NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Tạo bước đột phá phát triển Công Nghệ cao

Các cơ quan chức năng của Bộ Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến đóng góp của các bộ, ngành, đoàn thể có liên quan vào dự thảo Luật Công nghệ cao. Nhiều nhà khoa học, cán bộ quản lý hy vọng sau khi có hiệu lực, Luật công nghệ cao sẽ tạo ra bước đột phá phát triển công nghệ cao.

Công nghệ cao ở Việt Nam có trình độ thấp, quy mô nhỏ

Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tạo ra các sản phẩm dịch vụ có chất lượng và giá trị gia tăng cao; có khả năng hình thành các ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.

Từ năm 1991, bốn lĩnh vực công nghệ cao là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và tự động hóa đã được đưa vào hệ thống các chương trình trọng điểm cấp Nhà nước. Trong giai đoạn 1996-2000, chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo ra hơn 70 sản phẩm, bao gồm 30 thiết bị, 10 hệ thống và hơn 30 phần mềm các loại.

Trong giai đoạn 2001 - 2005, kết quả nghiên cứu của các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước đã được áp dụng, thu lợi hàng trăm tỷ đồng hằng năm trong các lĩnh vực trồng điều, lúa gạo, nuôi cua xanh thương phẩm và lợi ích tiềm năng trong cây trồng có thể lên tới hàng nghìn tỷ đồng.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, bên cạnh một số kết quả đạt được ban đầu, nhìn chung hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao ở Việt Nam vẫn chưa tạo ra được nhiều công nghệ mang tính đột phá; một số kết quả nghiên cứu không áp dụng được vào sản xuất vì công nghệ chưa thật sự ổn định và hoàn chỉnh. Nhu cầu ứng dụng công nghệ cao còn nhỏ hẹp do quy mô nhỏ bé của một nền kinh tế chưa thoát khỏi tình trạng lạc hậu.

Sự phát triển trong thời gian vừa qua của các ngành công nghiệp công nghệ cao chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông.

Phần lớn những doanh nghiệp được gọi là công nghệ cao của Việt Nam hiện chủ yếu ở trình độ lắp ráp. Doanh nghiệp không được khuyến khích và ít quan tâm nhập khẩu các bí quyết công nghệ cao để tạo dựng năng lực cạnh tranh dài hạn. Quan hệ với các công ty đa quốc gia thông qua quá trình đầu tư nước ngoài chủ yếu còn dừng ở mức đưa vốn vào đầu tư. Hoạt động chuyển giao công nghệ nói chung và chuyển giao công nghệ cao nói riêng để sản xuất sản phẩm công nghệ cao còn tùy thuộc vào kế hoạch chủ quan của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, vai trò của các công ty này trong việc đưa công nghệ cao vào Việt Nam chưa rõ rệt. Chúng ta chưa xây dựng được hệ thống đồng bộ, hợp lý, có hiệu quả các chương trình Khoa Học và Công Nghệ trong lĩnh vực công nghệ cao, từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng đến phát triển công nghệ; giữa các nhiệm vụ Khoa Học và Công Nghệ trọng điểm cấp Nhà nước với các nhiệm vụ của các ngành, địa phương; phương thức và năng lực quản lý ở các cấp còn nhiều hạn chế, bất cập.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến trình độ phát triển công nghệ cao ở Việt Nam còn thấp và quy mô nhỏ là do hệ thống pháp luật về công nghệ cao chưa thống nhất và đồng bộ, thiếu các hướng dẫn cụ thể trong nhiều lĩnh vực, nhất là những chính sách ưu đãi, khuyến khích cho sản xuất, dịch vụ, ươm tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển, đào tạo nhân lực cho công nghệ cao... Chưa có các quy định về những lĩnh vực ưu tiên mũi nhọn về công nghệ cao phù hợp tài nguyên môi trường và con người.

