NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Giấc mơ Đại Việt - GS TS Trần Văn Hiển , Kiều bào Mỹ

Thế nào là một Đại Việt mới

Dữ kiện trong bài “Việt Nam Thành Công Ra Sao?” cho thấy thứ hạng về kinh tế của Việt Nam là 80/100, môi trường là 91/100, nhân quyền là 74/100. Nội an, công bằng xã hội và ngoại an còn nhiều bất ổn cần phải giải quyết. Những chi tiết này cho thấy chắc chắn Việt Nam ngày nay không ở tầm cỡ Đại Việt ngày xưa.

Người Việt khát khao khôi phục huy hoàng của thời Đại Việt trong một thế giới rộng hơn nhưng bành trướng lãnh thổ không còn hợp thời. Đại Việt mới phải có một nền kinh tế mạnh ít nhất bằng Nam Hàn ( nước ở hạng tôp 25/100 về kinh tế trên thế giới ) với môi trường, nội an, ngoại an, công bằng xã hội cũng ở tầm cỡ cao để bảo đảm Việt Nam đủ mạnh, có thể tự bảo vệ mình trong lâu dài.

Cũng theo bài “Việt Nam Thành Công Ra Sao ?”, Việt Nam cần 150 năm để bắt kịp Nam Hàn ( nếu hai nước cùng giữ mức độ tăng trưởng GDP và dân số hiện thời ), một thời gian quá dài mà người Việt không thể chấp nhận. Nếu muốn bắt kịp trong 50 năm, tăng trưởng GDP hàng năm phải đạt ít nhất 12%, và chỉ có Singapore làm được điều này nhờ có mức hữu hiệu chính quyền thật cao. Việt Nam cần phải nâng cấp nền tảng và minh bạch chính quyền lên tầm cỡ Singapore từ đó chính quyền tạo được một môi trường lành mạnh cho sự phát triển kinh tế cao, bền vững để tiến đến một Đại Việt mới.

Trong những năm qua, Việt Nam đã và đang thay đổi rất nhiểu để được vào WTO và có một vài thành công đáng kể như có phát triển GDP cao thứ nhì ở Á châu. Nếu cố gắng hơn nữa và có một chính sách kinh tế rõ rệt lâu dài, giấc mơ Đại Việt có thể nằm trong tầm tay người Việt trong 50 năm.

Những dữ kiện quan trọng

Trong Bảng 1, tác giả thu thập dữ kiện và so sánh thành công hiện thời của chính quyền Việt Nam với một số nước trong sự quản lý nền kinh tế. Những dữ kiện này được chuyển qua chỉ số 100 để dễ so sánh. Hạng 1 là cao nhất và hạng 100 là kém nhất trên thế giới.

Dữ kiện từ Bảng 1 đưa đến một số nhận định sau :

- Hai nước giàu nhất, Hoa Kỳ và Nhật, có rất nhiều chỉ số cao từ nền tảng chính quyền đến khả năng con người.

- Việt Nam và Philippines là hai nước nghèo nhất trong mười nước và có rất nhiều chỉ số ở trình độ rất thấp.

- Singapore từ một nước nghèo như Việt Nam và đã bắt kịp thế giới thật nhanh nhờ có nhiều chỉ số thật cao. Nhờ vào chính quyền hữu hiệu và một môi trường kinh tế lành mạnh, GDP đầu người tăng vọt từ 619 đô la Mỹ vào 1967 ( GDP của Việt Nam trong 2006 ) lên 17.552 đô la Mỹ ( GDP của Nam Hàn trong 2006 hay của Việt Nam trong giấc mơ Đại Việt ) sau 26 năm hay 1993.

Những thuật ngữ cần biết

Để hiểu rõ chiến lược nâng cao kinh tế lên tầm cỡ Nam Hàn trong 50 năm, người đọc cần làm quen với những thuật ngữ sau :

Nền tảng chính quyền là nền móng của nền kinh tế. Khi nền tảng vững chắc, nền kinh tế sẽ phát triển ở mức độ cao. Những yếu tố chính của nền tảng là:

- Hệ thống nhân sự nhà nước hữu hiệu là một hệ thống tuyển, dụng, tưởng thưởng nhân sự dựa vào tài năng, và đồng lương phải tương ứng với trách nhiệm và khả năng hoàn thành nhiệm vụ.

