Chương 5, đến giữa năm 2006 Việt Nam sẽ gần như hoàn tất nghĩa vụ cắt giảm thuế trong khuôn khổ thực hiện Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA). Các doanh nghiệp trong khu vực sẽ trực diện một thị trường rộng lớn và sẽ tự do chọn môi trường đầu tư tại những nước mà sản xuất có hiệu suất nhất. Đặc biệt các công ty đa quốc gia sẽ tái cấu trúc các cứ điểm sản xuất, bỏ hoặc thu hẹp những cứ điểm mà cho đến nay họ chọn đầu tư chủ yếu vì được bảo hộ bằng quan thuế.

Trong chương trước ta đã kết luận là lợi thế so sánh của Việt Nam trong những năm tới là các ngành về máy móc như điện, điện tử gia dụng, xe máy, máy tính, máy điện thoại di dộng, v.v., và đó là những ngành có nhu cầu lớn trên thị trường trong nước và trên thế giới. Nhưng trong những ngành đó, ngành điện, điện tử gia dụng hiện nay đang đứng trước một thách thức lớn: từ năm 2006 nhiều công ty đa quốc gia có thể sẽ chuyển các cứ điểm sản xuất từ Việt Nam sang các nước ASEAN khác nếu chính sách hiện nay của ta không thay đổi.

9.1. Quá trình chuyển dịch cứ điểm sản xuất trong vùng Đông Á

Vùng Đông Á đang trở thành cứ điểm sản xuất lớn nhất thế giới trong nhiều loại hàng đồ điện, điện tử gia dụng (Biểu 9.1). Các nước trong vùng này vào năm 2003 sản xuất 82% sản lượng thế giới về máy điều hoà không khí, 55% về máy giặt, 52% về tủ lạnh, 56% về máy hút bụi; năm 2004 sản xuất 105 triệu chiếc tivi màu (70% sản lượng thế giới), 93 triệu chiếc máy thu và phát hình (90%). Độ 25 năm trở về trước, tại vùng Đông Á, các mặt hàng này hầu hết chỉ sản xuất tại Nhật nhưng sau đó cứ điểm sản xuất chuyển nhanh sang Hàn Quốc, Đài Loan, rồi sang các nước ASEAN, chủ yếu là Malaixia và Thái Lan, rồi đến Trung Quốc. Vào tháng 06-1992, số cứ điểm sản xuất các mặt hàng điện, điện tử của các công ty đa quốc gia Nhật Bản tại Hàn Quốc là 62, Đài Loan là 93, Xingapo là 71, nhưng đến tháng 06-2000, các cứ điểm đó giảm còn 46, 71 và 60. Ngược lại, trong thời gian đó, số các cứ điểm cùng loại tăng nhanh tại Thái Lan (từ 63 đến 97), Malaixia (từ 121 đến 135), Inđônêxia (từ 14 đến 65), Philíppin (từ 16 đến 48) và Trung Quốc (từ 42 đến 273). Theo tư liệu của Hiệp hội Công nghệ thông tin điện tử Nhật Bản (Denshi Joho Gijutsu Sangyo Kyokai). . Công nghệ trong lĩnh vực này dễ chuyển giao nên cứ điểm sản xuất chuyển dần sang những nơi nhân công rẻ và các phí tổn khác cũng thấp do chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của các nước. Hiện nay, Nhật Bản chỉ sản xuất các loại cao cấp, còn lại thì nhập khẩu từ các cứ điểm sản xuất của doanh nghiệp Nhật hoạt động tại ASEAN và Trung Quốc.

Hiện nay, ngoài Nhật Bản, bốn nước sản xuất nhiều đồ điện gia dụng và có thị phần đáng kể là Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaixia và Thái Lan. Riêng Trung Quốc sản xuất trên 30% tổng sản lượng thế giới, Hàn Quốc cũng sản xuất hầu hết các mặt hàng trong ngành này với thị phần từ 5% đến 10%. Thái Lan cũng là cứ điểm sản xuất quan trọng, đứng đầu ASEAN trong các mặt hàng như máy giặt, tủ lạnh, máy điều hoà không khí, và đứng thứ hai trong những mặt hàng khác. Malaixia đứng đầu ASEAN về tivi màu, máy hút bụi, máy thu và phát hình (VTR/DVD), cassettes. Thái Lan và Malaixia chiếm được vị trí quan trọng hiện nay là nhờ họ đã có chính sách khôn ngoan đón được dòng thác FDI từ Nhật sau khi đồng yên lên giá đột ngột vào cuối năm 1985. Inđônêxia đi chậm hơn, hiện nay mới chỉ sản xuất với số lượng tương đối đáng kể tivi màu, máy thu và phát hình, và tủ lạnh.

ASEAN và Trung Quốc đang cạnh tranh gay gắt tại các thị trường lớn như Nhật Bản và Mỹ. Đầu thập niên 1990, Trung Quốc hầu như chưa có khả năng xuất khẩu sang các thị trường đó nhưng đến khoảng năm 2000 đã chiếm lĩnh trên dưới 30% tổng nhập khẩu của Nhật trong hầu hết các hàng điện và điện tử gia dụng. Trong tổng nhập khẩu đồ điện, điện tử gia dụng của Nhật vào năm 2000, Trung Quốc chiếm 29% máy điều hoà không khí, 33% máy giặt, 44% đồ nhiệt điện gia dụng, 43% radio, 24% tivi màu. Thị phần của các nước ASEAN tính chung là 35%, 30%, 31%, 44% và 67%. Theo Takeuchi (2001).. Trung Quốc cũng có thành quả tương tự tại thị trường Mỹ với những mặt hàng như máy thu thanh, video, đồ nhiệt điện gia dụng. Tuy nhiên, Trung Quốc chiếm thị phần ngày càng lớn tại các thị trường Nhật, Mỹ là do họ thay thế vị trí của Hàn Quốc, Đài Loan hoặc Mỹ và Nhật chứ chưa đánh bật được vị trí của ASEAN. Công nghiệp điện, điện tử gia dụng của ASEAN giữ được sức cạnh tranh quốc tế nhờ đã thu hút hiệu quả FDI từ Nhật Bản, chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế và sử dụng được mạng lưới tiếp thị quốc tế do các công ty đa quốc gia Nhật xây dựng trong nhiều thập niên qua. Như Bảng 9.2 cho thấy, FDI của Nhật chiếm một tỷ lệ rất cao (đặc biệt là trong tivi màu, máy điều hoà không khí và tủ lạnh) trong tổng lượng sản xuất hàng điện, điện tử gia dụng tại ASEAN. Ngoài ra, Thái Lan và Malaixia đã xây dựng được các cụm công nghiệp cho ngành điện gia dụng, với sự phát triển mạnh mẽ của các loại công nghiệp phụ trợ. Nhu cầu thế giới, đặc biệt tại Đông Á, về những mặt hàng này sẽ tăng nhanh, do đó ASEAN sẽ tiếp tục là cứ điểm quan trọng của thế giới trong tương lai.

Vấn đề quan trọng hiện nay là sau khi AFTA thực hiện hoàn toàn, cơ cấu sản xuất giữa các nước ASEAN sẽ thay đổi ra sao? Giữa những nước sản xuất lớn như Thái Lan và Malaixia, thuế quan không cao vì các nước này ngay từ khi bắt đầu phát triển các ngành này đã theo chiến lược hướng vào xuất khẩu, hàng sản xuất ra đã có sức cạnh tranh quốc tế nên ít cần bảo hộ. Do đó, giữa Thái Lan và Malaixia, sẽ ít có trường hợp chuyển dịch các cứ điểm sản xuất đã có. Trên thực tế thì những nước này đã thực hiện xong chương trình AFTA từ năm 2003 và cho đến nay chưa thấy có sự chuyển dịch đó trong ngành này. Nhưng vấn đề sẽ khác hẳn khi bàn đến vị trí của Việt Nam trong đó công nghiệp đồ điện gia dụng còn non trẻ và chủ yếu sản xuất thay thế nhập khẩu.

9.2. Ngành điện, điện tử gia dụng Việt Nam trước thách thức AFTA

Các ngành điện, điện tử gia dụng bắt đầu phát triển tại Việt Nam vào giữa thập niên 1990. Phần lớn do các công ty Nhật như Sanyo, Toshiba, Hitachi, Matsushita, Sony và JVC, và công ty LG của Hàn Quốc đầu tư sản xuất thay thế nhập khẩu. Trong một thời gian dài, cho đến giữa năm 2003, thuế nhập khẩu sản phẩm nguyên chiếc là 50%, từ tháng 7-2003 giảm xuống còn 20%, những mức thuế đủ để bảo hộ thị trường trong nước trong từng giai đoạn. Tuy nhiên, vì chỉ cung cấp cho thị trường nội địa, một thị trường còn nhỏ, nên quy mô sản xuất quá nhỏ, chỉ bằng trên dưới 10%, có loại chỉ bằng 2% đến 3% sản lượng của Thái Lan (xem Bảng 9.1).

Ngoài quy mô sản xuất nhỏ, các công ty lắp ráp đồ điện gia dụng ở Việt Nam còn gặp một khó khăn lớn là công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, phải nhập khẩu phần lớn linh kiện, bộ phận mà thuế nhập khẩu của các sản phẩm trung gian, phụ trợ này lại rất cao. Hiện nay, (vào tháng 8-2005) thuế nhập khẩu các loại này phần lớn lên tới 50%, thấp nhất cũng 15%. Từ năm 2006, theo chương trình cắt giảm thuế trong khuôn khổ AFTA, thuế nhập khẩu đánh trên các loại linh kiện, bộ phận nhập từ các nước ASEAN sẽ giảm xuống còn 5%, nhưng các công ty lắp ráp tại Việt Nam đang và sẽ phải tiếp tục nhập khẩu nhiều loại linh kiện, bộ phận từ Nhật và các nước khác ngoài ASEAN vì ASEAN chưa thể cung cấp toàn bộ các loại linh kiện, bộ phận với phẩm chất và giá thành tương đương với Nhật hoặc các nước khác.

Như vậy, các công ty lắp ráp đồ điện, điện tử gia dụng một mặt phải tiếp tục nhập khẩu linh kiện, bộ phận với phí tổn cao vì thuế quan cao nhưng mặt khác phải cạnh tranh với sản phẩm nguyên chiếc giá rẻ (vì thuế quan giảm xuống dưới 5%) nhập khẩu từ ASEAN mà chủ yếu là từ Thái Lan. Tình hình càng xấu hơn vì gần đây Việt Nam đã thoả thuận với Thái Lan một chương trình cắt giảm thuế sớm hơn so với kế hoạch AFTA, áp dụng cho tủ lạnh, máy giặt và máy điều hoà không khí (bắt đầu từ tháng 4-2005 thuế giảm từ 20% xuống 10% và tiếp tục giảm xuống 5% từ 2006), trong khi theo kế hoạch chung mà Việt Nam cam kết trong AFTA thì cho đến cuối năm 2005 mức thuế vẫn là 20% (từ tháng 1-2006 mới giảm xuống 5%). Lý do là vì để hoãn chương trình thực hiện giảm thuế trong khuôn khổ AFTA đối với 14 mặt hàng gồm linh kiện, phụ tùng xe máy và ôtô nguyên chiếc, Việt Nam phải đền bù cho những nước thành viên ASEAN có lợi ích từ xuất khẩu đồ điện, điện tử gia dụng, trong đó có Thái Lan.

Một vấn đề nữa là theo chính sách hiện hành, những công ty lắp ráp có tỷ lệ nội địa hoá càng cao thì càng được hưởng thuế suất thấp khi nhập khẩu linh kiện, bộ phận. Cho đến nay, đây là chính sách có hiệu quả nhưng chính sách này không thể áp dụng được nữa khi Việt Nam gia nhập WTO (vì không thể có chính sách đối xử phân biệt đối với các công ty lắp ráp cùng hoạt động tại Việt Nam).

