NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Giải quyết lạm phát và bong bóng đòi hỏi nhiều hơn là hạn chế thanh khoản - Chuyên viên cao cấp Vũ Quang Việt ( Cục thống kê Liên Hiệp Quốc, New York ) , Kiều bào Mỹ

Việc thiếu thanh khoản trong hệ thống ngân hàng đang trở thành khủng hoảng vì nhà nước Việt Nam đang thực hiện nhiều mục tiêu mâu thuẫn nhau, trong đó mục tiêu quyết liệt giảm lạm phát là mục tiêu mới. Trong tuần thứ 3 của tháng 2, mục tiêu này được thực hiện trong chớp mắt, có thể nói là “hơi quả quyết” nhưng thiếu suy nghĩ, do đó nhanh chóng đưa tới hậu quả xấu, và đến cuối tuần mất ngay tính quả quyết ban đầu. Ngân hàng nhà nước tăng tỷ lệ dự trữ rút về khoảng 10 ngàn tỷ, rồi tăng lãi suất một chút (vẫn còn quá thấp so với tốc độ lạm phát hiện nay) và tuần qua đòi hỏi các ngân hàng thương mại mua tín phiếu 20 ngàn tỷ đồng để rút về. Nhưng khi các ngân hàng thiếu thanh khoản, lãi suất liên ngân hàng vọt lên, Ngân hàng Nhà nước mất nhuệ khí, tung ra thị trường hơn 33 ngàn tỷ đồng vay ngắn hạn. Thế là xong một cuộc đánh trống bỏ dùi. Tuy thế nó cũng có ưu điểm là Ngân hàng Nhà nước đã lắng nghe thị trường. Nhưng bất cứ một cuộc chống lạm phát nào cũng phải có trả giá.

Tại sao lạm phát lại xảy ra tới mức báo động đỏ hiện nay ? ( Nói là báo động đỏ bởi vì nếu không giảm xuống, nó sẽ tạo ra tâm lý lạm phát, có thể đưa đến bất ổn xã hội vì lao động không đủ sống, lại làm hàng hóa đắt đỏ với người đầu tư nước ngoài, do đó làm mất niềm tin vào thị trường và chấm dứt cuộc đổ bộ đầu tư vào Việt Nam ). Lạm phát do mức tăng tín dụng, tăng tiền đã rõ từ lâu, ít nhất là từ năm 2004 khi mức tăng tiền lên đến 25%, rồi mới đây nhảy vọt tới 35-40%, nhưng nhà nước vẫn án binh bất động cho đến mới đây.

Nhưng tại sao tín dụng lại tăng như vậy. Đó là vì những mục tiêu trong kế hoạch đặt ra đã đưa tới tình trạng trên:

1) Mức đầu tư của ngân sách và của công ty nhà nước quá lớn đưa tổng đầu tư lên trên 40% GDP nhưng thường vì thiếu hiệu quả và không đúng chỗ nên mức tăng GDP chỉ ở mức tạm gọi là phấn khởi,

2) Mở rộng cho đầu tư ở nước ngoài đặc biệt là vào thị trường tài chính (trong 7-9 tỷ chuyển vào Việt Nam năm 2007, theo tôi ước đoán, chỉ có 3 tỷ là vào đầu tư trực tiếp) do đó tiền chuyển đổi để mua chứng khoán tất nhiên làm tăng khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế, nhưng khác với đầu tư trực tiếp, không được các công ty bán ra chứng khoán, hoặc các đại gia nắm chứng khoán đầu tư vào sản xuất hàng hóa dịch vụ, mà chủ yếu chạy đuổi theo hàng hóa có sẵn, nhà đất và chứng khoán, làm toàn bộ trở nên bong bóng.

Muốn làm giảm lạm phát tất phải có biện pháp làm giảm khối lượng tiền tệ trên thị trường, nhưng như thế vẫn không đủ và khi quá độ lại trở thành nguy hiểm. Các biện pháp thì hầu như các nhà kinh tế đều biết:

1) Nâng lãi suất ở mức cao hơn lạm phát để thu hút tiền vào ngân hàng, và tất nhiên việc này sẽ làm giảm đầu tư và nhu cầu tiền vốn. Điều này chưa được làm đến nơi vì chạm vào mục tiêu đạt được tốc độ phát triển kinh tế cao (với đầu tư của nhà nước cao, để lãi suất cao đưa đến thiếu hụt ngân sách lớn hơn, do đó mức in tiền lại lớn). Lãi suất hiện nay vẫn còn âm so với tốc độ lạm phát nên không có sức thu hút tiền gửi.