- Chính quyền pháp trị là một chính quyền có luật pháp rõ ràng, hành luật nghiêm túc, đối xử với mọi người dân như nhau và thường gồm có 3 nhánh độc lập: lập pháp, hành pháp và tư pháp.

- Chính quyền gần với người dân là một chính quyền có cấu trúc hàng dọc như chính quyền Hoa Kỳ với 3 bậc: trung ương ( liên bang ) lo việc đại sự, tỉnh (tiểu bang) lo việc vùng, và quận/huyện/xã lo việc địa phương. Ở mỗi bậc, chính quyền hiểu rõ người dân cần gì, được người dân giám sát và có quyền thu thuế để chi tiêu ở cấp bậc.

- Hệ thống thuế hữu hiệu là một hệ thống thuế minh bạch, dễ hiểu, dễ quản lý, được người dân tin và thu được thật nhiều thuế từ người giàu hay nguời có thu nhập cao.

Nền tảng chính quyền của Việt Nam có nhiều vấn đề như hệ thống nhân sự nhà nước dựa quá nhiều vào tuổi đảng, luật pháp chồng chéo và không rõ rệt, tòa án và quốc hội không có độc lập, đại đa số quyền tập trung vào Bộ Chính Trị , nạn “trên bảo dưới không nghe”, cơ chế “xin, cho” ( dân không được giám sát chính quyền ), thất thu thuế, v.v…

Tự do kinh tế là quyền tham gia vào mọi hoạt động kinh tế mà luật không cấm. Ở những nước có tự do kinh tế kém, người dân bị cấm làm tất cả mọi hoạt động kinh tế ngoại trừ được nhà nước cho phép, đất nước phát triển thấp hơn tiềm năng và thường bị tụt hậu. Thứ hạng tự do kinh tế là 88 sau khi vào WTO và là 90 trước khi vào WTO. Trong 20 năm đổi mới ( 1986 - 2006 ), Việt Nam lên được 10 hạng. Với vận tốc thay đổi trước WTO, người dân phải đợi thêm 174 năm để được tự do kinh tế bằng Singapore. Khi tự do kinh tế tăng, kinh tế cũng phát triển, và tỷ lệ tương quan giữa hai chỉ số này là 89%. Do đó tự do kinh tế là một động cơ cho phát triển kinh tế.

Hạ tầng cơ sở gồm có hệ thống điện nước, giao thông, viễn thông, y tế, giáo dục, xử lý những chất phế thải độc hại, xây đô thị mới, kiến trúc lại đô thị cũ, v.v. Khi hạ tầng cơ sở tăng, kinh tế cũng phát triển và tỷ lệ tương quan giữa hạ tầng cơ sở và kinh tế là 91%. Như vậy, hạ tầng cơ sở cũng là một động cơ cho phát triển kinh tế.

Khả năng cao của con người gồm có tốt nghiệp đại học có chất lượng ( higher education ), khả năng kỹ thuật cao ( technological knowledge ), đầu óc kinh doanh ( managerial and business knowledge ), sáng tạo (innovation), biết nhận diện và nắm bắt cơ hội mới, gần, xa, biết cách thành lập và lãnh đạo tổ chức, biết tính toán và chấp nhận rủi ro trong kinh doanh, v.v. Nói cách khác, khi khả năng con người tăng, kinh tế cũng phát triển và tỷ lệ tương quan giữa hai chỉ số này là 94%. Do đó khả năng con người cao là một động cơ lớn nhất cho phát triển kinh tế.

Chính quyền minh bạch là một chính quyền hành luật đúng đắn và người dân biết rõ chính quyền làm gì. Theo các tỷ lệ tương quan trong Bảng 1, sự minh bạch của chính quyền có tác động lớn lên hạ tầng cơ sở, tự do kinh tế và khả năng con người cao. Khi mức minh bạch cao, chính quyền xây được hạ tầng cơ sở tốt và tỷ lệ tương quan giữa hai chỉ số này là 95%. Tương tự, mối tương quan giữa minh bạch và tự do kinh tế là 91%, và giữa minh bạch và khả năng con người cao là 92%. Sau đây là một vài ví dụ cho thấy những tác hại của chính quyền minh bạch kém của Việt Nam:

- Chính quyền Trung Quốc minh bạch hơn chính quyền Việt Nam nên họ xây được hạ tầng cơ sở vững mạnh hơn và nền kinh tế của họ cũng tiến mạnh hơn Việt Nam. Điều này cho thấy minh bạch kém sẽ đưa đến hạ tầng cơ sở tồi tệ.