Như vậy, chính sách vừa giữ mức thuế quan cao đối với linh kiện, bộ phận nhưng vừa cho tự do nhập khẩu sản phẩm nguyên chiếc trong khuôn khổ AFTA đang đặt ngành điện, điện tử gia dụng của Việt Nam trước một thách thức rất lớn: các công ty đa quốc gia có thể sẽ phải đóng cửa nhà máy tại Việt Nam, chuyển năng lực sản xuất sang Thái Lan nơi có quy mô sản xuất lớn với các ngành công nghiệp phụ trợ đã phát triển (phần lớn những công ty đang sản xuất đồ điện gia dụng tại Việt Nam cũng là những công ty sản xuất quy mô lớn tại Thái Lan). Để tránh trường hợp này, chính phủ nên khẩn cấp bỏ chính sách thuế quan cao đối với linh kiện, bộ phận để giảm giá thành lắp ráp sản phẩm nguyên chiếc và giữ chân các công ty đa quốc gia. Như đã đề cập trong Chương 8, các công ty ngành điện, điện tử của Nhật Bản đánh giá cao tiềm năng của Việt Nam, và theo tính toán của những công ty đã đầu tư tại nước ta, nếu vấn đề linh kiện, bộ phận được giải quyết, các sản phẩm nguyên chiếc của ta có khả năng xuất khẩu sang Nhật Bản và các thị trường lớn khác, và dưới thể chế AFTA có thể xuất khẩu sang nhiều nước ASEAN. Trong trường hợp đó, quy mô sản xuất sẽ mở rộng nhanh chóng, kích thích sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ.

Như đã phân tích ở Chương 8, để xây dựng các ngành công nghiệp phụ trợ, Việt Nam ngày nay không thể áp dụng chính sách mà Thái Lan và nhiều nước khác đã thực hiện hơn 20 năm trước (nâng cao thuế suất linh kiện nhập khẩu nhưng phải đồng thời bảo hộ sản phẩm nguyên chiếc). Việt Nam ngày nay không thể bảo hộ sản phẩm nguyên chiếc thì phải theo một chiến lược khác. Chính sách tối ưu là phải nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh để xuất khẩu được sản phẩm nguyên chiếc, từ đó quy mô sản xuất trong nước tăng nhanh, tạo điều kiện để các công ty cung cấp sản phẩm công nghiệp phụ trợ đầu tư lớn. Doanh nghiệp có khuynh hướng nội địa hoá linh kiện, bộ phận khi lượng sản xuất đạt quy mô kinh tế. Ngoài ra, như đã nhấn mạnh ở Chương 8, khi sản phẩm nguyên chiếc sản xuất cả cho thị trường thế giới thì các công ty lắp ráp phải thường xuyên thay đổi cơ năng, mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm nên phải luôn bảo đảm một sự cơ động, trong việc quản lý dây chuyền cung cấp các sản phẩm phụ trợ và do đó phải tăng tỷ lệ nội địa hoá, chủ động tham gia xây dựng các cụm công nghiệp.

Trong thời đại toàn cầu hoá và khu vực hoá, phải có chiến lược mới và chính sách, biện pháp thích hợp. Thách thức AFTA quá lớn, chúng ta không còn thời gian, cần nhanh chóng chuyển hướng chiến lược.

Chương 10 : phát triển công nghiệp phụ trợ : Mũi đột phá chiến lược

Như Chương 3 và Chương 5 đã phân tích, Việt Nam hiện nay đang đứng trước một thử thách lớn là phải tiến hành công nghiệp hoá trong điều kiện phải tự do hoá thương mại với các nước xung quanh.

Nhưng sức cạnh tranh của hàng công nghiệp Việt Nam nói chung còn yếu, nhất là những ngành sản xuất các loại máy móc.

Với cơ cấu công nghiệp hiện nay và với các chính sách đang có, liệu trong vòng 3 năm đến 4 năm tới, ta có thể thay đổi được tình hình hiện tại không? Tôi sẽ nêu những điểm yếu cơ bản của công nghiệp Việt Nam để thấy rằng không thể thay đổi được tình hình hiện tại, trừ trường hợp tìm một mũi đột phá chiến lược và dồn tất cả các năng lực về chính sách cho mũi đột phá đó: công nghiệp phụ trợ.

10.1. Khái niệm công nghiệp phụ trợ

Công nghiệp phụ trợ (supporting industries) là khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính. Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v.v., và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế. Nếu kể các sản phẩm tương tự thì phạm vi sẽ rất rộng nhưng nếu thêm một đặc tính nữa sẽ thấy phạm vi rõ ràng hơn: Sản phẩm công nghiệp phụ trợ thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó, trong ngành xe hơi chẳng hạn, các bộ phận như đầu máy xe, thân xe, bánh xe... thường không được kể là công nghiệp phụ trợ vì chủ yếu do các công ty lớn sản xuất với quy mô lớn. Trong ngành này, công nghiệp phụ trợ là những linh kiện, những phụ liệu ở cấp thấp hơn được cung cấp để sản xuất ra đầu máy xe, thân xe...

Ngoài hiệu quả tạo nhiều công ăn việc làm, thu hút lao động dư thừa, công nghiệp phụ trợ đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá theo hướng vừa mở rộng (broadening) vừa thâm sâu (deepening). Công nghiệp phụ trợ không phát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp và những công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Dù những sản phẩm này có thể được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng vì chủng loại quá nhiều, phí tổn chuyên chở, bảo hiểm sẽ làm tăng phí tổn đầu vào. Đó là chưa nói đến sự rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu. Công ty đa quốc gia sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý dây chuyền cung cấp (supply chain management) nếu phải nhập khẩu phần lớn linh kiện, bộ phận, và các sản phẩm công nghiệp phụ trợ khác. Xem thêm Chương 8.. Vì lý do này, công nghiệp phụ trợ không phát triển thì các ngành công nghiệp chính sẽ thiếu sức cạnh tranh và phạm vi cũng giới hạn trong một số ít các ngành.

Vấn đề làm sao để phát triển công nghiệp phụ trợ là đề tài khá lớn. Phần dưới đây sẽ bàn vấn đề này trong tương quan với hoạt động của doanh nghiệp có vốn nước ngoài (dưới đây gọi là doanh nghiệp FDI). Tháng 01-2004, chúng tôi có tổ chức một hội nghị quốc tế về đề tài công nghiệp phụ trợ tại Đại học Đà Nẵng (kết hợp với Đại học Obirin ở Tôkyô và Đại học Thammasat ở Băng Cốc). Nhân sự kiện này, Thời báo kinh tế Sài Gòn (04-03-2004) có đăng bài viết của tôi trong mục Sự kiện và vấn đề. Chương này là kết quả phát triển và bổ sung của bài viết ấy. Ngoài ra, các báo cáo trong hội thảo quốc tế ở Đà Nẵng đã được Đại học Obirin đăng lại toàn văn (bằng tiếng Anh) trong tạp chí nghiên cứu của trường. Xem Trần Văn Thọ (2004), Đỗ Mạnh Hồng (2004), Lê Thế Giới và Đoàn Công Tuấn (2004), Mai Đức Lộc (2004) và Kriengkrai and Thammavit (2004)..

Liên quan giữa CPPT và doanh nghiệp FDI

Từ phân tích ở trên ta thấy ngay là CPPT phải phát triển mới thu hút FDI, nhất là FDI trong các ngành sản xuất các loại máy móc, là những ngành đang phát triển mạnh tại Đông Á và là những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế so sánh động (Xem lại các Chương 2, 8 và 9). Tỷ lệ của chí phí về CPPT cao hơn nhiều so với chi phí lao động nên một nước dù có ưu thế về lao động nhưng CPPT không phát triển sẽ làm cho môi trường đầu tư kém hấp dẫn. Tuy nhiên, cũng không phải là CPPT phát triển đồng bộ rồi mới có FDI. Có nhiều trường hợp FDI đi trước và lôi kéo các công ty khác (kể cả công ty nước ngoài và công ty bản xứ) đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ. Do đó, có sự quan hệ hỗ tương giữa FDI và công nghiệp phụ trợ. Để dễ hiểu và cụ thể hơn, quá trình phát triển công nghiệp phụ trợ có thể chia làm ba giai đoạn:

(1) Trước khi FDI vào đã có nhiều công ty trong nước sản xuất sản phẩm công nghiệp phụ trợ cung cấp cho các công ty lắp ráp, sản xuất sản phẩm chính cho thị trường nội địa. Khi có FDI, một bộ phận những công ty sản xuất công nghiệp phụ trợ sẽ phát triển mạnh hơn nếu được tham gia vào mạng lưới chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp FDI. Sự liên kết (linkage) này không phải tự nhiên hình thành mà các công ty công nghiệp phụ trợ phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập. Tiềm năng đó sẽ thành hiện thực nhờ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI.

(2) Đồng thời với sự gia tăng của FDI, nhiều doanh nghiệp bản xứ ra đời trong các ngành công nghiệp phụ trợ chủ yếu để phục vụ cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI. Những doanh nghiệp sớm hình thành sự liên kết với doanh nghiệp FDI sẽ được chuyển giao công nghệ và sẽ phát triển nhanh.

(3) Sau một thời gian hoạt động của doanh nghiệp FDI với lượng sản xuất ngày càng mở rộng, tạo ra thị trường ngày càng lớn cho công nghiệp phụ trợ, nhiều công ty nhỏ và vừa ở nước ngoài sẽ đến đầu tư. Ở đây có trường hợp các công ty con hoặc các công ty có quan hệ giao dịch lâu dài của các doanh nghiệp FDI đến đầu tư do sự khuyến khích của các doanh nghiệp FDI; cũng có trường hợp các công ty nhỏ và vừa ở nước ngoài độc lập với các doanh nghiệp FDI nhưng thấy thị trường của công nghiệp phụ trợ đã lớn mạnh nên đến đầu tư.

Như vậy, công nghiệp phụ trợ của một nước sẽ phát triển được khi các công ty trong nước ở trường hợp (1) ngày càng được cải tiến quản lý, công nghệ để cung cấp sản phẩm công nghiệp phụ trợ cạnh tranh được với hàng nhập, và chính phủ có chiến lược, chính sách để thúc đẩy các doanh nghiệp ở trường hợp (2) ra đời, đồng thời tạo điều kiện, môi trường để các công ty nhỏ và vừa ở nước ngoài đến đầu tư (giai đoạn 3). Mối liên quan giữa công nghiệp phụ trợ và môi trường thu hút FDI có thể được hiểu như sau: chừng nào các công ty nước ngoài không thấy chính phủ đưa ra các chính sách cụ thể và dài hạn để phát triển công nghiệp phụ trợ theo hướng nói ở (1) và (2) cũng như chính phủ không tạo môi trường kinh doanh ổn định cho các doanh nghiệp FDI để từ đó công nghiệp phụ trợ phát triển theo trường hợp (3) thì họ sẽ không đánh giá cao môi trường FDI ở nước đó. Phần phân tích môi trường ở Việt Nam tiếp theo đây sẽ thấy rõ hơn điểm này.

Tình hình tại Việt Nam

Nhìn chung, công nghiệp phụ trợ của Việt Nam hiện nay quá yếu. Nguyên nhân ở đâu ?

Trước hết, cho đến nay sản phẩm công nghiệp phụ trợ chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước sản xuất, phần lớn cung cấp những sản phẩm có chất lượng kém và giá thành cao (vì công nghệ lạc hậu, vì quản lý kém, ...) nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ các doanh nghiệp nhà nước. Một bộ phận khác, chủ yếu là những sản phẩm công nghiệp phụ trợ cấp thấp, do các hộ kinh doanh cá thể sản xuất cũng gặp khó khăn về vốn và công nghệ.