2) Cắt giảm đầu tư của nhà nước. Việc này cũng động đến kế hoạch có tốc độ tăng trưởng cao.

3) Thực hiện các biện pháp trung hòa như bán tín phiếu ngân hàng để thu tiền về Ngân hàng Nhà nước.

4) Giảm dòng chảy đầu tư nước ngoài bằng cách tăng hối suất ( hối suất chính là giá nhằm quân bình cung cầu ngoại tệ trên thị trường trong nước ). Điều này tât nhiên mâu thuẫn với quyết định của nhà nước là giữ hối suất ổn định để phát triển xuất khẩu.

Vấn đề là kết hợp đồng thời các biện pháp này cùng một lúc và điều chỉnh tùy theo tình hình thực tế. Điều chỉnh như thế nào tùy thuộc vào tình hình thực tế mà có lẽ chỉ có chính quyền mới nắm được nếu thu thập đầy đủ và kịp thời thông tin. Chỉ giảm thanh khoản bằng bán tín phiếu sẽ bóp ngay cổ họng ngân hàng thương mại tư và khu vực tư nhân vì công ty nhà nước có lẽ sẽ êm thắm vì được ưu đãi.

Cũng cần nói thêm về việc cần thiết tăng hối suất. Điều này không thể tránh được nếu như muốn giải quyết lạm phát và nếu như không muốn có biện pháp ngăn cản dòng chảy tư bản nước ngoài vào thị trường tài chính. Nói đến tăng hối suất là nói đến việc tự do hóa hơn mua bán ngoại tệ trên thị trường Việt Nam. Tuy nhiên khó có thể tiên đoán trước được hối suất ở mức nào có thể điều hòa được cung cầu ngoại tệ và đồng thời không tạo khủng hoảng trên thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa. Do đó vẫn có thể cần phải kiểm soát dòng chảy tư bản ở mức độ nhất định. Chẳng hạn dù không cấm ngân hàng thương mại, ngân hàng Nhà nước, nơi có khả năng cung cấp thanh khoản lớn nhất, có thể chỉ chuyển đổi ra đồng Việt Nam những trường hợp đặc biệt như đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp nhưng ở mức độ chiến lược tức là ở tỷ lệ đáng kể và với thời gian sở hữu tối thiếu, không được bán lại trên thị trường.

Dòng vốn tài chính từ nước ngoài là con dao hai lưỡi đối với nền kinh tế, đặc biệt đối với nền kinh tế chưa có cơ chế điều hành và kiểm soát chúng. Khi chúng đổ vào nhiều như hiện nay, nền kinh tế bội thực. Khi chúng tháo chạy mở đầu cho cuộc khủng hoảng ở châu Á trước đây, nền kinh tế đói lả. Đã có lúc Mỹ và IMF cổ động mạnh mẽ cho tự do dòng chảy vốn tài chính, nhằm biến thành nguyên tắc bắt buộc cho các thành viên IMF, nhưng sau đó đã phải rút lại vì cuộc khủng hoảng ở châu Á năm 1997 và sau đó là cuộc khủng hoảng ở Nam Mỹ. Mã Lai là nước độc nhất lúc đó áp dụng áp biện pháp kiểm soát do đó tránh cho nền kinh tế của họ bị đẩy vào khủng hoảng trầm trọng như Indonesia và Thái Lan.

Có được một chính sách kiểm soát dòng chảy tư bản là điều cần thiết.

Toàn bộ những hoạt động chống lạm phát sẽ có ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán và thị trường nhà đất nhưng đây là điều cần làm. Thanh khoản quá nhiều đã nhanh chóng đẩy khai khu vực này thành bong bong. Riêng khu vực chứng khoán do ảnh hưởng khủng hoảng tài chính của Mỹ đã làm xẹp bong bóng một phần đáng kể, và hiện nay ở chỉ số ở mức độ khoảng 600-700 là tương đối hợp lý, và dù có xuống hơn thế cũng không cần sự can thiệp của nhà nước. Việc can thiệp mới đây cho phép mua cổ phần bằng đô la ( hành động đầu tiên là giúp dầu khí đi vào hoạt động tài chính, một hoạt động hoàn toàn trái ngành ) là quyết định sai lầm vì nó sẽ đô la hóa nền kinh tế, làm mất khả năng điều hành tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước và đồng đô la đó không nhất thiết không chạy đuổi đồng Việt Nam để đổ vào hai thị trường quá nóng như nhà đất và chứng khoán. Làm dẹp bong bóng nhà đất là điều cần làm, và điều này đang chờ đợi hành động áp dụng thuế nhà đất ở mức hợp lý và thuế chênh lệch lãi trên lợi nhuận mua bán nhà đất, ít nhất ngang bằng thu nhập doanh nghiệp khác. Dẹp bong bóng nhà đất cũng cần chính sách khuyến khích đầu tư vào xây dựng nhà cửa, và làm giảm việc đầu cơ đất bằng thuế đặc biệt đối với người mua quyền sử dụng đất nhưng không sử dụng vào kinh doanh, nhằm đầu cơ.