- Việt Nam thu hút rất ít đầu tư từ Việt Kiều vì kém minh bạch. Ví dụ luật cho phép Việt Kiều mua nhà ở Việt Nam nhưng trong thực tế chỉ có khoảng 100 người mua được nhà trong 5 năm qua vì nhiều khó khăn hành chính. Kết quả là không mấy Việt Kiều đầu tư ở Việt Nam. Như vậy minh bạch kém làm giảm tự do kinh tế.

- Việt Nam cần rất nhiều trường đào tạo chuyên viên giỏi tay nghề với trình độ tiếng Anh cao, nhưng luật lệ chẳng nói rõ là ai sẽ được phép mở trường, xin ở đâu, mất bao lâu và mất bao nhiêu tiền. Kết quả là người có khả năng mở trường thì không được mở. Như vậy minh bạch kém làm giảm cơ hội tạo con người có khả năng cao.

Bạn của Phương Tây ( Bắc Mỹ và Tây Âu ) – Tất cả những nước có nền kinh tế cao ở Châu Á là bạn thân thiết hay đồng minh của Phương Tây như Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore. Hai/ba mươi năm trước, khi Việt Nam và Trung Quốc có nhiều xung đột với Hoa Kỳ, hai nước rất nghèo. Sau này, nhờ hòa hoãn với Hoa Kỳ, kinh tế hai nước khá hơn nhiều. Việt Nam đang chỉ làm quen với Phương Tây chứ chưa được làm bạn hay đồng minh.

Chiến lược

Để trở thành một nước giàu trong tốp 25 hạng của thế giới như Nam Hàn trong 50 năm, Việt Nam phải học theo Singapore để có tăng trưởng kinh tế trên 12% mỗi năm ( hay duy trì mức phát triển 6 - 8% hàng năm hơn thế giới ) và cần đầu tư nghìn tỷ đô la từ mọi nguồn. Việt Nam cần có một chiến lược kinh tế rõ rệt hay cần làm những “đại việc” như sau:

Minh bạch hóa chính quyền là chuyện đầu tiên phải làm và nên bắt đầu ngay với việc thực hiện đồng nhất ở mọi cấp chính quyền những cam kết với WTO. Đây là một công việc đòi hỏi rất ít đầu tư tài chính nhưng rất nhiều kỷ luật mà mọi cấp chính quyền cần phải tuân theo. Khi mức độ minh bạch tăng, hạ tầng cơ sở sẽ được cải thiện ( ví dụ sau khi diệt hết được những con sâu PMU18 ), và tự do kinh tế cũng sẽ tăng ( ví dụ khi viên chức chính quyền không còn quấy nhiễu nhà đầu tư hay doanh nghiệp ). Những cải cách này bao gồm hệ thống tuyển, dụng và tưởng thưởng dựa vào tài năng, trừng phạt tội phạm tham nhũng nghiêm minh, tư nhân hóa khu vực kinh tế quốc doanh và người dân có quyền kiểm soát chính quyền, v.v…

Thu hút đầu tư để tận dụng nguồn nhân lực thừa là chuyện cần làm ngay. Chính sách đánh tư sản của thời 1975 - 1986 tiêu diệt một đại đa số những nhà đầu tư trong nước. Thêm vào đó, lãnh đạo với tư duy xã hội chủ nghĩa nặng nề và hệ thống giáo dục bao cấp trước thời gia nhập WTO, đưa đến một xã hội không đào tạo đủ những nhà lãnh đạo/đầu tư để tạo công ăn việc làm cho người dân. Kết quả là Việt Nam có quá nhiều người không có việc làm. Sự thành công trong sự thu hút đầu tư tùy thuộc rất lớn vào sự minh bạch của chính quyền trong việc thi hành những cam kết với WTO và việc tạo điều kiện thuận lợi cho mọi nhà đầu tư thành công trong kinh doanh ở Việt Nam.

Cải cách cần rất ít vốn đầu tư – Ba lãnh vực cần rất ít tài chánh nhưng rất nhiều thay đổi tư duy là: khả năng con người cao, làm bạn với Phương Tây và nhờ Việt Kiều làm cầu nối với Phương Tây.