Sự cần thiết phải xây dựng và ban hành Luật Công nghệ cao

Từ thực trạng nói trên cho thấy, việc xây dựng và ban hành Luật Công nghệ cao là cần thiết và cấp bách. Vụ trưởng Pháp chế ( Bộ Khoa học và Công nghệ ) Ðoàn Năng, cho chúng tôi biết: Dự thảo Luật Công nghệ cao có bảy chương, 35 điều, được soạn thảo theo quan điểm: Thể chế hóa kịp thời các quan điểm, chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước về ứng dụng và phát triển công nghệ cao đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh Công Nghiệp Hóa , Hiện Ðại Hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa, dịch vụ và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ, công nghiệp của đất nước và phát triển bền vững; xã hội hóa hoạt động nghiên cứu - phát triển công nghệ cao, ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ cao.

Ngày 19-2-2008, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức hội thảo lần thứ nhất giới thiệu và lấy ý kiến đóng góp của các bộ, ngành, đoàn thể có liên quan vào dự thảo Luật Công nghệ cao, dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Lê Ðình Tiến. Các đại biểu đã tập trung thảo luận vào ba nội dung chính.

Thứ nhất, về lĩnh vực công nghệ cao được ưu tiên đầu tư, phát triển. Nhiều ý kiến cho rằng, ngoài bốn lĩnh vực công nghệ cao đã được quy định trong các văn kiện của Ðảng là công nghệ thông tin và truyền thông , công nghệ sinh học, điện tử và tự động hóa, vật liệu mới, cần bổ sung vào danh mục các lĩnh vực công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển một số lĩnh vực khác như công nghệ hạt nhân, công nghệ vũ trụ, công nghệ biển. Cần phải bổ sung là do về bản chất, đây là những lĩnh vực công nghệ cao; vị trí, vai trò của nó đã được khẳng định rõ. Hơn nữa, về các lĩnh vực công nghệ này, Chính phủ đều đã có chiến lược ứng dụng và phát triển.

Thứ hai, về khu công nghệ cao. Nhiều ý kiến cho rằng, dự thảo luật này chỉ nên quy định chung về chức năng và nhiệm vụ của các khu công nghệ cao. Mỗi khu công nghệ cao có thể thực hiện một hoặc một số chức năng quy định trong luật mà không cần phân chia thành các loại hình khu công nghệ cao khác nhau với các chức năng và nhiệm vụ riêng. Các loại hình khu công nghệ cao rất đa dạng về quy mô, tính chất và quyền sở hữu. Nếu quy định ngay trong luật thì sẽ quá chi tiết và khó có thể phản ánh đầy đủ các loại hình khu công nghệ cao trong thực tiễn ngày càng phát triển. Chính phủ căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ chung của các khu công nghệ cao xây dựng các quy định cụ thể cho từng loại hình khu công nghệ cao.

Thứ ba, về các biện pháp khuyến khích, ưu đãi cho các hoạt động công nghệ cao. Ðể khuyến khích các hoạt động công nghệ cao, cần có các biện pháp có tính chất đột phá như nội dung công văn của Chính phủ số 02/VPCP-XDPL ngày 15-1-2007 gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội góp ý xây dựng dự thảo Pháp lệnh công nghệ cao do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì soạn thảo và trình ủy ban. Cần quy định ngay trong luật này các mức ưu đãi, khuyến khích cụ thể cao hơn các mức ưu đãi cao nhất trong các quy định của pháp luật hiện hành. Ðây cũng là lý do Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội quyết định nâng Pháp lệnh Công nghệ cao thành Luật Công nghệ cao, nhằm tháo gỡ các vướng mắc với các luật hiện hành khi cần dành cho công nghệ cao các biện pháp có tính chất đột phá.

Luật Công nghệ cao - Một đạo luật góp phần nâng cao sức cạnh tranh

Tại cuộc toạ đàm về Dự thảo Luật Công nghệ cao do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức, có khá nhiều ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nhân cho rằng Luật Công nghệ cao ra đời sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu triển khai cũng như lợi ích kinh tế từ lĩnh vực này.

Khái niệm công nghệ cao được đề cập ở Việt Nam vào thập kỷ 70 của thế kỷ trước và được sử dụng một cách rộng rãi, chính thức trong các tài liệu khoa học, các văn bản, văn kiện của Đảng và Nhà nước vào thập kỷ 80, đặc biệt từ những năm 90 trở lại đây.

Hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ cao chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Các văn bản pháp luật trong lĩnh vực này còn tản mạn, chưa thống nhất và đồng bộ; thiếu các hướng dẫn cụ thể trong nhiều lĩnh vực. Một số khía cạnh liên quan tới công nghệ cao được điều chỉnh đơn lẻ trong các đạo luật chuyên ngành (Luật Khoa học & Công nghệ, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử) mà chưa có một văn bản luật điều chỉnh thống nhất và toàn diện lĩnh vực này. Các chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng phát triển công nghệ cao mới được thể chế hoá ở các văn bản có hiệu lực pháp lý thấp, chủ yếu ở cấp Thủ tướng Chính phủ, cấp Bộ và nhìn chung còn mang tính định hướng. Các quy định về tài chính, tín dụng, thuế, đất đai, chuyển giao công nghệ, thị trường công nghệ, đào tạo - sử dụng nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghệ cao chỉ được điều chỉnh bởi một số quy định rời rạc trong các đạo luật khác nhau. Các quy định về ưu đãi, khuyến khích, thu hút đầu tư, quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng ứng dụng và phát triển công nghệ cao chủ yếu được quy định tại các văn bản về khu công nghệ cao ở tầm dưới Luật.

Vì vậy hầu hết các đại biểu tham dự toạ đàm đều cho rằng việc ban hành Luật Công nghệ cao là cần thiết, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên WTO.

Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Đình Tiến, “Luật Công nghệ cao là phương tiện cực kỳ quan trọng để hiện đại hoá các mặt hàng sản xuất tại Việt Nam. Nếu không có Luật này, các sản phẩm Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục tiêu tốn nhân lực và vật lực, việc nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ rất khó thực hiện”. Thứ trưởng Lê Đình Tiến nhận định: “Các bộ Luật liên quan tới lĩnh vực khoa học đã tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh. Chính vì vậy, các công ty ‘khổng lồ” như Intel, Nidec chỉ đầu tư hàng tỷ USD vào Việt Nam khi chúng ta có một hệ thống pháp lý tương đối hoàn thiện”.

Nội dung Dự thảo Luật công nghệ cao

Thứ trưởng Lê Đình Tiến cho biết: Luật gồm 6 chương, 37 điều nhằm quy định về hoạt động và các biện pháp thúc đẩy công nghệ cao. Trong Chương I “Những quy định chung” của Dự thảo, các khái niệm “công nghệ cao”, “hoạt động công nghệ cao”, “ươm tạo công nghệ cao”, v.v…được định nghĩa. Các lĩnh vực công nghệ cao được ưu tiên xác định theo nguyên tắc “phù hợp với xu thế phát triển công nghệ cao của thế giới”, “có hiệu quả lớn đối với sự phát triển của nhiều ngành kinh tế” , cụ thể là các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, tự động hoá và vật liệu mới – những lĩnh vực dù các nhà khoa học của ta chưa nắm được công nghệ “nguồn” nhưng những ứng dụng của nó đã rất phổ biến ở Việt Nam.

Chương II của Dự thảo về “Ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao” nêu những biện pháp khuyến khích hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao như ưu đãi về thuế, Nhà nước hỗ trợ đào tạo nhân lực… Theo đó, việc ứng dụng các công nghệ cao đáp ứng những yêu cầu “tạo ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao”, “tiết kiệm năng lượng”, “bảo vệ sức khoẻ con người”… sẽ được khuyến khích hỗ trợ. Các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao sẽ là “ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu ở mức cao nhất”, “được trích khấu hao nhanh đối với tài sản cố định đầu tư cho dự án ứng dụng công nghệ cao”, “được Chương trình quốc gia về công nghệ cao xem xét hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo”. Trong việc nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ cao, các tổ chức, cá nhân sẽ “được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ”. Đây chắc chắn sẽ là điều được rất nhiều doanh nghiệp hoan nghênh.