Không có sai lầm về chính sách nhưng có yếu kém trong dự báo?

“Không có sai lầm về chính sách nhưng có yếu kém trong dự báo”, ông Bộ trưởng Tài chính nói thế về tình hình lạm phát bắt đầu phi mã khi trả lời phóng viên câu hỏi: “Ngoài nguyên nhân khách quan, chúng ta có gặp phải sai lầm gì trong điều hành chống lạm phát?”

Có thật thế không? Không lẽ lạm phát chỉ là do Bộ Tài chính dự báo lầm.

Ông Bộ trưởng nói (Tuổi trẻ 29/2/2008): “Ví dụ năm qua chúng ta dự báo về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ban đầu là 12 tỉ USD, sau tăng lên 16 tỉ, đến cuối năm dự đoán là 20 tỉ nhưng thực tế cuối cùng là 21 tỉ. Dự báo yếu khiến công tác chuẩn bị hấp thụ vốn chưa tốt. Giá dầu thế giới cũng tương tự. Kể cả một số chuyên gia nước ngoài cũng từng dự báo giá dầu chỉ lên đến 75 USD/thùng nhưng thực tế chỉ trong một tháng đã tăng từ 70-100 USD/thùng. Từ những dự báo đó dẫn đến việc chưa lường hết mức tăng của tổng phương tiện thanh toán và tăng dư nợ tín dụng...”

Dự báo, nhất là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài này, chỉ dựa vào lời hứa của giới đầu tư nước ngoài, không phải là dự báo về vốn thực tế họ thực hiện, mà đó mới là điều cần. Tôi ước đoán là đầu tư thực sự năm 2007 không hơn 3 tỷ. Từ lời hứa (kể cả dựa trên giấy phép được cấp) cũng phải mất một vài năm mới đến lúc thực hiện. Cho nên vấn đề lạm phát không phải là dự báo lầm. Những người có trách nhiệm nên thẳng thắn tìm nguyên nhân sai lầm từ trong chính sách thì mới hy vọng chặn đứng được lạm phát.

Tôi sẽ chỉ nhắc lại sơ các nguyên nhân chính gây ra làm phát ở đây mà không cần bàn thêm vì bất cứ sách giáo khoa kinh tế nào cũng nói tới, đó là: nhà nước tài trợ chi tiêu quá nhiều của chính mình và doanh nghiệp nhà nước bằng cách in tiền quá đáng (tất nhiên có ảnh hưởng của việc tăng giá nguyên liệu phải nhập như dầu hỏa nhưng đó là phụ). Lạm phát đã nhảy vọt. Nếu tình hình giá tiếp tục tăng như hai tháng đầu năm thì Việt Nam sẽ đạt tốc độ lạm phát là 42%. Ở đây tôi muốn bàn đến nguyên nhân của việc nhảy vọt, đồng thời khủng hoảng thanh khoản đang xảy ra.

Vấn đề nhảy vọt có nguyên nhân khá rõ ràng. Ngân hàng phải mua vào số lượng lớn ngoại tệ (đầu tư trực tiếp và đặc biệt là đầu tư vào thị trường chứng khoán. Trên Thời báo Kinh tế Sàigòn (số 10, 2008) ký giả Hải Lý đã đưa thông tin rất quan trọng rằng Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nửa đầu năm 2007 đã tung ra 105 ngàn tỷ để mua vào 6,5 tỷ đô la làm dự trữ ngoại tệ, sau đó lại tung thêm 40 ngàn tỷ để mua thêm 2,5 tỷ ngoại tệ. Như vậy tổng số tiền tung ra mua 9 tỷ ngoại tệ là 145 ngàn tỷ đồng. Số tiền mà Ngân hàng nhà nước rút về được là 90 ngàn tỷ, như vậy số tiền in thêm cho thị trường là 55 ngàn tỷ chỉ để mua ngoại tệ. So với tổng số tiền mặt có trên thị trường cuối năm 2006 là 159 ngàn tỷ thì tiền mặt đã tăng 34,6% để mua ngoại tệ. Nhiều vấn đề không rõ ràng vì Ngân hàng nhà nước chưa bao giờ minh bạch thống kê ngân hàng, tức là họ chỉ cho thông tin chọn lọc ở mức độ đủ để giải thích theo ý kiến của chính họ như ở trên. Câu hỏi đặt ra là:

1. Số ngoại tệ mà ký giả Hải Lý lấy từ ông Thống đốc chỉ là của nửa năm đầu 2007, còn nửa năm sau thì sao?

2. Ai mua rồi giữ ngoại tệ khi nước ngoài chuyển tiền vào mua cổ phiếu, và đầu tư trực tiếp?

3. Bộ Tài chính tài trợ thiếu hụt chi tiêu bằng gì? Bán trái phiếu tài chính cho thị trường hay bán trái phiếu cho Ngân hàng nhà nước. Hai cách làm tất đưa đến kết quả khác nhau. Trái phiếu tài chính bán trên thị trường không làm tăng khối lượng tiền vì Bộ Tài chính mượn tiền của dân để tiêu. Cách làm thứ hai là mua tín phiếu Ngân hàng nhà nước (tức là đòi hỏi Ngân hàng nhà nước in tiền cho mình tiêu) sẽ làm tăng khối lượng tiền tệ và tạo lạm phát. Những vấn đề chính sách này thỉ có thể hiểu được thông qua số liệu chi tiết của Ngân hàng nhà nước.

Đặt vấn đề này là đặt câu hỏi về hành xử của Bộ Tài chính. Hành xử của Bộ Tài chính đã làm suy yếu quyền kiểm soát cung tiền của Ngân hàng nhà nước nếu Bộ đòi Ngân hàng nhà nước mua trái phiếu của mình. Hành xử thứ hai mà ký giả Hải Lý cũng đặt ra trong số TBKTSG nói trên trong một bài khác “Tiền đang ở đâu?” cho biết là chính Bộ Tài chính đã làm suy yếu khả năng kiểm soát tiền tệ của Ngân hàng nhà nước bằng chính sách đô la hóa nền kinh tế. Theo tin này, Bộ Tài chính đã mua và giữ một khối lượng ngoại tệ lớn (bao nhiêu thì không biết) và vào đầu năm 2008, tới Ngân hàng nhà nước đổi ra tiền đồng, nhưng Ngân hàng nhà nước chỉ có thể đáp ứng 10% vì chỉ trong có 2 tháng đầu năm Ngân hàng nhà nước đã phải chi ra lượng tiền bằng 47,3% lượng tiền đồng được Chính phủ cho phép đưa vào lưu thông trong cả năm. Bộ Tài chính phải vơ vét tiền trên thị trường. Tiền đồng giảm, gây ra tình trạng thiếu tiền hay thanh khoản. Rõ ràng Bộ Tài chính làm ảnh hưởng đến lượng cung tiền trong nền kinh tế.

Tình trạng này cho thấy để điều hành chính sách tiền tệ, Bộ Tài chính phải chấm dứt việc giữ ngoại tệ. Trong bất cứ nước nào muốn có chính sách tiền tệ độc lập, ngoại tệ phải được nộp vào Ngân hàng nhà nước. Theo định nghĩa được các tổ chức tiền tệ quốc tế và ngân hàng trên thế giới chấp nhận, dự trữ ngoại tệ chính là dự trữ tại Ngân hàng nhà nước, không phải tại Bộ Tài chính hay tại công ty. Nếu để Bộ Tài chính và các đại gia giữ tiền ngoại tệ (như việc Thủ tướng mới cho phép công ty bán cổ phần lấy ngoại tệ) và trao đổi chúng trên thị trường, chúng sẽ ảnh hưởng đến lưu lượng tiền đồng, một cách bất ngờ như vừa qua (tùy theo lúc nào họ quyết định thu mua) và vô hiệu hóa chính sách tiền tệ.

Vậy thì có hai điểm nhà nước nên làm.

Một, nhà nước cần minh bạch hóa thông tin về tiền tệ và tài chính. Không minh bạch hóa thì thị trường sẽ không nắm được tình hình để hành động đúng đắn và chuyên gia nếu muốn góp phần vào phân tích để khuyến nghị cũng đành bó tay, nhất là khi số liệu có thể chỉ nằm trong tay những người không có khả năng phân tích.

Hai, cần phân định rõ ràng vai trò của Bộ Tài chính và Ngân hàng nhà nước, và cần chấm dứt quyền tạo tiền tệ của Bộ Tài chính và các đại gia thông qua quyền mua bán ngoại tệ trên thị trường, không thông qua hệ thống ngân hàng.