Điều tra thực tế của tôi về các doanh nghiệp FDI hoạt động ở Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận Hà Nội cho thấy, do tình hình hoạt động kém hiệu quả của doanh nghiệp nội địa hiện tại, các doanh nghiệp FDI tuy rất muốn tăng tỷ lệ nội địa hoá để giảm giá thành sản xuất nhưng ít tìm được nguồn cung cấp công nghiệp phụ trợ đáng tin cậy. Đặc biệt, những doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc những doanh nghiệp FDI hướng vào xuất khẩu có khuynh hướng dùng linh kiện và nguyên vật liệu nhập khẩu hoặc do các công ty FDI khác sản xuất. Chẳng hạn, trường hợp một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sản xuất hàng may mặc tại Khu chế xuất Tân Thuận, tỷ lệ nội địa hoá về nguyên vật liệu chính (sợi và vải) trong gần tám năm hoạt động (từ năm 1996 đến 2003) chỉ tăng từ 0% đến 3%. Những phụ liệu đơn giản như kim chỉ, khuy nút, bao bì, v.v., tỷ lệ nội địa hoá cũng chỉ tăng từ 0% đến 29% trong thời gian đó. Theo kết quả điều tra của tác giả vào mùa hè năm 2003. Tình hình hiện nay có thể tốt hơn nhưng mức độ phát triển quá thấp của công nghiệp phụ trợ vào thời điểm mới hai năm trước cho thấy trên căn bản vấn đề chưa được giải quyết..

Trường hợp công ty Honda hoạt động ở tỉnh Vĩnh Phúc, như sẽ được phân tích chi tiết trong Chương 11, tỷ lệ nội địa hoá tăng khá nhanh, từ 10% đến 66% trong năm năm (1998 đến 2002), vượt quá yêu cầu của Chính phủ Việt Nam (quy định tỷ lệ nội địa hoá tăng từ 10% lên 60% trong vòng sáu năm). Hành động tích cực này có lẽ bắt nguồn từ kế hoạch và dự tưởng về khả năng đẩy mạnh sản xuất của Honda (lượng xe máy sản xuất tăng đến một quy mô nhất định sẽ tạo ra tính hiệu quả của thị trường cho sản phẩm công nghiệp phụ trợ). Tuy tỷ lệ nội địa hoá của Honda tăng nhanh, song phân tích kỹ sẽ thấy vai trò của doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp nội địa Việt Nam rất nhỏ. Phần lớn các bộ phận, linh kiện và nhiều sản phẩm công nghiệp phụ trợ khác đều do Honda tự sản xuất trong nội bộ nhà máy hoặc mua từ các doanh nghiệp FDI khác. Được biết Honda đã điều tra hàng trăm doanh nghiệp nội địa (chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước) sản xuất công nghiệp phụ trợ trong ngành xe máy, nhưng đến năm 2003 cũng chỉ chọn ra được 13 công ty có khả năng cung cấp công nghiệp phụ trợ đủ tiêu chuẩn về chất lượng (về chi tiết, xem thêm Chương 11).

Phân tích ở trên cho thấy giai đoạn (1) của quá trình phát triển công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam chưa diễn ra một cách có hiệu suất. Doanh nghiệp trong nước đã có nhưng chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường. Do vậy, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp FDI và các công ty trong nước.

Giai đoạn (2) của quá trình phát triển công nghiệp phụ trợ cũng chưa thấy có triển vọng lớn. Các doanh nghiệp ngoài nhà nước ra đời khá nhiều sau khi Luật doanh nghiệp được thực hiện (từ năm 2000), trong đó có lẽ có khá nhiều doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp phụ trợ, nhưng như nhiều báo cáo cho thấy, các doanh nghiệp này đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn và công nghệ. Đó là chưa kể đến các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động kinh doanh sau khi doanh nghiệp ra đời cũng còn nhiều phiền toái.

Giai đoạn (3) của quá trình phát triển công nghiệp phụ trợ tuỳ thuộc vào môi trường FDI nói chung, nhưng chủ yếu là vào triển vọng mở rộng quy mô sản xuất của các sản phẩm chính ở trung nguồn (mid-stream) tức giai đoạn lắp ráp, hoàn thành sản phẩm trong chuỗi giá trị (xem lại Biểu đồ 2.2 của Chương 2), đặc biệt là các ngành lắp ráp, sản xuất các loại máy móc như ôtô, xe máy, đồ điện gia dụng, v.v.. Các ngành trung nguồn này có hai trường hợp: những ngành thay thế nhập khẩu, trước mắt sản xuất cho thị trường nội địa, và những ngành hướng vào xuất khẩu. Quy mô sản xuất của trường hợp thay thế nhập khẩu tuỳ thuộc vào khả năng và triển vọng lớn mạnh của thị trường nội địa. Chính sách của Việt Nam về vấn đề này, đặc biệt trong ngành ôtô và xe máy, đang lúng túng và có khuynh hướng hạn chế sự mở rộng của thị trường trong nước. Dù cho chính sách đó xuất phát từ những mục tiêu khác như để giải quyết vấn đề giao thông, nhưng phải hiểu rằng đứng về phương diện phát triển công nghiệp đó là tín hiệu cho thấy quá trình phát triển công nghiệp ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn và do đó khó kêu gọi FDI trong các ngành thuộc công nghiệp phụ trợ. Việt Nam dường như đang đứng trước một sự chọn lựa khó khăn: xây dựng ngành ô tô và xe máy thành các ngành công nghiệp hiện đại hay là phải ưu tiên giải quyết vấn đề giao thông và các vấn đề xã hội khác. Tôi cho là có thể tìm một chiến lược tối ưu giải quyết cùng một lúc cả hai vấn đề kinh tế và xã hội. Về ngành ô tô, hiện nay chưa thể xuất khẩu vì năng lực cạnh tranh yếu và không thể tăng sức cạnh tranh trong thời gian trước mắt nên phải tuỳ thuộc vào thị trường nội địa, mà thị trường trong nước lại còn quá nhỏ bé. Do đó, chính sách khôn ngoan là không hạn chế sự phát triển của thị trường nội địa bằng việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt quá cao làm cản trở bước phát triển của sản xuất. Chính sách cho ngành xe máy thì nên ngược lại: cần hạn chế lượng lưu thông tăng ở mức mà cơ sở hạ tầng giao thông cho phép nhưng tìm cách tăng năng lực cạnh tranh để có thể xuất khẩu. Ở đây đòi hỏi một chính sách nhập khẩu hợp lý cho các linh kiện, bộ phận dùng cho việc lắp ráp xe máy. Trường hợp ngành xe máy có hoàn cảnh giống ngành đồ điện, điện tử gia dụng phân tích ở Chương 9. Điểm giống nhau giữa chính sách của hai ngành ô tô và xe máy là phải tìm cách tăng năng lực sản xuất mới xây dựng được các ngành công nghiệp phụ trợ nói riêng và toàn ngành công nghiệp ô tô và xe máy nói chung.. Còn về các ngành hướng vào xuất khẩu, khả năng mở rộng sản xuất tuỳ thuộc vào năng lực cạnh tranh quốc tế. Rất tiếc hiện nay những ngành sản xuất các loại máy móc ở Việt Nam có sức cạnh tranh quốc tế còn quá ít.

Tóm lại, cả ba trường hợp, ba giai đoạn trong quá trình phát triển công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam đều rất sơ khai. Công nghiệp phụ trợ không phát triển thì không có hy vọng thu hút nhiều FDI để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá.

10.2. Cái yếu cơ bản của công nghiệp Việt Nam hiện nay

Trong khoảng 10 năm nay, công nghiệp Việt Nam phát triển khá nhanh, với tốc độ nhanh hơn tốc độ của GDP 4 điểm đến 5 điểm phần trăm. Do đó, tỷ trọng của công nghiệp trong GDP đã tăng từ 23,5% năm 1990 lên 34,5% năm 1999. Tỷ trọng của công nghiệp và xây dựng vào năm 2000 là 36,7% và ước tính năm 2005 là 41,0% (Bộ Kế hoạch và đầu tư, 2005).. Nhìn từ phương diện này, đây là một sự chuyển dịch cơ cấu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, công nghiệp Việt Nam còn quá yếu, hiện nay có quá ít ngành có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới (xem lại các chương 2 và 8). Nguyên nhân không có sức cạnh tranh một phần vì cơ cấu đầu tư nghiêng về những ngành Việt Nam không có lợi thế so sánh (những ngành thuộc công nghiệp nặng như sắt thép, ximăng, phân bón, luyện kim...) nên sản xuất chủ yếu là cho thị trường nội địa, FDI cũng tập trung nhiều vào những ngành thay thế nhập khẩu. Tuy nhiên, cái yếu cơ bản nhất của công nghiệp Việt Nam có thể nói bắt nguồn từ sự yếu kém của ngành công nghiệp phụ trợ vì các lý do sau:

Thứ nhất, các ngành phụ trợ này (chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước sản xuất) cung cấp những sản phẩm có chất lượng kém và giá thành cao (vì công nghệ lạc hậu, vì quản lý kém...) nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ các doanh nghiệp nhà nước. Nhưng cũng vì dùng những sản phẩm phụ trợ này mà các sản phẩm lắp ráp, các loại máy móc hoàn thành tại các công ty nhà nước cũng không có sức cạnh tranh. Đây là một sự liên kết kém hiệu suất và bó chân lẫn nhau trong nội bộ các doanh nghiệp nhà nước. Tại các nước ASEAN khác và tại Trung Quốc, có sự liên kết (linkage) hiệu suất giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất các sản phẩm phụ trợ với các doanh nghiệp lớn có vốn đầu tư của nước ngoài, và công nghệ, tri thức quản lý được chuyển giao từ doanh nghiệp lớn đến doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thứ hai, các ngành phụ trợ quá yếu không hấp dẫn các công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp sản xuất tại Việt Nam các loại hàng điện tử gia dụng, các sản phẩm của công nghệ thông tin phần cứng như máy tính cá nhân, điện thoại di động, các loại xe hơi, xe máy, v.v., nói chung là các loại máy móc, các ngành cơ khí. Các mặt hàng này thường có cả hàng trăm hoặc hàng ngàn bộ phận, linh kiện ở nhiều tầng lớp, từ những loại thông thường đơn giản đến những loại có công nghệ rất cao. Đối với các công ty nước ngoài đầu tư vào các ngành sản xuất các loại máy móc, tỷ lệ nội địa hoá càng cao càng có lợi. Điểm này khác với nhận thức của nhiều người Việt Nam, kể cả các nhà hoạch định chính sách. Việt Nam có khuynh hướng cho rằng các công ty đa quốc gia không muốn tăng tỷ lệ nội địa hoá để đưa các sản phẩm trung gian và bộ phận, linh kiện từ nước mình tới . Điều tra của JETRO và nhiều cơ quan khác, cũng như các cuộc tiếp xúc giữa tôi với các giám đốc doanh nghiệp có vốn nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy hiện thực thì ngược lại. Dĩ nhiên những bộ phận, linh kiện có công nghệ rất cao thông thường được nhập khẩu từ Nhật Bản hoặc những nơi có đủ điều kiện về công nghệ và kỹ thuật. Trên thực tế, phí tổn về linh kiện, bộ phận và các sản phẩm trung gian trong những sản phẩm thuộc các ngành sản xuất máy móc chiếm tới hơn 80% giá thành, lao động chỉ chiếm từ 5 đến 10%, do đó khả năng nội địa hoá có tính chất quyết định đến thành quả kinh doanh của doanh nghiệp. Từ thực tế này, có thể nói các công ty đa quốc gia chậm tăng tỷ lệ nội địa vì năng lực cung cấp trong nước quá kém không đáp ứng yêu cầu về chất lượng và giá thành. Do đó chừng nào các ngành phụ trợ sẵn có chưa được cải thiện đồng loạt và chừng nào nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa của nước ngoài chưa đến đầu tư ồ ạt thì FDI của các công ty lớn không thể tăng hơn. Mặt khác, sau năm 2006, trong khuôn khổ AFTA, những công ty này có thể sẽ chuyển cơ sở sản xuất sang các nước ASEAN khác để tận dụng các ngành phụ trợ đã có tại đó.