Chương III của Dự thảo về “Công nghệ cao và Doanh nghiệp công nghệ cao” quy định: “Chính phủ xác định và xây dựng chiến lược phát triển một số ngành công nghệ cao”. Các Bộ, UBND tỉnh, Thành phố thuộc Trung ương triển khai nhiệm vụ thuộc Chương trình quốc gia về công nghệ cao như xây dựng cơ sở ươm tạo, xây dựng công nghiệp phụ trợ. Các dự án sản xuất sản phẩm cùng các doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao, cơ sở ươm tạo… đáp ứng những số yêu cầu như có sản phẩm, dịch vụ trong Danh mục công nghệ cao, có đầu tư liên tục cho Nghiên cứu và Phát triển ( Research - Development ) , có đội ngũ cán bộ trình độ cao… sẽ được ưu đãi về đất, thuế. Các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm cho công nghệ cao cũng được quy định “hưởng mức ưu đãi cao nhất trong thuế thu nhập doanh nghiệp”.

“Phát triển nhân lực công nghệ cao” – một trọng tâm quan trọng của Dự thảo – được nêu trong Chương IV với các chi tiết về quy hoạch phát triển, đầu tư phát triển cơ sở đào tạo, sử dụng nhân lực công nghệ cao. Theo đó, “Bộ Khoa học và công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ ngành có liên quan xây dựng trình Thủ tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch quốc gia phát triển nguồn nhân lực”. Trong sử dụng nhân lực công nghệ cao, “Nhà nước có chế độ lương, nhà ở và điều kiện thuận lợi để thu hút nhân lực công nghệ cao vào làm việc tại cơ sở do Nhà nước quản lý”. Ngoài ra, chuyên gia công nghệ cao là người nước ngoài hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập đối với khoản thu nhập từ hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam.

Các yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ, quy hoạch phát triển khu công nghệ cao được xác định trong Chương V “Khu Công nghệ cao”. Chương này cũng xác định, các tổ chức, cá nhân khi đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng công nghệ cao sẽ được “giao đất không thu tiền”, được “hỗ trợ một phần kinh phí từ Chương trình quốc gia về công nghệ cao”, v.v…

“Ưu đãi phải kèm chế tài”

Đồng tình với Thứ trưởng Lê Đình Tiến về sự cần thiết của Luật công nghệ cao, GS Nguyễn Thu Vân, Giám đốc Công ty Vaccine và Sinh phẩm số 1 cho rằng Luật “chắc chắn sẽ được các nhà khoa học hoan nghênh”. Nếu coi công nghệ cao là một giải pháp đột phá bảo đảm nâng cao năng suất và chất lượng cạnh tranh của nền kinh tế, tăng cường tiềm lực KH&CN của nước nhà thì Dự thảo Luật cũng cần đề cập đến chính sách "bảo hộ sản phẩm công nghệ cao sản xuất trong nước”. Tuy nhiên GS Vân cũng nhấn mạnh: “ưu đãi trong Luật rất lớn, nên phải kèm theo đó là chế tài”. Ở một số chi tiết, GS Vân tỏ ra băn khoăn: “Luật ưu đãi các doanh nghiệp công nghệ cao ‘mới ươm tạo”, nhưng các doanh nghiệp công nghệ cao đã hoạt động lâu thì ưu đãi như thế nào ?” Trong phần ưu đãi nhân lực, GS Vân cho rằng: “Có cảm giác ưu đãi nhà khoa học Việt Nam định cư ở nước ngoài hơn nhà khoa học trong nước”.

Bài tham luận của Anh hùng Lao động Lý Ngọc Minh, Tổng Giám đốc Tổng công ty TNHH Minh Long I là câu chuyển kể về con đường qua nhiều gian nan đi tìm công nghệ cao dẫn đến thành công của gốm sứ Minh Long thực sự là bài học sinh động và thiết thực cho việc tìm ra những giải pháp hiện đại hoá, nâng cao sức cạnh tranh của các làng nghề truyền thống. Theo ông Minh, cần có sự tách bạch rõ những ưu đãi về thuế trong nhập khẩu thiết bị công nghệ cao. Lý do là đầu tư công nghệ cao cần thời gian dài hơn. Ví dụ như máy móc gốm sứ từ lúc đặt hàng cho đến khi máy về đến Việt Nam là 8 tháng, giai đoạn lắp ráp và vận hành thử nghiệm mất 3 – 4 tháng, tổng cộng mất hơn 1 năm. Bên cạnh đó, thiết bị càng hiện đại càng khó vận hành và cần thời gian hiệu chỉnh trong những năm đầu sản xuất nên cần được ưu đãi về thuế như đầu tư công nghệ cho vùng sâu vùng xa.