Nâng cấp khả năng con người đòi hỏi nhiều cải cách trong môi trường giáo dục và phương pháp giảng dạy như áp dụng mô hình đại học tổng hợp, tự trị đại học, nhiều trường cao đẳng dạy nghề, địa phương hóa quản lý giáo dục, kiểm định chất lượng, chương trình học linh động phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của từng cá nhân, v.v...

Việt Nam thường gặp nhiều khó khăn về kinh tế khi giao tiếp với Phương Tây. Ví dụ, Việt Nam vẫn bị coi là nền kinh tế phi thị trường và công ty quốc doanh gặp nhiều khó khăn khi buôn bán với Hoa Kỳ và Liên Hiệp Châu Âu. Để làm bạn với Phương Tây, Việt Nam cần nâng cao chính quyền pháp trị, minh bạch, nhân quyền và tự do chính trị.

Việt Nam sẽ được rất nhiều lợi ích khi hàng chục vạn trí thức Việt Kiều giúp móc nối Việt Nam với những tập đoàn kinh tế lớn họ đang phục vụ ở Phương Tây. Để thu hút những đối tượng Việt Kiều trên, chính quyền cần nâng cao minh bạch, tự do kinh tế và niềm tin của Việt Kiều vào khả năng của chính quyền bảo vệ quyền lợi của Việt Kiều ở Việt Nam. Thêm vào đó, phải cho đại đa số Việt Kiều cảm nhận được đất nước Việt Nam là của mọi người Việt, chứ không phải là đất nước riêng của một đảng phái chính trị nào.

Chuyển Hướng Nền Kinh Tế - Việt Nam cần chuyển hướng nền kinh tế như sau:

- Việt Nam tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài càng nhiều càng tốt, nhưng cần chuyển dần từ kỹ nghệ gia công thấp đến công nghệ cao và kỹ nghệ trí thức để tăng trưởng kinh tế ở cấp bậc cao.

- Phát triển kỹ nghệ trí thức cho miền Bắc và Trung, hai miền đông dân với đất đai cằn cỗi và con người hiếu học. Kỹ nghệ trí thức ( nắm bởi Phương Tây ), cần người hiếu học và không cần đất, là một giải pháp kinh tế hợp lý nhất cho hai miền này. Việt Nam cần làm bạn của Phương Tây để thu hút những đầu tư này.

- Tạo được một môi trường giáo dục, đầu tư và hành chính lành mạnh để người Việt có thể tạo và làm chủ nhiều tổ chức kinh tế lớn ở tầm cỡ thế giới như Sam Sung và Hyundai trong 50 năm tới, và những tổ chức này sẽ nâng cao vị trí của Việt Nam lên tầm cỡ Đại Việt.

Nâng cao/nới rộng nền tảng chính quyền là một việc làm lâu dài. Những cải cách này gồm có hệ thống nhân sự nhà nước dựa chính vào tài năng, chính quyền với quyền hạn rõ rệt giữa ba nhánh, chính quyền gần dân, 100% niềm tin vào kinh tế thị trường, và hệ thống thuế hữu hiệu. Khi đạt được một nền tảng chính quyền cao như Singapore, Việt Nam sẽ có đủ tài năng xây dựng hạ tầng cơ sở vững mạnh và đẩy mạnh tự do kinh tế lên tầm cỡ Singapore. Những thay đổi này sẽ tạo được một môi trường lành mạnh cho sự phát triển những tập đoàn kinh tế ở tầm cỡ quốc tế và từ đó tiến đến Đại Việt.

Lời Kết

Người Việt ở mọi nơi khát khao phục hồi huy hoàng của thời Đại Việt. Vì vị trí quá thấp của Việt Nam trên thế giới trong những thập niên qua, Đại Việt chỉ là một giấc mơ âm ỉ trong lòng người Việt. Giấc mơ này nằm trong tầm tay người Việt và chỉ có thể thành sự thật khi chính quyền có đủ can đảm thay đổi thật nhiều hay làm được nhiều “đại việc” để người dân có thể phát huy toàn diện và cống hiến hết mình cho đất nước. Thế chính quyền Việt Nam có đủ can đảm thực thi nhiều “đại việc” để biến giấc mơ Đại Việt thành sự thật trong năm thập niên tới chưa ?

GS TS Trần Văn Hiển

Đại Học Houston - Clear Lake, Texas, Hoa Kỳ