Thứ ba, hiện nay những ngành sản xuất các loại máy móc như đồ điện gia dụng, nhiều ngành thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin phần cứng như máy điện thoại di động... và một bộ phận của nhóm các ngành có công nghệ cao như xe hơi, máy tính... có nhu cầu ngày càng lớn trên thế giới. Mặt khác, công nghệ cũng dễ lan nhanh từ nước này sang nước khác nên những nước có nguồn lực lao động dồi dào, khéo tay và tiền lương rẻ sẽ dễ trở thành những cứ điểm sản xuất có sức cạnh tranh lớn. Việt Nam rất có triển vọng cạnh tranh được trong lĩnh vực này nhưng vì hai lý do nói ở trên, Việt Nam chưa trở thành một trong những nơi sản xuất chính tại châu Á. Trong khoảng 15 năm qua, các cứ điểm sản xuất của các ngành này chuyển nhanh từ Nhật Bản sang Hàn Quốc, Đài Loan, Xingapo, sau đó sang Malaixia và Thái Lan, và gần đây sang Inđônêxia và Trung Quốc. Bảng 10.1 cho thấy khuynh hướng đó trong ngành điện, điện tử, thể hiện sự thay đổi trong kim ngạch sản xuất đồ điện gia dụng (thành phẩm lắp ráp cuối cùng, phần trung nguồn trong chuỗi giá trị) và phụ tùng điện tử (sản phẩm của công nghiệp phụ trợ, ở thượng nguồn trong chuỗi giá trị). Theo biểu này, trong thập niên 1990, Nhật Bản và các nền kinh tế công nghiệp hoá mới (NIEs-4) giảm sản xuất ở phần trung nguồn nhưng tăng kim ngạch sản xuất của công nghiệp phụ trợ. Đáng chú ý là khuynh hướng tại Trung Quốc và các nước ASEAN, nhất là tại Malaixia, Thái Lan và Philíppin, sản xuất tăng nhanh trong cả hai giai đoạn đồ điện gia dụng và phụ tùng điện tử. Phụ tùng điện tử gồm rất nhiều chủng loại mặt hàng, có loại có hàm lượng công nghệ cao nên Nhật và NIEs còn duy trì sức cạnh tranh trong nhiều mặt hàng và triển khai phân công hàng ngang với các nước ASEAN (xem thêm Chương 2). Rất tiếc là làn sóng công nghiệp này chưa lan rộng đến Việt Nam, như Bảng 10.1 cho thấy, kim ngạch sản xuất của Việt Nam còn quá nhỏ.

10.3. Mũi đột phá chiến lược và các nỗ lực để thay đổi tình thế

Từ phân tích ở trên, tôi cho là việc ưu tiên đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ là mũi đột phá chiến lược để trong thời gian ngắn khắc phục các mặt yếu cơ bản của công nghiệp Việt Nam. Trước nhu cầu hội nhập và nhất là trước những thách thức từ AFTA và Trung Quốc, ta không còn nhiều thời gian. Trong vòng 3 năm đến 4 năm tới, với cố gắng lớn và với các ưu tiên về mặt chính sách, lĩnh vực Việt Nam có thể làm gấp và có hiệu quả lớn là việc đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ. Các ngành này phát triển sẽ tạo ngay nhiều công ăn việc làm và dần dần thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia tầm cỡ lớn. Hơn nữa, việc nhà nước dồn hết nỗ lực tập trung phát triển ngành này tự nó gây được niềm tin của các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường đầu tư ở Việt Nam. Sau một thời gian đầu tư ồ ạt ở Trung Quốc, hiện nay nhiều công ty đa quốc gia muốn phân tán sang các nước khác và đang trong giai đoạn chọn thị trường mới. Do đó Việt Nam cần phát tín hiệu càng sớm càng tốt để chớp thời cơ.

Tóm lại, theo tôi, chính phủ cần quyết định ngay mũi đột phá chiến lược và trong vòng 2 năm đến 3 năm tới ưu tiên các nguồn lực trong nước và tận dụng hết các khả năng từ bên ngoài để thực hiện thành công chiến lược này.

Sau đây là các chính sách cụ thể và biện pháp thực hiện:

a. Giảm hoặc bãi bỏ các loại thuế đánh vào linh kiện nhập khẩu để giảm giá thành sản phẩm lắp ráp, để các sản phẩm này xuất khẩu được. Mở rộng thị trường ra các nước khác để tăng quy mô sản xuất thành phẩm cuối cùng mới kích thích các công ty nhỏ và vừa nước ngoài đến đầu tư sản xuất sản phẩm công nghiệp phụ trợ. Trong thời đại tự do thương mại không thể áp dụng chính sách nội địa hoá như các nước chung quanh đã làm trong quá khứ. Mở rộng thị trường sản phẩm lắp ráp và chủ động xây dựng công nghiệp phụ trợ là chiến lược thích hợp nhất hiện nay. Cũng từ quan điểm này, Chương 9 đặc biệt phân tích trường hợp ngành điện, điện tử gia dụng.. Việc chủ động xây dựng công nghiệp phụ trợ có thể được thực hiện qua những điểm từ b đến e dưới đây.

b. Cho rà soát lại các cơ sở sản xuất các ngành phụ trợ tại các công ty nhà nước, ưu tiên cấp vốn và tạo các điều kiện khác để đổi mới thiết bị, thay đổi công nghệ tại những cơ sở đã có quy mô tương đối lớn. Lập chế độ tư vấn kỹ thuật và quản lý để mời các chuyên gia nước ngoài vào giúp thay đổi công nghệ và cơ chế quản lý tại từng doanh nghiệp nhà nước vừa nói. Hiện nay, Nhật Bản và một số nước khác đang có chế độ gửi những người đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng còn sức khoẻ và ý chí muốn đem kinh nghiệm của mình đến giúp các nước đang phát triển. Họ được gọi là những người tình nguyện cấp cao (senior volunteers). Việt Nam có thể tận dụng nguồn lực quốc tế này để nhanh chóng tăng sức cạnh tranh của các ngành phụ trợ công nghiệp (xem thêm Chương 13).

c. Đặc biệt khuyến khích tư nhân đầu tư vào lĩnh vực sản xuất các ngành công nghiệp phụ trợ, với sự hỗ trợ đặc biệt về vốn, và những ưu đãi đặc biệt về thuế (miễn thuế nhập khẩu thiết bị và công nghệ, miễn thuế doanh thu, v.v.). Đưa ra chính sách ưu đãi đặc biệt và chỉ áp dụng có thời hạn (chẳng hạn trong 3 năm đến 4 năm).

d. Một số nước đã phát triển, đặc biệt là Nhật, có chương trình xúc tiến chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các nước đang phát triển. Việt Nam nên đặc biệt tiếp nhận nhanh sự hỗ trợ này để nhanh chóng tăng khả năng cung cấp các mặt hàng công nghiệp phụ trợ hiện có, nhất là các mặt hàng đang sản xuất tại các doanh nghiệp nhà nước.

e. Dồn hết mọi khả năng để kêu gọi FDI đầu tư vào việc sản xuất trong các ngành công nghiệp phụ trợ. Cụ thể tôi đề nghị chỉ định một số khu công nghiệp để ưu tiên giải quyết ngay và triệt để các mặt về hạ tầng, về thủ tục hành chính, về cung cấp nguồn nhân lực cần thiết, v.v., và đặt ra các đội chuyên trách thường xuyên theo dõi hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài để phát hiện ngay các vướng mắc và giải quyết ngay.

f. Lập chế độ tưởng thưởng đặc biệt (từ nay đến năm 2006 chẳng hạn) cho những công ty (kể cả nhà nước, tư nhân và công ty có vốn nước ngoài) có thành tích cao về xuất khẩu các mặt hàng thuộc các ngành công nghiệp phụ trợ (kể cả thành tích cung cấp cho các công ty nước ngoài đang đầu tư ở Việt Nam sản xuất cho xuất khẩu).

Sau khi phân tích các mặt yếu của công nghiệp Việt Nam và xét về tiềm năng của ta, về nhu cầu trên thị trường thế giới, cũng như những thời cơ quốc tế đang có, tôi cho là mũi đột phá chiến lược của ta hiện nay phải là tập trung phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ. Việt Nam chỉ còn 3 năm đến 4 năm để chớp thời cơ đang có và tạo những tiền đề cần thiết hầu làm đảo ngược lại tình hình bất lợi hiện nay về công nghiệp. Tôi tin là với các biện pháp trình bày ở trên, bộ mặt công nghiệp Việt Nam nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung sẽ có sự thay đổi lớn vào khoảng cuối năm 2006 hoặc đầu năm 2007, khi ta thực hiện hoàn toàn các cam kết với AFTA và chuẩn bị những bước đầu tiên trong chương trình tự do hoá thương mại với Trung Quốc.

Chương 11 : Nội lực và ngoại lực trong nền cộng nghiệp hóa

Từ những năm cuối thế kỷ 20, vấn đề phát huy nội lực được nói đến nhiều tại Việt Nam. Tôi cũng cho rằng trước trào lưu toàn cầu hoá ngày càng mạnh, đặt vấn đề tăng cường và phát huy nội lực để chủ động phát triển trong ổn định là cần thiết.

Tuy nhiên, cho đến nay vấn đề này mới được bàn chung chung, chưa được phân tích một cách khoa học nên chưa đưa ra được những kết luận có thể tham khảo cho việc đặt ra chính sách, chiến lược cần thiết. Một điểm quan trọng nữa cũng chưa được bàn đến một cách có hệ thống, chưa được phân tích, đánh giá là quan hệ giữa nội lực và ngoại lực.

Có thể có nhiều trường hợp ngoại lực góp phần làm mạnh nội lực. Do đó, sẽ là không khôn ngoan nếu không tận dụng ngoại lực để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế. Ngoại lực nên được kết hợp với nội lực như thế nào để phát triển nhanh và bền vững?

Chương này xoay quanh vấn đề vốn, công nghệ và tri thức quản lý, kinh doanh để phân tích chủ đề làm sao kết hợp có hiệu quả giữa nội lực và ngoại lực. Tri thức quản lý và năng lực kinh doanh có thể gọi chung là nguồn lực kinh doanh (managerial resources). Nguồn vốn (capital resources), công nghệ và nguồn lực kinh doanh là những biểu hiện cụ thể của từ “lực” trong nội lực và ngoại lực. Các nguồn lực này được vận dụng qua hoạt động của các doanh nghiệp. Do đó, nội lực và ngoại lực vừa có thể được đánh giá trên bình diện vĩ mô (vị trí của hai nguồn lực trong nền kinh tế quốc dân) vừa có thể được đánh giá qua kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài (dưới đây sẽ được gọi là doanh nghiệp FDI - foreign direct investment). Nhưng hai loại doanh nghiệp này không phải lúc nào cũng hoạt động độc lập mà bổ sung nhau trong nhiều trường hợp, đặc biệt là nếu có chính sách, chiến lược đúng đắn sẽ phát sinh tác động tích cực từ doanh nghiệp FDI đến doanh nghiệp vốn trong nước.

