NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Giải pháp nào cho sản xuất Nông Nghiệp bền vững ?

Tình trạng trồng rồi chặt bỏ, nuôi rồi lại bỏ đói, cho ăn cầm chừng, những từ như “rớt giá”, “đột ngột đảo chiều”,… trong nông nghiệp ngày càng phổ biến, thể hiện rõ sự kém bền vững và bất ổn trong sản xuất nông nghiệp. Bạn Đỗ Hồng Quân, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quốc gia đề cập đến những hạn chế, vướng mắc trong quá trình sản xuất, lưu thông sản phẩm nông nghiệp và đề xuất giải pháp khắc phục.

Quy hoạch Sản Xuất trên toàn quốc, cung cấp đầy đủ thông tin cho nông dân Tình hình sản xuất nông nghiệp luôn xảy ra tình trạng “tự phát”, “làm theo phong trào” như cá ba sa, chưa giải quyết xong hậu quả dư thừa do phát triển quá mức lại lo thiếu nguyên liệu vào vụ tới, phá cây ăn quả Đồng bằng sông Cửu Long để trồng lúa, cà phê, hồ tiêu,… Nguyên nhân là do nông dân thiếu thông tin.

Hiện nay, cách tiếp cận thông tin chính của nông dân là qua đài, báo, truyền hình, mạng lưới khuyến nông. Tuy nhiên, các thông tin này thường chỉ tập trung vào kỹ thuật sản xuất, trong khi đó câu hỏi đầu tiên đặt ra cho các nông dân là sản xuất cho ai, bao nhiêu, sau đó mới là sản xuất như thế nào.

Các thông tin bà con nông dân tiếp cận được rất chung chung về cầu và giá các sản phẩm cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, đại loại như “tới đây sẽ thiếu nguyên liệu cá ba sa”, “nhu cầu của thị trường rất lớn”, “sẽ xuất khẩu sang thị trường EU”,… Nhận được thông tin kiểu này, người nông dân ào ạt phát triển “tự phát” là điều không tránh khỏi.

Để khắc phục tình trạng này, tôi xin đề xuất :

- Thứ nhất, Chính phủ nên giao cho một cơ quan chuyên nghiên cứu, tổng hợp đủ mạnh để dự báo được nhu cầu, giá cả sản phẩm ở trong và ngoài nước theo từng thời điểm cụ thể. Các thông tin này phải được thực hiện liên tục và thường xuyên cung cấp cho nông dân.

- Thứ hai, cần có quy hoạch tổng thể quy mô quốc gia về mỗi loại hàng nông, lâm, thuỷ sản đảm bảo phù hợp với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu… Kết quả quy hoạch phải chỉ rõ loại cây trồng, vật nuôi, số lượng, quy mô diện tích,… ở từng khu vực cụ thể. Đặc biệt, đối với một số cây trồng có thế mạnh như lúa, cà phê,… phải chỉ rõ đến tận cánh đồng của từng xã.

Các thông tin này phải được công khai đến cơ quan chức năng của từng địa phương và bà con nông dân. Các địa phương thường xuyên tổng hợp số liệu hiện trạng về quy mô sản xuất, thông báo công khai để nông dân tự xem xét nhu cầu thị trường và năng lực sản xuất của mình để ra quyết định. Hiện nay, việc quy hoạch đang được thực hiện theo mục tiêu của từng tỉnh; quy hoạch vùng, quy hoạch quốc gia chỉ mang tính định hướng.

- Thứ ba, diện tích đã được quy hoạch để canh tác các loại cây trồng nông nghiệp quan trọng phục vụ an ninh lương thực như lúa phải được giao cho Bộ NN&PTNT quản lý. Với cách làm này sẽ tránh được tình trạng diện tích nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích một cách tuỳ tiện. Đất đai, cây trồng trên đất, việc xuất nhập khẩu các loại hàng hoá nông nghiệp chiến lược phải được giao cho một Bộ NN&PTNT và chịu trách nhiệm trước Chính phủ và nhân dân.

- Thứ tư, lợi nhuận từ sản xuất nông nghiệp thấp, vì vậy, người nông dân các vùng quy hoạch chuyên sản xuất nông nghiệp cần được hỗ trợ nhiều hơn nữa để sản xuất các mặt hàng chiến lược (như lúa, nuôi trồng thuỷ sản,…) trên nguyên tắc người nông dân phải làm đúng quy trình kỹ thuật, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường.

