NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Hướng đột phá cho kinh tế Việt Nam - GS TS Trần Văn Thọ , Kiều bào Nhật Bản

Năm 2008 quả là một năm sóng gió đối với kinh tế Việt Nam. Tính bình quân cả năm lạm phát tăng đến gần 23% ( năm 2007 là 8,3% ), mức thâm hụt của cán cân mậu dịch lên tới 17 tỉ USD, so với năm 2007 là 14 tỉ USD. Bất ổn kinh tế vĩ mô đặc biệt tác động mạnh đến đời sống người lao động.

Những tháng cuối năm, tình trạng bất cân đối vĩ mô tương đối được cải thiện nhưng kinh tế Việt Nam lại đối diện với nguy cơ suy thoái trước cuộc khủng hoảng toàn cầu. Bước qua năm mới, đâu là mũi đột phá để kinh tế Việt Nam phát triển ổn định ?

Mũi đột phá

Theo tôi, mũi đột phá này là tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mà cụ thể và trước mắt là các ngành công nghiệp máy móc và chế biến nông thủy sản. Tăng năng lực cạnh tranh sẽ đẩy mạnh xuất khẩu và thay thế nhiều mặt hàng đang nhập khẩu, qua đó tạo thêm công ăn việc làm, ổn định xã hội và thu hẹp thâm hụt trong cán cân mậu dịch, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Trong quá khứ có một số chuyên gia, cơ quan nhà nước bàn về năng lực cạnh tranh của Việt Nam, nhưng lại đề cập quá nhiều vấn đề nên cuối cùng không chuyển các ý tưởng thành những chính sách và hành động hiệu quả. Ta thử phân tích tình hình hiện nay và nêu ra vài điểm quan trọng nhất.

Về thị trường xuất khẩu, trong năm 2009 và có thể cả 2010, Việt Nam sẽ gặp khó khăn vì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay. Xuất khẩu của nước ta sang Mỹ và châu Âu đã bắt đầu bị ảnh hưởng. Tuy nhiên Việt Nam còn nhiều dư địa để thâm nhập thị trường Trung Quốc, và có một số khả năng mới mở ra đối với thị trường các nước Âu Mỹ và Nhật. Thứ nhất, kinh tế các nước châu Á giảm tốc vì ảnh hưởng của khủng hoảng nhưng vẫn phát triển cao hơn nhiều vùng khác, đặc biệt Trung Quốc đang thực hiện chính sách kích cầu để giữ nhịp độ phát triển khoảng 7%.

Việt Nam đang nhập siêu nhiều với Trung Quốc nên trước mắt phải xem đây là thị trường trọng điểm cần nỗ lực điều tra và tiếp thị, song song với nỗ lực tăng khả năng cung ứng ngày càng nhiều các mặt hàng cạnh tranh được ở đây. Thứ hai, thế giới đang lo ngại về sự an toàn của thực phẩm xuất khẩu từ Trung Quốc và một số nước, điển hình là Nhật Bản, ngày càng thiên về việc nhập khẩu những loại thực phẩm tốt cho sức khỏe. Đây là cơ hội cho Việt Nam phát triển nhanh về công nghiệp chế biến thực phẩm với hàm lượng giá trị cao.

Trong thời gian qua, công nghiệp ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong GDP và xuất khẩu của Việt Nam nhưng nhìn chung cơ cấu trong nội bộ công nghiệp chuyển dịch chậm, nhất là cơ cấu xuất khẩu. Hàng xuất khẩu chủ yếu vẫn là may mặc, giày dép và gần đây thêm linh kiện điện tử. Hàm lượng nhập khẩu của hàng xuất khẩu cũng cao. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ta, các loại máy móc, kể cả linh kiện, bộ phận điện và điện tử, chỉ chiếm 10% (trong khi Thái Lan và Trung Quốc đã trên 40%, Hàn Quốc và Nhật Bản trên 60%). Các loại máy móc như xe máy, ôtô, đồng hồ, máy điều hòa, tivi, tủ lạnh, máy tính, máy in, điện thoại... là những mặt hàng trên thế giới có nhu cầu ngày càng cao nên nếu có năng lực cạnh tranh sẽ dễ đẩy mạnh xuất khẩu.

Tăng năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong các ngành máy móc còn yếu vì ngành công nghiệp phụ trợ còn quá mỏng, đòi hỏi phải có chiến lược phát triển nhanh và mạnh mới tạo được sức cạnh tranh cho các ngành, các loại máy móc. Việt Nam nhập siêu nhiều với Trung Quốc, Thái Lan và nhiều nước châu Á khác vì nhiều hàng công nghiệp thuộc các loại máy móc của ta chưa phát triển hoặc không cạnh tranh được với các nước này.

Để tăng năng lực cạnh tranh cần những điều kiện gì ?

Thứ nhất, xây dựng một cơ chế hữu hiệu, một quan hệ có hiệu quả giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Điều này cần thiết cho việc đưa ra các biện pháp tăng năng lực cạnh tranh của từng ngành; cho việc rà soát, kiểm điểm để phát hiện các rào cản đối với hoạt động của doanh nghiệp. Qua việc đối thoại và hành động chung này, Chính phủ sẽ phát hiện những vướng mắc phải tháo gỡ và thấy được những ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp cần ưu tiên yểm trợ về tín dụng, ngoại tệ... Những ưu đãi về tín dụng, về sử dụng ngoại tệ này cần có điều kiện ràng buộc doanh nghiệp vào thành quả hoạt động (chẳng hạn thành quả xuất khẩu); nếu sau một hoặc hai năm không đạt được thành quả mong muốn thì không được nhận tiếp các ưu đãi.

Thứ hai, Nhà nước cần quan tâm đến việc giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận dễ dàng các nguồn cung cấp vốn, đặc biệt trong những ngành công nghiệp phụ trợ. Thông thường để sản xuất bộ phận linh kiện có chất lượng, doanh nghiệp phải mua các máy móc, thiết bị tối tân với giá rất đắt so với khả năng về vốn của doanh nghiệp. Nếu không được cung cấp tín dụng dài hạn, doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể tham gia tăng năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp phụ trợ. Tín dụng xuất khẩu và thông tin về thị trường, về công nghệ nước ngoài cũng cần có sự hỗ trợ của Nhà nước.

Thứ ba, đã đến lúc nên chọn lựa các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nên ưu tiên khuyến khích các dự án đẩy mạnh xuất khẩu và thay thế nhập khẩu hàng công nghiệp, các dự án đầu tư dùng nguyên liệu nông sản và thủy sản chế biến thực phẩm hợp với chất lượng đòi hỏi ở các thị trường có thu nhập cao. Việc kiểm tra chất lượng an toàn thực phẩm, cao cấp hóa hàng công nghiệp thực phẩm cũng như tiếp thị vào các thị trường Nhật, Mỹ và Tây Âu đòi hỏi công nghệ cao, năng lực quản lý, tiếp thị nên việc kêu gọi, khuyến khích FDI vào lĩnh vực này rất cần thiết.

Mũi đột phá cho kinh tế Việt Nam năm 2009 là tăng năng lực cạnh tranh trong những mặt hàng nhất định tại những thị trường nhất định.

Giáo sư TRẦN VĂN THỌ ( Đại học Waseda, Nhật Bản )