Tại Việt Nam, dư luận xã hội và các nhà hoạch định chính sách chưa hiểu đúng vai trò của ngoại lực trong trường hợp này nên môi trường FDI cải thiện rất chậm và chưa có sự tác động tích cực từ doanh nghiệp FDI đến doanh nghiệp vốn trong nước. Tại Việt Nam, trong các văn kiện chính thức của chính phủ và của Đảng Cộng sản, FDI được xem là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân giống như các thành phần kinh tế khác. Tuy nhiên, trên thực tế FDI vẫn còn bị xem là lực lượng đối lập với các thành phần khác. Báo chí và đài truyền hình thường giới thiệu các ý kiến trong dân chúng, đại loại như: Chất xám của Việt Nam đang chảy sang doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp FDI không mất một đồng vốn đầu tư xây dựng nguồn nhân lực nhưng lại thu hút hết người tài giỏi của Việt Nam. Chính phủ cũng có quy định là những lĩnh vực nào doanh nghiệp trong nước có thể đầu tư thì không cho doanh nghiệp FDI hoạt động, doanh nghiệp FDI không được thuê lao động nước ngoài quá 3% tổng số lao động trong doanh nghiệp. Phân tích trong chương này sẽ cho thấy các ý kiến nêu trên đều chưa phản ánh đúng thực tế.. Chương này sẽ đánh giá vai trò của FDI trên bình diện vĩ mô của kinh tế Việt Nam và sẽ phân tích, đánh giá vai trò của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam trong mối quan hệ hỗ tương với các doanh nghiệp vốn trong nước. Chương này sẽ giới hạn vấn đề trong ngành công nghiệp chế biến là ngành mà doanh nghiệp FDI đóng vai trò quan trọng, và cũng là ngành Việt Nam sẽ đẩy mạnh phát triển trong chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong phần dưới đây, mục 1 sẽ bàn về các khái niệm, các khung phân tích chính liên quan đến nội lực và ngoại lực, trong đó đặc biệt đưa ra một phương pháp luận để phân tích sự liên quan giữa doanh nghiệp vốn trong nước và doanh nghiệp FDI, và đề khởi một sự liên kết (linkage) hiệu quả giữa hai loại hình doanh nghiệp. Mục 2 đánh giá tổng quát về kết quả du nhập FDI của Việt Nam trong thời gian qua (1988-2004). Mục 3 sẽ trình bày cái nhìn tổng quát về vị trí của doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam và phân tích hai trường hợp cụ thể (ngành may mặc và ngành xe máy) để xem chi tiết hơn về quan hệ giữa nội lực và ngoại lực tại Việt Nam. Cuối cùng, phần kết luận sẽ đề xuất mấy ý kiến về mặt chính sách để Việt Nam tận dụng hiệu quả hơn nguồn lực nước ngoài.

11.1. Mấy khái niệm để phân tích nội lực và ngoại lực

Nội lực và ngoại lực trong tầm nhìn vĩ mô

Nói cụ thể, những yếu tố nào có thể bao gồm trong nội lực và ngoại lực? Trên phương diện phân tích kinh tế, đất đai, lao động và tư bản là những yếu tố sản xuất chính, nhưng những nguồn lực (resources) khác như công nghệ, tri thức quản lý, khả năng kinh doanh, khả năng tổ chức, v.v. còn quan trọng hơn. Để phân tích được, ở đây ta cần giới hạn vào những nguồn lực mà nội lực và ngoại lực có quan hệ mật thiết nhau, hoặc bổ sung hoặc thay thế. Những nguồn lực như vậy có thể gồm tư bản, công nghệ, năng lực quản lý, kinh doanh. Cùng với vốn và công nghệ, năng lực quản lý và khả năng kinh doanh là những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp và được gọi chung là nguồn lực kinh doanh (managerial resources). Như vậy, vốn, công nghệ và nguồn lực kinh doanh là ba yếu tố quan trọng để kinh tế phát triển và cũng là những yếu tố nhìn được cả hai mặt nội lực và ngoại lực.

Một nước ở trình độ phát triển còn thấp, khả năng tiết kiệm hạn chế không đáp ứng đủ nhu cầu đầu tư. Nếu hạn chế nhu cầu đầu tư ở mức tiết kiệm cho phép thì kinh tế tăng trưởng chậm. Để nhanh chóng cất cánh, phải bảo đảm một tỷ lệ đầu tư cao. Khoảng chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư này được bù đắp bằng nguồn vốn nước ngoài. Ở đây phát sinh vấn đề nội lực và ngoại lực: Vốn nước ngoài nên được dùng như thế nào và đâu là mức độ có thể chấp nhận được? Vốn nước ngoài có thể được du nhập qua các kênh sau: (1) Vay theo hình thức vốn ưu đãi của chính phủ nước ngoài (ODA), (2) vay thương mại, (3) đầu tư trực tiếp từ doanh nghiệp nước ngoài (FDI), (4) các kênh khác. Các kênh (1) và (2) phát sinh nợ phải trả trong tương lai nên phải dùng ngoại lực này một cách có hiệu quả và phải vay trong một giới hạn có thể trả được nợ trong tương lai11. Nội lực nếu hiểu theo nghĩa rộng có thể bao gồm khả năng của chính phủ trong việc hoạch định kế hoạch, chính sách phát triển và khả năng quản lý, sử dụng vốn nước ngoài. Nhưng ở đây ta không đi sâu vào vấn đề này.. FDI là kênh du nhập tư bản không phát sinh nợ.

Công nghệ là nguồn lực phải được xây dựng lâu dài nên nếu chỉ dựa vào nội lực thì quá trình phát triển quá chậm. Trong lịch sử kinh tế, trừ Anh là nước công nghiệp hiện đại đầu tiên, hầu như nước nào cũng tìm cách du nhập công nghệ từ nước tiên tiến hơn mình để phát triển nhanh. Du nhập công nghệ nước ngoài có các kênh sau: (1) Hợp đồng mua công nghệ (licensing agreement), (2) FDI, (3) Các hình thái khác như BOT (Build - Operation - Transfer), OEM (Original Equipment Manufacturing), uỷ thác sản xuất (contractual production). BOT: Thường thấy trong trường hợp xây dựng các dự án hạ tầng như cầu, xa lộ... trong đó nước ngoài đưa vốn, công nghệ vào và hoàn toàn chịu trách nhiệm việc xây dựng và điều hành. Khi kết thúc thời gian hợp đồng thì chuyển giao lại cho nước sở tại. OEM: Doanh nghiệp nước ngoài đặt hàng và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp bản xứ, sau đó sẽ mua hết hàng sản xuất được và bán ra thị trường thế giới bằng nhãn hiệu của công ty nước ngoài. . Trong các kênh này, (1) và (2) phổ biến nhất.

Nguồn lực kinh doanh được du nhập chủ yếu qua kênh FDI. Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, FDI chưa phổ biến nên có thể nói nguồn lực kinh doanh chỉ được tích luỹ trong nội bộ mỗi nước.

Như vậy, FDI là hình thái du nhập cùng một lúc ba nguồn lực: vốn, công nghệ và năng lực kinh doanh. Nói khác đi, trong trường hợp FDI, cả ba nguồn lực được đưa vào trọn trong một gói (package). Kinh nghiệm các nước đã phát triển rất đa dạng. Nhật Bản là nước hầu như chỉ nhập khẩu công nghệ, còn vốn và nguồn lực kinh doanh thì dựa vào nội lực. Hàn Quốc (thập niên 1980 trở về trước) thì du nhập nhiều vốn (bằng ODA và vay thương mại) và công nghệ (chủ yếu qua hình thức hợp đồng) nhưng năng lực kinh doanh bản xứ đóng vai trò chủ đạo (Trần Văn Thọ, 1997, Chương 6 và 8).

FDI đưa vào cùng một lúc ba nguồn lực nên hiệu quả phát triển lớn hơn các hình thái khác như hợp đồng công nghệ hay vay vốn thương mại. Dù biết vậy, nhiều nước đang phát triển trong thập niên 1960 và 1970 đã lo ngại bị các công ty đa quốc gia (MNC, multinational corporations) chi phối kinh tế. Chủ nghĩa dân tộc và phong trào xã hội chủ nghĩa vào thời đó rất mạnh nên MNCs bị phê phán nặng và FDI được chấp nhận nhưng thường xuyên bị cảnh giác và bị hạn chế bằng nhiều chính sách đòi hỏi phải đáp ứng nhiều yêu cầu của nước tiếp nhận. Trong sự cảnh giác MNCs, đã có ý kiến là nên chia lẻ (unpackage) các nguồn lực và du nhập theo nhiều kênh khác nhau (Oman, 1984), giống như kinh nghiệm của Hàn Quốc.

Tuy nhiên, từ giữa thập niên 1980, cùng với xu thế toàn cầu hoá ngày càng mạnh, cạnh tranh giữa các nước trong chiến lược thu hút FDI ngày càng gay gắt vì FDI dần dần được xem là đầu máy của sự tăng truởng (engine of growth). Không kể Xingapo hay Hồng Kông là những nền kinh tế mở, quy mô nhỏ nên FDI có vai trò lớn, những nước lớn hơn như Thái Lan, Malaixia từ khoảng năm 1985 và Trung Quốc từ thập niên 1990 đã thành công trong chiến lược tích cực dùng FDI để tăng trưởng cao.

Dù vậy, tại một số nước trong đó có Việt Nam vẫn còn có thái độ cảnh giác MNCs, xem việc du nhập FDI là chuyện bất đắc dĩ. Điều này phản ánh trong các chính sách hạn chế hoạt động của MNC và áp dụng chính sách hai giá, ép buộc người nước ngoài và doanh nghiệp FDI phải trả giá cao cho nhiều sản phẩm và dịch vụ như điện, nước, bưu chính viễn thông,.. Các nước này rơi vào trường hợp tiến thoái lưỡng nan (dilemma) vừa muốn du nhập FDI nhưng lại sợ bị bóc lột.

Để giải quyết tình thế này tôi đã đề khởi chiến lược vừa tích cực du nhập FDI vừa nỗ lực tích luỹ nội lực để thay thế dần ngoại lực (vốn, công nghệ và nguồn lực kinh doanh). Về chi tiết, xem Trần Văn Thọ (1997), tr. 153-157.. Nội dung chiến lược này có thể tóm tắt như sau: tuỳ theo giai đoạn phát triển của một ngành công nghiệp, ta nên phân chia độ phụ thuộc vào ngoại lực thành nhiều mức độ khác nhau. Chiến lược thông minh là trong khi trình độ sản xuất còn non trẻ, ta phải biết tranh thủ đến mức cao nhất vốn, công nghệ và nguồn lực kinh doanh của MNCs để tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế, nhưng sau đó, bằng cách tự mình tích luỹ các nguồn lực này tiến đến giảm dần mức độ dựa vào ngoại lực. Biểu đồ 11.1 minh hoạ điểm này.

Trong hình này, trục tung biểu thị mức độ dựa vào ngoại lực (đo bằng tỷ lệ góp vốn, tỷ lệ của số cán bộ kỹ thuật hoặc cán bộ quản lý nước ngoài trong tổng số...). Trục hoành biểu thị thời gian, còn i1, i2, i3,... là các đường cong biểu hiện sự thay đổi về mức độ dựa vào ngoại lực. R là mức độ bình quân mà nước này có thể phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài. Tuỳ theo từng nước, ý thức dân tộc và thái độ đối với ngoại lực có khác nhau nên R của từng nước cũng khác nhau. Điều quan trọng là trong bất cứ ngành công nghiệp nào, mức độ dựa vào ngoại lực không phải luôn giữ ở mức R như nhau, mà tuỳ từng giai đoạn phát triển, của từng ngành công nghiệp nó có thể cao hoặc thấp hơn R. Như vậy, việc kết hợp giữa sự khác nhau trong các giai đoạn phát triển của các ngành công nghiệp với sự khác nhau tương ứng của độ phụ thuộc vào ngoại lực, sẽ đem lại một con số trung bình của toàn nền kinh tế (R) về mức độ dựa vào ngoại lực. Ví dụ quan sát thời điểm tn ta có thể hiểu được điều đó dễ dàng.

Làm sao để tích luỹ các nguồn lực trong nước để dần dần thay thế được ngoại lực? Đây là đề tài lớn không thể phân tích hết ở đây. Việc tích luỹ nội lực bao gồm tăng tiết kiệm trong nước, khơi dậy tinh thần doanh nghiệp của người trong nước, đẩy mạnh giáo dục đào tạo theo hướng cung cấp ngày càng nhiều người có năng lực quản lý, kinh doanh, v.v... Nhưng trong các biện pháp, chính sách, chiến lược tích luỹ nội lực có vấn đề tận dụng ngoại lực để tích luỹ nội lực. Nghĩa là trong lúc du nhập FDI, làm sao đẩy mạnh việc chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp bản xứ. Việc liên kết (linkages) giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp gốc trong nước càng hiệu quả, việc chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh càng tích cực thì nội lực được tăng cường. Phần tiếp theo sẽ phân tích điểm này.