Xây dựng cơ chế, tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa các “nhà”

Trong những năm gần đây, tình trạng doanh nghiệp, nông dân phá hợp đồng xảy ra thường xuyên. Khi giá cả thị trường xuống, doanh nghiệp bỏ nông dân; khi giá thị trường lên, nông dân giữ hàng không bán,… Nguyên nhân là do doanh nghiệp và nông dân có lợi ích ngược nhau. Nông dân luôn muốn bán đắt, doanh nghiệp luôn muốn mua rẻ. Hậu quả là nông dân luôn bị thiệt thòi, doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng không nhỏ. Ví dụ như cá ba sa, hồ tiêu, muối,… khi giá cao và có xu hướng tăng thì nông dân không bán, găm hàng, sau một thời gian giá bị rớt.

Để khắc phục tình trạng này, cần có sự hợp tác chặt chẽ của các nông dân và doanh nghiệp. Để doanh nghiệp đi trao đổi, thống nhất với từng hộ nông dân là điều không thể. Vì vậy, các hộ nông dân sản xuất trong khu vực phải tự hợp tác với nhau, xây dựng tổ hợp tác tự nguyện, cử ra ban đại diện để làm việc với doanh nghiệp.

Trước mỗi vụ thu hoạch, ban quản lý tổ hợp tác cùng với nông dân tính toán chi phí, giá thành sản xuất để làm việc với doanh nghiệp thu mua trên địa bàn. Bản thân doanh nghiệp cũng sẽ tính toán chi phí, giá thành để cùng thống nhất với nông dân, để cùng phân chia lợi nhuận. Làm như vậy sẽ khắc phục được tình trạng doanh nghiệp ép giá nông dân, nông dân sợ doanh nghiệp quá lãi.

Thị trường nông, lâm, thuỷ sản khác với các thị trường khác, lợi ích của sản xuất nông nghiệp mang tính kinh tế - xã hội - chính trị, các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương thống nhất vùng nguyên liệu cho từng doanh nghiệp và phương thức xác định giá. Doanh nghiệp ở vùng này sẽ không thể sang vùng khác để mua hàng được và có mua được thì chi phí cũng sẽ cao hơn. Trên tinh thần hợp tác của các hộ nông dân, thống nhất của doanh nghiệp, sẽ giúp cho người sản xuất và người kinh doanh, thu mua, chế biến đều có lợi.

Để tồn tại trong một xã hội phải có sự hợp tác, kinh tế Việt Nam hiện nay đã chịu sự chi phối của thị trường thế giới, nếu các nhà sản xuất làm ăn nhỏ lẻ theo kiểu tiểu nông, chi phí sẽ cao, không đủ sức cạnh tranh. Với phương thức sản xuất cá thể như hiện nay, các nhà tiểu nông lại tự cạnh tranh với nhau, thực chất là đã tự kiềm chế nhau. Tổ hợp tác là xu thế tất yếu, để cùng nhau sản xuất lượng hàng vừa đủ, để sản phẩm nông nghiệp trở thành hàng hoá.

Ổn định sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nông dân, thay đổi bộ mặt nông thôn là nền tảng phát triển kinh tế, ổn định xã hội, chính trị của một nước có tỷ trọng nông nghiệp cao như nước ta. Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, xây dựng cơ chế, văn bản pháp quy nhằm hỗ trợ nông dân có cơ sở pháp lý tự nguyện hợp tác với nhau.

Phương thức sản xuất quá nhỏ lẻ, manh mún như hiện nay không thể phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá được, chỉ phù hợp với mục tiêu tự cung tự cấp, đảm bảo cuộc sống đủ ăn cho từng gia đình, an ninh lương thực cho xã hội, một phần xuất khẩu nhưng chi phí sản xuất cao. Hơn nữa, với những hạn chế về quy hoạch, thiếu thông tin quy mô, sản lượng, giá thị trường cho nông dân đã dẫn đến tình trạng nông dân sản xuất theo phong trào, có năm quá dư thừa, có năm lại quá thiếu. Khắc phục tình trạng này, vai trò và trách nhiệm chính thuộc các cơ quan quản lý nhà nước.

Đỗ Hồng Quân