TS Nguyễn Quang A thì tỏ ra “lo lắng” vì “Dự thảo Luật nói đến ưu đãi quá nhiều”, “không cẩn thận thì ‘ưu đãi’ thành ‘phản ưu đãi’, bởi đã có nhiều ví dụ trong nền kinh tế Việt Nam chứng minh điều này”. Theo TS Nguyễn Quang A, “tinh thần” của Dự thảo Luật này dường như vẫn dựa trên “tư duy cũ”, vì thế “có khi mục tiêu, ý định rất hay, nhưng không nhìn ra hết hệ quả của nó”.

Xuất thân là nhà khoa học nông nghiệp, Hiệu trưởng Trường ĐH Nông nghiệp I Trần Đức Viên cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh nông sản khốc liệt, suy giảm tài nguyên, biến đổi khí hậu, v.v… thì “lối thoát của công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn chỉ là công nghệ cao”, song “Dự thảo Luật đã ít đề cập tới công nghệ cao trong nông nghiệp”. Giám đốc Công ty phát triển Công viên phần mềm Quang Trung, Chu Tiến Dũng nhận định: “Có lẽ sẽ cần rất nhiều hướng dẫn cho Luật này” bởi rất nhiều khái niệm như “cung ứng dịch vụ công nghệ cao”, “nhân lực công nghệ cao” vẫn chưa được làm rõ.

Đồng ý với TS Nguyễn Quang A về việc Luật Công nghệ cao chỉ nên tạo môi trường chứ không “ưu đãi” hoạt động công nghệ cao, song từ thực tế đang xây dựng Viện tiên tiến Khoa học và công nghệ mới thành lập, TS Phạm Hoàng Lương cho rằng vẫn cần Nhà nước “hỗ trợ”, vì “những lĩnh vực như công nghệ sinh học hay vật liệu mới, nếu Nhà nước không hỗ trợ, nhất là về nhân lực thì rất… khó”.

PGS Nguyễn Ngọc Châu - một trong những người còn băn khoăn về tính khả thi của Luật này, cho rằng bất kỳ điều luật nào ra đời cũng phải trên cơ sở phục vụ thực tiễn cuộc sống - tức là có hiệu lực điều chỉnh các vấn đề do thực tiễn cuộc sống đòi hỏi. Luật Công nghệ cao khó có một cơ sở như vậy khi mà ở Việt Nam nền tảng công nghệ cao hầu như chưa hình thành. Ngoài ra, điều đáng lưu ý là ngay cả nhiều quốc gia khác như Trung Quốc, Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, Tây Âu có nền Khoa học và Công nghệ phát triển cũng không có một luật riêng cho công nghệ cao. Luật Công nghệ cao ra đời trong khi các luật khác liên quan ( như Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Giáo Dục & Đào Tạo, Luật Doanh nghiệp) còn chưa hoàn thiện, sẽ có thể xuất hiện các vấn đề hoặc các xung đột giữa Luật Công nghệ cao với các văn bản pháp luật khác (như Nghị định 115). Mặt khác, khi điều kiện chưa chín muồi, nhiều tổ chức cá nhân có thể nhân danh công nghệ cao, lợi dụng các ưu đãi của Luật để “làm nghèo đất nước”.

Phó Chủ nhiệm UB Khoa học và Công nghệ & Môi Trường Quốc hội Nghiêm Vũ Khải đánh giá: “Dự thảo Luật này tương đối chi tiết và khả thi” và cho biết: Dự thảo Luật Công nghệ cao sẽ được Quốc hội cho ý kiến vào ngày 28/5, sau Ban soạn thảo sẽ tiếp tục xây dựng và dự kiến đến cuối tháng 10, Quốc hội sẽ cho ý kiến và thông qua Luật này.