Chuyển giao công nghệ và nguồn lực kinh doanh: Liên kết giữa ngoại lực và nội lực

Vai trò quan trọng mà FDI mang lại cho nước đang phát triển là chuyển giao công nghệ và nguồn lực kinh doanh. Công nghệ và nguồn lực kinh doanh được chuyển giao không giới hạn trong ngành có FDI triển khai mà còn qua các sự liên kết hàng dọc (vertical linkages), các nguồn lực này có thể chuyển sang các ngành khác, làm cho các doanh nghiệp ở các ngành đó phát triển có hiệu suất hơn.

Sự chuyển giao (transfer) có ba loại: Chuyển giao trong nội bộ doanh nghiệp (intra-firm transfer) là hình thái chuyển giao giữa công ty đa quốc gia (MNC) với công ty con tại nước ngoài, tức doanh nghiệp FDI. Để hoạt động có hiệu quả tại nước ngoài, MNCs thường tích cực chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh cho doanh nghiệp con (đào tạo lao động trong nước để có thể sử dụng máy móc, cấp quản lý cũng được đào tạo và thay thế dần người nước ngoài để giảm phí tổn sản xuất). Đối với nước tiếp nhận FDI, để tăng hiệu quả này, tốt nhất là không ngừng cải thiện, tăng cường cung cấp ra thị trường các nguồn nhân lực cần thiết. Chính sách bắt buộc doanh nghiệp FDI dùng người trong nước chỉ làm môi trường đầu tư xấu đi. Một vấn đề lý thú nữa là liệu hình thái liên doanh hay 100% vốn nước ngoài có hiệu quả cao trong việc chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh? Chuyển giao công nghệ sản xuất thì không có sự khác biệt mấy giữa hai hình thái. Nhưng để đẩy mạnh chuyển giao năng lực kinh doanh, rõ ràng là hình thái liên doanh có hiệu quả hơn vì các nhà quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp trong nước có cơ hội học hỏi trực tiếp kinh nghiệm từ đối tác nước ngoài. Kojima (1977) là một trong những nhà kinh tế đầu tiên bàn vấn đề này về mặt lý luận. Tôi đã có dịp phân tích nỗ lực của Hàn Quốc trong việc tiếp thu công nghệ và tri thức kinh doanh qua hình thái liên doanh (Xem Trần Văn Thọ, 1988). Dĩ nhiên FDI với 100% vốn nước ngoài cũng có thể được khuyến khích nếu các mục đích khác như xúc tiến xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, v.v., đang được nhấn mạnh..

Hình thái thứ hai là chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước hoạt động trong cùng ngành. Người quản lý nước sở tại làm việc trong doanh nghiệp FDI sau khi học hỏi được nhiều kinh nghiệm có thể mở công ty riêng cạnh tranh lại với công ty FDI. Đối với doanh nghiệp FDI, đây là một sự tổn thất nhưng đối với kinh tế của nước nhận FDI thì đây là hiện tượng tốt vì công nghệ được lan truyền sang toàn xã hội, góp phần tăng cường nội lực. Một thí dụ khác của hình thái này là xí nghiệp nước sở tại đã có sẵn và hoạt động cạnh tranh trong cùng lĩnh vực với doanh nghiệp FDI có thể quan sát, nghiên cứu hoạt động của doanh nghiệp FDI, từ đó cải thiện hoạt động của mình. Có thể gọi hình thái thứ hai liên quan đến chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh là sự chuyển giao hàng ngang giữa các doanh nghiệp (horizontal inter - firm transfer) vì là sự chuyển giao giữa các doanh nghiệp độc lập và ở trong cùng một ngành. Tuy nhiên, hình thái này có thể hiểu được trên lý luận nhưng khó kiểm chứng vì không thể thu thập được số liệu khách quan1. Ở đây chỉ bàn về FDI. Ngoài FDI có các hình thái liên kết hàng ngang khác giữa công ty nước ngoài và công ty trong nước như OEM và ODM (xem Chương 8)..

Hình thái thứ ba là chuyển giao hàng dọc giữa các doanh nghiệp (vertical inter - firm transfer) trong đó doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh sang các doanh nghiệp nước sở tại sản xuất sản phẩm trung gian (điển hình là sản phẩm công nghiệp phụ trợ như phụ tùng, linh kiện xe máy) cung cấp cho doanh nghiệp FDI, hoặc trường hợp doanh nghiệp trong nước dùng sản phẩm của doanh nghiệp FDI để sản xuất ra thành phẩm cuối cùng (chẳng hạn dùng nguyên liệu chất dẻo - plastic - do doanh nghiệp FDI cung cấp để sản xuất các loại đồ dùng trong nhà). Trong cả hai trường hợp, công nghệ được chuyển giao từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp trong nước, và đây là hiệu quả lan toả (spill - over effect) lớn nhất, quan trọng nhất nên các nước đang phát triển đặc biệt quan tâm và đưa ra các chính sách làm tăng hiệu quả này (Xem UNCTAD, 2001).

11.2. Vị trí của FDI trong nền kinh tế Việt Nam

Chương 12 sẽ đánh giá tổng quát về FDI và bàn chiến lược thu hút FDI để đẩy mạnh công nghiệp hoá. Ở đây chỉ khảo sát về vị trí của FDI trong nền kinh tế, phân tích quan hệ giữa công ty có vốn nước ngoài với công ty trong nước.

Bảng 11.1. cho thấy vị trí của FDI trong các chỉ tiêu của kinh tế Việt Nam. So với kinh nghiệm các nước châu Á khác, vị trí này khá cao. Chẳng hạn, tỷ trọng của FDI trong tổng đầu tư của Việt Nam xấp xỉ với Malaixia và cao hơn Thái Lan nhiều (trong giai đoạn 1988-1993, xem Bảng 11.2). So với Trung Quốc những năm gần đây thì con số của Việt Nam cũng cao hơn. Tuy nhiên, thống kê trong Bảng 11.2 là FDI ròng (net inflows), nghĩa là FDI từ ngoài vào (inflows) đã trừ đi lợi nhuận, cổ tức chuyển ra nước ngoài của những dự án FDI trong quá khứ. Phần chuyển ra (outflows) này của các nước châu Á khác khá lớn so với Việt Nam vì các nước khác có một lịch sử thu hút FDI dài gấp nhiều lần Việt Nam. Do đó nếu chỉ tính inflows, chênh lệch giữa Việt Nam với các nước khác sẽ nhỏ hơn nhiều so với thống kê trong Bảng 11.2.

Dù vậy, FDI trong tổng đầu tư của Việt Nam được xem là khá cao. Tuy nhiên, FDI ở Việt Nam vẫn còn ít nếu xét trên một số chỉ tiêu khác. Chẳng hạn so sánh Việt Nam với Trung Quốc nói chung và tỉnh Quảng Đông (một tỉnh có nhiều điều kiện như dân số, vị trí địa lý giống Việt Nam) nói riêng, FDI tính trên đầu người ở Việt Nam chỉ bằng 60% của nước Trung Quốc rộng lớn với số dân 1,3 tỷ và chỉ bằng 13% của tỉnh Quảng Đông (xem lại Bảng 3.2 của Chương 3). Như Bảng 3.2 của Chương 3 cho thấy, FDI có tương quan mật thiết với các chỉ tiêu về thành quả phát triển như GDP trên đầu người và kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp. Từ nhận xét này, có thể nói tỷ lệ của FDI trong tổng đầu tư ở Việt Nam cao là vì đầu tư vốn trong nước (nội lực) còn quá ít. Việt Nam cần huy động vốn trong dân, cải thiện môi trường đầu tư cho dân doanh hơn nữa để tăng nội lực. Tóm lại, tỷ lệ khá cao của FDI không có nghĩa là Việt Nam không cần ngoại lực nhiều hơn mà vấn đề ở đây là cả nội lực và ngoại lực đều cần tăng cường.

Xét về chất, FDI tại Việt Nam cho đến nay chưa có các đặc tính có thể mang lại hiệu quả tích cực cho phát triển kinh tế. Trước hết có thể thấy tỷ trọng của FDI trong sản xuất công nghiệp khá cao (gần 40% năm 2000) nhưng chỉ chiếm độ 10% trong lao động công nghiệp (Bảng 11.1). Dĩ nhiên điều đó cũng có nghĩa là năng suất lao động của các doanh nghiệp FDI cao hơn các thành phần kinh tế khác. Nhưng FDI ít tạo ra công ăn việc làm không phải chỉ vì lý do đó mà chủ yếu vì cho đến nay FDI có khuynh hướng tập trung vào những ngành thay thế nhập khẩu và ít dùng lao động. Như Bảng 11.1 cho thấy, vị trí của FDI trong tổng nhập khẩu cao hơn trong tổng xuất khẩu. Dĩ nhiên, các doanh nghiệp FDI nhập khẩu nhiều nguyên liệu và máy móc để phục vụ cho cả các dự án đầu tư hướng về xuất khẩu nhưng nếu phần lớn FDI là hướng về xuất khẩu thì tỷ lệ của FDI trong nhập khẩu sẽ thấp hơn nhiều.

Để phân tích sâu hơn tính chất của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, ta thử chia khu vực công nghiệp chế biến (manufacturing sector) thành 23 ngành và tính thử tỷ lệ của tư bản dùng cho mỗi lao động (capital/labor ratio, viết tắt là K/L) và tỷ lệ xuất khẩu trong tổng doanh số bán ra (export/sale, viết tắt là E/S) trong từng ngành. Thống kê về tư bản được tính bằng cách cộng tất cả kim ngạch đầu tư đã thực hiện từ trước đến thời điểm cuối năm 2002. Thống kê về lao động lấy số liệu vào cuối năm 2002, kim ngạch xuất khẩu và doanh số bán ra là của năm 2002. Trong Biểu đồ 11.2, trục tung đo tỷ lệ E/S và trục hoành đo tỷ lệ K/L. Ta thấy ngay rằng trừ một vài ngoại lệ, những ngành có hàm lượng lao động cao (tỷ lệ K/L thấp) là những ngành mà FDI hoạt động chủ yếu là phục vụ xuất khẩu (tỷ lệ E/S cao), điển hình là may mặc, giày dép, gỗ chế biến... Điều này hợp với lý luận cơ bản về kinh tế quốc tế vì Việt Nam là nước phong phú về lao động nên có lợi thế so sánh trong các ngành có hàm lượng lao động cao.

Nhưng cho đến nay, những ngành mà kim ngạch FDI chiếm vị trí hàng đầu là những ngành thay thế nhập khẩu. Bốn ngành có kim ngạch FDI nhiều nhất (luyện kim, thực phẩm và đồ uống, ô tô xe máy và hoá chất) chiếm tới 53% tổng kim ngạch FDI (lũy kế từ năm 1988 đến 2002) đều là những ngành có tỷ lệ K/L cao và tỷ lệ E/S thấp. Những ngành thay thế nhập khẩu này thường là những ngành được bảo hộ bằng hàng rào quan thuế khá cao. Vào những năm cuối thập niên 1990, thuế nhập khẩu sản phẩm kim loại là 256%, sản phẩm chất dẻo (plastic) là 185% và sản phẩm giấy là 118%. Xem World Bank (2000), tr. 25.. Do được bảo hộ và do kỳ vọng vào sự lớn mạnh của thị trường gần 80 triệu dân, doanh nghiệp nước ngoài có khuynh hướng muốn đầu tư vào các ngành thay thế nhập khẩu.

Dĩ nhiên không phải tất cả các dự án FDI có mục đích thay thế nhập khẩu đều đáng bị chỉ trích như ta thấy ở một số nghiên cứu khác. Chẳng hạn, xem Sachs và những người khác (1997) chỉ trích FDI ở Việt Nam chủ yếu là thay thế nhập khẩu nên không phát huy lợi thế so sánh và ít tạo công ăn việc làm.. Nếu các ngành đó dần dần không cần bảo hộ mà vẫn cạnh tranh được trên thị trường thế giới và do đó chuyển từ thay thế nhập khẩu sang xuất khẩu trong tương lai thì vẫn đáng được đánh giá cao (xem như là những ngành non trẻ có thể được bảo hộ trong thời gian nhất định). Một điểm nữa là nếu các dự án FDI thay thế nhập khẩu đó có hiệu quả lan toả (spill - over effects), tác động tích cực trong việc chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh, kích thích phát triển các doanh nghiệp bản xứ và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước thì những phí tổn bảo hộ cho toàn xã hội sẽ nhỏ đi và các dự án FDI đó cũng đáng được đánh giá tích cực. Nhưng lịch sử FDI của các ngành này còn ngắn, chưa có cơ sở để đánh giá xem các ngành thay thế nhập khẩu hiện nay, thoả mãn các điều kiện của những ngành công nghiệp non trẻ hay không. Do đó, ở đây ta sẽ chỉ phân tích hiệu quả lan toả của các dự án FDI kể cả các dự án thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu (xem phần cuối của mục 11.3).

11.3. Đánh giá sự liên kết giữa nội lực và ngoại lực tại Việt Nam

Dựa trên khung các khái niệm nói ở mục 11.1, ta sẽ đánh giá việc chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh giữa MNCs với doanh nghiệp FDI (chuyển giao nội bộ doanh nghiệp) và giữa FDI với doanh nghiệp trong nước (chuyển giao hàng dọc giữa các loại hình doanh nghiệp). Khái niệm chuyển giao này chỉ một hiện tượng gần như đồng nghĩa với khái niệm liên kết (linkages) mà Lall (1977) và UNCTAD (2001) dùng để phân tích quan hệ hiệu quả giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước nên dưới đây ta sẽ dùng cả hai khái niệm này. Nhưng trước khi đi vào vấn đề, cần có cái nhìn về cơ cấu các loại hình doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.

Các loại hình doanh nghiệp trong nền công nghiệp Việt Nam

Trước đổi mới, kinh tế Việt Nam có ba loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp nhà nước (SOEs), hợp tác xã và các hộ gia đình. Từ khi có đổi mới, các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân ra đời. FDI bắt đầu từ năm 1988 nhưng thực sự tăng đáng kể từ năm 1994. Doanh nghiệp tư nhân tăng đáng kể mới từ năm 2000.

Bảng 11.3 chia khu vực công nghiệp thành 23 ngành kèm theo thống kê về kim ngạch sản xuất năm 2000 và thị phần của ba loại hình doanh nghiệp. Nhìn chung vị trí của FDI khá cao. Đặc biệt, doanh nghiệp FDI có vị trí lớn trong các ngành ô tô, xe máy, đồ điện gia dụng, máy móc dùng ở văn phòng. Trong một số ngành có hàm lượng lao động cao như may mặc, giày dép, FDI cũng có vai trò quan trọng. SOEs đặc biệt mạnh trong các ngành dùng nhiều tư bản như sản xuất thuốc lá, kim thuộc và hoá chất. Công ty tư nhân và các hộ cá thể thì tương đối mạnh trong các ngành có hàm lượng lao động cao và chủ yếu dùng nguyên liệu trong nước như chế biến đồ gỗ, thực phẩm. Bảng 11.3 cho thấy may mặc là ngành công nghiệp mà cả ba loại hình doanh nghiệp đều có vai trò quan trọng. Ngành này sẽ được chọn để khảo sát sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp khác. Trong ngành ôtô xe máy, FDI có vị trí áp đảo, nhưng đây là ngành liên quan mật thiết với công nghiệp phụ trợ, ta sẽ chọn để xét xem có sự liên kết giữa FDI với các loại hình doanh nghiệp khác không.

Chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh từ MNC

Vào tháng 08 và tháng 09-2003, tôi có thực hiện một cuộc điều tra thực tế tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Biên Hoà về hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong các ngành dệt vải, may mặc, giày dép, ô tô và xe máy. Trong mùa hè các năm trước đó, một số cuộc điều tra nhỏ hơn cũng đã được thực hiện. Tổng hợp kết quả các cuộc điều tra này cho thấy các doanh nghiệp FDI tích cực chuyển giao công nghệ cho lao động ở nhà máy và chuyển giao tri thức điều hành, quản lý cho kỹ sư, nhân viên quản lý các cấp người Việt Nam. Khi nguời Việt Nam không hoặc chưa thoả mãn các điều kiện về chuyên môn, doanh nghiệp nước ngoài mới đưa người ở các nước khác đến. Người nước khác ở đây không nhất thiết là người nước gốc của MNCs mà kể cả người ở các nước thứ ba. Đặc biệt nhiều công ty FDI gốc Đài Loan hoặc Hồng Kông thường thuê kỹ sư ở Trung Quốc, công ty FDI Nhật Bản thường thuê người Đài Loan, v.v... Sau 3 năm đến 4 năm hoạt động, các doanh nghiệp FDI dần dần tìm người Việt Nam thay thế để giảm phí tổn sản xuất. Tiền lương của một kỹ sư người Việt Nam bằng nửa người Trung Quốc và bằng 1/4 người cùng trình độ từ Đài Loan sang.

Để tăng hiệu quả chuyển giao công nghệ và tri thức kinh doanh, điều tiên quyết của Việt Nam là cần tăng cường giáo dục, đào tạo để cung cấp nguồn nhân lực cần thiết. Chính sách gần đây của Việt Nam (hạn chế doanh nghiệp FDI chỉ được dùng người nước ngoài trong giới hạn 3% tổng lao động trong công ty). Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn, ngày 01-07-2004. là không có cơ sở khoa học và chỉ làm môi trường FDI ở Việt Nam xấu hơn.

Về việc chuyển giao năng lực kinh doanh, chưa có số liệu đầy đủ để phân tích có hệ thống nhưng những thông tin liên quan mà tôi thu thập được trong mấy năm qua cho thấy là hiệu quả chuyển giao rất yếu vì các lý do sau: Thứ nhất, phần lớn đối tác phía Việt Nam trong các liên doanh FDI là doanh nghiệp nhà nước (SOEs). Người quản lý, lãnh đạo kinh doanh được gửi tới các liên doanh thường là cán bộ ở SOEs hoặc ở các bộ chủ quản của SOEs liên quan. Trong số này cũng có nhiều người vốn có tinh thần doanh nghiệp, tinh thần trách nhiệm và ham học hỏi nên đã làm việc hiệu quả trong các liên doanh, tích cực hấp thu tri thức và kinh nghiệm từ đồng nghiệp nước ngoài. Nhưng một phần khá lớn họ là những người hành động như các quan chức và dồn hết quan tâm về những vấn đề khác, thay vì làm cho liên doanh phát triển. Thứ hai, nguyên tắc nhất trí 100% thành viên hội đồng quản trị áp dụng vào việc quyết định các vấn đề kinh doanh trong liên doanh kéo dài quá lâu, cải thiện quá chậm gây ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp FDI. Vì lý do này, MNCs đầu tư ở Việt Nam có khuynh hướng lập doanh nhgiệp 100% vốn nước ngoài thay vì liên doanh. Các liên doanh trong quá khứ cũng có khuynh hướng xin chuyển sang hình thức 100% vốn nước ngoài. Bảng 11.4 cho thấy tỷ lệ của các liên doanh trong tổng số các doanh nghiệp FDI giảm nhanh và liên tục trong thời gian qua. Như đã phân tích ở mục I, FDI với 100% vốn nước ngoài không đưa lại hiệu quả chuyển giao nguồn lực kinh doanh cao như trường hợp liên doanh.

Liên kết hàng dọc : Hiệu quả lan tỏa mạnh hay yếu ?

Như đã đề cập ở mục 11.1, hiệu quả lan toả từ FDI đến các thành phần khác trong nền kinh tế càng cao thì nội lực càng được tăng cường. Qua sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước (SOEs, doanh nghiệp tư nhân, các đơn vị cá thể...), công nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp FDI đến các thành phần khác của nền kinh tế. Để kiểm chứng hiệu quả này, cần xét từng ngành cụ thể. Dưới đây sẽ phân tích hai ngành may mặc và xe máy là những ngành có các quan hệ hàng dọc với các ngành khác. Ngoài ra, đây là hai trong những ngành có FDI nhiều, trong đó FDI ngành may mặc hướng vào thị trường nước ngoài còn ở ngành xe máy chủ yếu là thay thế nhập khẩu

a. Ngành may mặc

Dệt vải và may mặc là những ngành công nghiệp quan trọng của Việt Nam. Năm 2001, hai ngành này chiếm độ 11% giá trị tính thêm trong toàn bộ ngành công nghiệp chế biến. Từ đầu thập niên 1990, may mặc trở thành ngành xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam. Vào giữa thập niên 1990, ngành này chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu và độ 50% kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp. Với sự lớn mạnh của ngành da giày và một số ngành xuất khẩu khác, vị trí của ngành may mặc có giảm nhưng vẫn chiếm 10% tổng kim ngạch xuất khẩu vào năm 2001. Trước giai đoạn may mặc (apparel) là các giai đoạn kéo sợi (spinning), dệt (weaving) và dệt kim (knitting). Theo Bảng 11.6, số doanh nghiệp FDI hiện diện khá đông đảo trong tất cả các giai đoạn, đặc biệt là khá tích cực trong giai đoạn may mặc. Trong hai ngành may mặc và dệt này, các nước và các nền kinh tế đầu tư tích cực nhất là Đài Loan, Hàn Quốc, Xingapo và Hồng Kông (Bảng 11.5). Nhiều công ty Nhật Bản cũng tích cực. Trừ Xingapo, các dự án của các nước này có tỷ lệ xuất khẩu rất cao và tỷ lệ K/L thấp. Điều này cho thấy các nước công nghiệp mới ở châu Á và Nhật Bản đã tận dụng lao động Việt Nam để sản xuất và xuất khẩu mặt hàng điển hình có hàm lượng lao động cao.

Nhưng hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong ngành may mặc có tạo ra một sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước thuộc các giai đoạn kéo sợi và dệt không? Theo điều tra của Viện Quản lý kinh tế Trung ương, vào năm 2002, vẫn còn tới hơn 2/3 số doanh nghiệp FDI dùng nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng may mặc. Tư liệu tham khảo theo Đặng Thị Đông (2003). Xem thêm Goto (2003).

Điều tra của tôi vào tháng 8 và tháng 9-2003 cho thấy các doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài thường có khuynh hướng nhập khẩu hầu như toàn bộ bán thành phẩm và nguyên liệu cần thiết. Chẳng hạn, trường hợp công ty 100% vốn Nhật Bản sản xuất quần áo ở Khu chế xuất Tân Thuận, vào năm 2003, mặc dầu đã sau bảy năm hoạt động tại Việt Nam, vẫn còn có tới 97% nguyên liệu và bán thành phẩm nhập khẩu từ nước ngoài.

Những doanh nghiệp FDI có dùng (mặc dù số lượng chưa nhiều) nguyên liệu và bán thành phẩm sản xuất trong nước thuộc hai trường hợp sau: một là các doanh nghiệp liên doanh với các đối tác phía Việt Nam, các đối tác này thường là các công ty nhà nước mà sản xuất chính của họ là các mặt hàng trung gian đó. Một trong những động cơ hoặc điều kiện để lập liên doanh với nước ngoài là tiêu thụ bán thành phẩm hay nguyên liệu họ có sản xuất. Hai là các doanh nghiệp FDI ngành may mặc mua bán chế phẩm hay nguyên liệu từ những liên doanh FDI khác. Từ giữa thập niên 1990, FDI vào Việt Nam để sản xuất các sản phẩm này bắt đầu tăng và vào đầu năm 2003, đã có trên dưới 50 doanh nghiệp vốn nước ngoài sản xuất sợi và vải tại Việt Nam (xem Bảng 11.6).

Kết quả khảo sát này cho thấy sự liên kết giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp thuần tuý vốn trong nước là rất yếu. Doanh nghiệp FDI có khuynh hướng dùng nguyên liệu và bán thành phẩm nhập khẩu hoặc do các công ty FDI khác sản xuất. Nguyên nhân là vì doanh nghiệp nhà nước trong ngành không cung cấp các sản phẩm chất lượng cao và/hoặc không bảo đảm các điều kiện về giao hàng. Doanh nghiệp tư nhân trong nước còn quá yếu.

b. Trường hợp ngành xe máy

Từ giữa thập niên 1990, thị trường xe máy ở Việt Nam tăng nhanh. Trước năm 1997, nhiều công ty thương mại nhà nước nhập khẩu xe cũ từ Nhật Bản. Nhưng từ năm 1997 xe cũ không được phép nhập nữa và từ năm 1998 nhập khẩu xe mới cũng bị cấm. Chính sách này nhằm đẩy mạnh sản xuất thay thế nhập khẩu tại Việt Nam.

Từ đầu thập niên 1990, một số công ty lắp ráp trong nước đã ra đời. Họ nhập khẩu linh kiện nguyên chiếc (CKD) hoặc linh kiện rời (IKD) về lắp ráp bán tại thị trường trong nước. Công nghệ lắp ráp CKD đơn giản nên nhà nước chỉ dành cho một số các công ty nhà nước. Các công ty ngoài nhà nước phải theo hình thức IKD. Trong tình hình đó, từ giữa thập niên 1990, số doanh nghiệp FDI tham gia sản xuất tăng nhanh. Đến tháng 6-2002 đã có 7 công ty FDI trong số 52 doanh nghiệp lắp ráp xe máy. Số doanh nghiệp FDI không nhiều nhưng quy mô lớn và có uy tín quốc tế nên chiếm thị phần không nhỏ. Đặc biệt nổi tiếng nhất là Honda. Nhờ thanh danh, nhãn hiệu nổi tiếng và thị phần lớn nên giá bán xe máy của Honda cao và công ty này đã có thể có lời từ năm 1999, chỉ 15 tháng tính từ ngày bắt đầu sản xuất. Nhưng khi thông tin về phí tổn sản xuất và giá bán của xe máy do Honda lắp ráp tại Thái Lan lan truyền tại Việt Nam, dư luận xã hội đã chỉ trích Honda về thành quả hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Cùng lúc đó, nhiều doanh nghiệp trong nước bắt đầu nhập linh kiện xe Trung Quốc và sản xuất với giá rẻ. Tuy chủ yếu bán cho giới tiêu thụ thu nhập thấp, nhất là tại thị trường nông thôn, các loại xe máy này xâm lấn vào thị trường của Honda. Vào tháng 01-2002, Honda đối phó bằng chiến lược nhập linh kiện IKD từ Trung Quốc và sản xuất loại xe mới, giá rẻ, giành lại thị trường. Theo tôi, so sánh với nước khác như Thái Lan chẳng hạn, giá xe máy Honda sản xuất ở Việt Nam cao vì ba lý do: phí tổn khấu hao (depreciation cost) cao (vì thời gian hoạt động của nhà máy ngắn hơn nhiều), quy mô sản xuất nhỏ, và điều kiện thị trường (bảo hộ, có lợi cho công ty có khả năng chi phối bằng nhãn hiệu nổi tiếng như Honda). Dư luận ở Việt Nam phê phán Honda bán giá cao nhưng chỉ dựa trên cảm tính (bóc lột giới tiêu thụ để tăng lợi nhuận) chứ không dựa trên kết quả của các phân tích khoa học. Yếu tố thứ ba yếu đi khi công ty trong nước được phép nhập linh kiện rẻ từ Trung Quốc buộc Honda phải có hành động tương tự để sản xuất loại xe máy rẻ hơn (nhãn hiệu mới là Wave Alpha)..

Xe máy giá rẻ đã nhanh chóng làm cho thị trường phát triển mạnh nhưng cũng làm tăng tai nạn giao thông. Năm 2002, chính phủ hạn chế số lượng xe máy mới lưu thông trên thị trường, chỉ cho phép đăng ký 1,5 triệu chiếc, bằng 75% năm 2001. Trong số 1,5 triệu chiếc, 900.000 chiếc là hạn ngạch dành cho doanh nghiệp trong nước và phần còn lại cho doanh nghiệp FDI. Mặc dù số lượng 600.000 chiếc dành cho doanh nghiệp FDI là khá lớn so với lượng sản xuất của họ năm 2001, nhưng vì các công ty FDI đã có kế hoạch đẩy mạnh sản xuất với số lượng cao hơn hạn ngạch được phân phối nên nhiều công ty đã phải điều chỉnh kế hoạch kinh doanh (Honda tạm ngừng sản xuất vào tháng 9-2002, một sự kiện được các cơ quan truyền thông loan báo rộng rãi làm hình ảnh môi trường FDI ở Việt Nam xấu đi).

Chính sách của Việt Nam trong ngành xe máy cũng có một số cơ sở nhất định nhưng vấn đề là chính phủ không có kế hoạch lâu dài cho ngành này và chính sách thay đổi đột ngột làm ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường FDI xấu, sản xuất của doanh nghiệp FDI bất ổn định dĩ nhiên ảnh hưởng đến sự chuyển giao công nghệ và tri thức kinh doanh đến các doanh nghiệp trong nước vì kế hoạch sản xuất của xe máy không ổn định thì kế hoạch tạo sự liên kết với các doanh nghiệp cung cấp phụ kiện, bộ phận cũng bất ổn.

Về sự liên kết giữa FDI với các công ty trong nước, ít có tư liệu để kiểm chứng. Sau đây ta xét hoạt động của Honda là trường hợp mà tác giả thu thập được tương đối nhiều thông tin.

Như Bảng 11.7 cho thấy, tỷ lệ nội địa hoá của Honda khá cao ngay từ lúc mới bắt đầu sản xuất và tăng nhanh trong những năm sau đó. Tỷ lệ này cao hơn cả tỷ lệ quy định của Chính phủ Việt Nam. Theo chính sách áp dụng cho ngành xe máy, doanh nghiệp FDI phải thực hiện tỷ lệ nội địa hoá ít nhất 10% vào lúc bắt đầu sản xuất và tăng tỷ lệ đó lên ít nhất 60% vào năm thứ sáu. Sự tích cực nội địa hoá của Honda có thể được giải thích bằng dự tưởng ban đầu của công ty này về khả năng mở rộng sản xuất trong tương lai. Quy mô lắp ráp xe máy càng được mở rộng, thị trường cho các linh kiện và các sản phẩm trung gian khác càng lớn và trở thành điều kiện để sản xuất hiệu quả các sản phẩm trung gian đó. Tăng tỷ lệ nội địa trong trường hợp như vậy sẽ làm cho giá thành sản xuất xe máy giảm, lợi nhuận của Honda sẽ tăng hơn.

Năng lực sản xuất của Honda Việt Nam đầu năm 2001 là 400.000 chiếc nhưng quy mô sản xuất thực tế của công ty này trong năm 2001 chỉ có 170.000 chiếc vì sức ép cạnh tranh từ xe máy Trung Quốc. Nhưng qua năm 2002, sau khi đưa loại xe mới (Wave Alpha) vào thị trường, Honda chiếm lại thị phần đã mất và dự tưởng thị trường xe máy ở Việt Nam đang lớn mạnh nên đã tăng năng lực sản xuất lên 600.000 chiếc (nhưng do chính sách hạn chế sản xuất và phân bổ hạn ngạch của Chính phủ Việt Nam vào tháng 09-2002, Honda chỉ sản xuất được 390.000 vào năm 2002). Tỷ lệ nội địa hoá khá cao của Honda có thể được hiểu trong bối cảnh dự tưởng tăng năng lực sản xuất ấy.

Nhưng quan tâm của chúng ta là tỷ lệ nội địa hoá cao ấy có đi theo liền với sự liên kết hiệu quả với các doanh nghiệp trong nước không. Nội địa hoá là dùng linh kiện và các sản phẩm trung gian khác sản xuất tại Việt Nam theo ba kênh: (1) sản xuất trong nội bộ nhà máy lắp ráp (in-house production) của Honda, (2) mua từ các doanh nghiệp FDI khác, (3) mua từ các doanh nghiệp thuần tuý trong nước. Dĩ nhiên sự liên kết giữa Honda với SOEs hoặc các doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam sẽ càng mạnh nếu kênh 3) càng quan trọng. Rất tiếc là kết quả điều tra của tôi không cho thấy như vậy: cho đến nay, Honda chủ yếu dùng kênh (1) và kênh (2) mặc dù công ty này đã cố gắng tìm kiếm các khả năng để dùng kênh (3) nhiều hơn để giảm phí tổn sản xuất. Như Bảng 11.7 cho thấy, vào năm 2003, Honda đã mua linh kiện và các sản phẩm trung gian khác từ 42 doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam nhưng trong đó chỉ có 13 doanh nghiệp là của vốn trong nước. Được biết Honda mỗi năm khảo sát hơn 100 doanh nghiệp Việt Nam, kể cả SOEs và tư nhân, để tìm những công ty có tiềm năng, qua đó sẽ chuyển giao công nghệ để các công ty này có thể cung cấp linh kiện và các sản phẩm đầu vào khác với chất lượng và giá thành chấp nhận được. Nhưng lúc đầu chỉ có 5 công ty đáp ứng các điều kiện đó. Con số này cũng chỉ tăng đến 13 công ty năm 2003. Honda Thái Lan sản xuất mỗi năm độ 1 triệu xe máy, khoảng gấp đôi mức sản xuất của Honda Việt Nam, nhưng tại Thái Lan hiện nay, hơn 100 doanh nghiệp trong nước cung cấp linh kiện, phụ tùng cho Honda. Dĩ nhiên Honda Thái Lan có lịch sử dài hơn Honda Việt Nam nên không thể so sánh một cách máy móc. Nhưng dù có sự khác biệt đó, vẫn phải ghi nhận là số lượng doanh nghiệp trong nước có thể tham gia vào kế hoạch nội địa hoá của Honda đang có một khoảng cách khá xa giữa hai nước. .

Tóm lại, cũng như trong trường hợp của ngành dệt may, sự liên kết hàng dọc giữa doanh nghiệp FDI và doanh nhgiệp trong nước của ngành xe máy cũng quá yếu. Cần có chính sách tăng cường nội lực bằng cách xây dựng công nghiệp phụ trợ (supporting industry), tái cấu trúc SOEs và đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa để ngày càng có nhiều công ty trong nước có điều kiện liên kết được với doanh nghiệp FDI.

Kết luận

Chương này xem vốn, công nghệ và nguồn lực kinh doanh (managerial resources) là những biểu hiện cụ thể của từ "lực" trong nội lực và ngoại lực, và đưa các khái niệm đó cùng với các khái niệm thay thế nguồn lực nước ngoài (catching-up in foreign resources), liên kết (linkages), chuyển giao công nghệ (technology transfer) vào trong một khung phân tích. Phân tích về mặt lý luận cho thấy nội lực và ngoại lực liên quan mật thiết với nhau, ngoại lực có thể làm tăng cường nội lực, và để sử dụng hiệu quả ngoại lực cần có chính sách lành mạnh hoá nội lực.

Đánh giá FDI tại Việt Nam trên bình diện vĩ mô và phân tích cụ thể hai ngành may mặc và lắp ráp xe máy cho thấy Việt Nam còn có khuynh hướng cảnh giác ngoại lực, chưa tận dụng ngoại lực để đẩy mạnh công nghiệp hoá và chưa tạo sự liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Hàm ý về chính sách ở đây là tạo môi trường thuận lợi để có thể tận dụng tối đa FDI mà không sợ kinh tế bị các công ty đa quốc gia chi phối, và việc lành mạnh hoá doanh nghiệp nhà nước và tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân phát triển là những tiền đề cần thiết để dùng ngoại lực tăng cường nội lực. Các chính sách hạn chế hoạt động của doanh nghiệp FDI hiện nay đều làm giảm hiệu quả của ngoại lực trong quá trình tăng cường nội lực.