NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Gian lận trong nghiên cứu khoa học : áp lực kinh tế và cơ chế bình duyệt - GS TS Nguyễn Văn Tuấn , Kiều bào Úc

Hãy tưởng tượng một bối cảnh quen thuộc: tòa soạn của một tập san y học hàng đầu thế giới nhận được bản thảo báo cáo khoa học về một công trình nghiên cứu được xem là “thời thượng”. Ban biên tập đọc qua phần tóm lược của bản thảo, thấy đây là một bài báo quan trọng, và quyết định gửi cho ba chuyên gia trong ngành để xem xét và bình duyệt. Các chuyên gia này căn cứ vào chi tiết về phương pháp và kết quả nghiên cứu được mô tả trong bài báo, viết báo cáo cho Ban biên tập và phản hồi cho tác giả. Sau khi xem qua 3 báo cáo và đề nghị của ba chuyên gia, Ban biên tập gửi bản thảo lại cho tác giả và đề nghị tác giả nên trả lời tất cả các câu hỏi của các chuyên gia bình duyệt và gửi lại cho Ban biên tập để có phán quyết sau cùng. Ban biên tập một lần nữa, xem qua bản phúc trình của tác giả và đề nghị của các chuyên gia quyết định cho công bố bài báo. Bài báo sau khi công bố thu hút sự chú ý của báo chí đại chúng và tác giả trở thành một “ngôi sao khoa hoc”. Nhưng công trình nghiên cứu là một hư cấu khoa học, và bài báo là một tiểu thuyết không hơn không kém. Tác giả chẳng làm nghiên cứu, tất cả những dữ liệu, số liệu, hình ảnh, biểu đồ hoàn toàn được giả tạo bằng tay hay máy tính!

Thật ra trường hợp vừa “tưởng tượng” trên không phải là tưởng tượng, nhưng là một trong nhiều trường hợp xảy ra trong thực tế. Năm 2005, Tập san Lancet (một tập san y học đứng vào hàng nhất nhì trên thế giới) công bố một công trình nghiên cứu của bác sĩ Jon Sudbo, chuyên gia về ung thư thuộc Bệnh viện Radium và Đại học Oslo (Na Uy) . Trong bài báo, bác sĩ Sudbo và 13 cộng sự viên báo cáo rằng họ đã tiến hành một nghiên cứu đối chứng (case-control study) với 908 đối tượng, và kết quả cho thấy thuốc chống viêm NSAIDs (non-steroidal anti-inflammatory drugs) có hiệu quả làm giảm nguy cơ ung thư miệng. Phát hiện của bác sĩ Sudbo gây sự chú ý lớn của các chuyên gia trong lĩnh vực ung thư bởi vì các loại thuốc NSAID được sử dụng rất rộng rãi để giảm đau, nhất là đau thấp khớp, và tương đối rẻ, và nếu quả thật thuốc có hiệu quả chống ung thư thì đó là một tin vui cho bệnh nhân: một thuốc mà đạt hai mục tiêu. Sau khi công bố bài báo, Sudbo trở thành nổi tiếng trong giới chuyên môn về “phát hiện” mà ít ai nghĩ đến đó.

Nhưng nghiên cứu của Sudbo hoàn toàn giả tạo. Bác sĩ Sudbo giả tạo tất cả các số liệu và bệnh nhân. Khi điều tra lại các số liệu gốc (tức cũng giả tạo), người ta mới phát hiện trong số 908 đối tượng ma này, có đến 250 người có cùng ngày tháng năm sinh! Tuy nhiên, điều đáng chú ý là trong phân tích, Sudbo đã giả tạo rất tài tình, không để lộ một kẽ hở nào trong số liệu để người bình duyệt có thể đánh dấu hỏi. Tổng biên tập tập san Lancet, Richard Horton, phải thú nhận là Sudbo quá thông minh và tinh sảo đến độ ông có thể qua mặt tất cả 13 cộng sự viên là tác giả của bài báo, lường gạt tất cả các chuyên gia trong ngành đã bình duyệt bài báo, lường gạt luôn cả một chuyên gia thống kê học cũng là người bình duyệt bài báo! Hành động ngụy khoa học của bác sĩ Sudbo chỉ được phát hiện khi một nhà dịch tễ học người Na Uy chú ý đến đoạn văn mà Sudbo cho biết nguồn bệnh nhân mà ông nghiên cứu là trích từ một ngân hàng dữ liệu (database) về ung thư thuộc bệnh viện Radium, bởi vì trong thực tế ngân hàng dữ liệu này không hiện hữu!

Đến nay, bác sĩ Sudbo đã thú nhận rằng ông ngụy tạo hoàn toàn các số liệu trong bài báo đó bằng máy tính. Ông không chú ý đến ngày tháng năm sinh vì nghĩ rằng không ai đòi hỏi xem số liệu gốc! Ông còn thú nhận rằng hai bài báo ông công bố trước đó trên tập san New England Journal of Medicine và Journal of Clinical Oncology cũng dựa vào số liệu do ông dựng lên.

Trong lịch sử khoa học, tính từ thế kỉ 19 cho đến nay, không thiếu những trường hợp nghiên cứu giả tạo như thế. Trong những trường hợp gây nhiều tai tiếng trong dư luận công chúng có lẽ là trường hợp của bác sĩ John Darsee vào thập niên 1980s khi ông, lúc đó là một giáo sư trẻ thuộc Đại học Emory (Atlanta, bang Georgia, Mĩ), công bố một loạt 10 bài báo mà ông đứng tên tác giả đầu. Với thành tích ấn tượng đó, Darsee được thăng tiến nhanh chóng trong sự nghiệp khoa bảng, trở thành một nhà khoa học được nhiều đồng nghiệp kính trọng. Nhưng tất cả những bài báo đó là hoàn toàn giả tạo. Nói cách khác, ông đã tạo sự nghiệp dựa vào việc ngụy tạo nghiên cứu trong suốt 10 năm liền! Mới đây nhất là trường hợp của tiến sĩ Woo Suk Hwang (Hàn Quốc) về việc ngụy tạo dữ liệu trong các nghiên cứu tế bào mầm, những nghiên cứu đã đưa tên tuổi ông thành một ngôi sao khoa học và sau này là một ngôi sao trong hàng ngũ những người ngụy khoa học. Những sự việc tai tiếng trên đã thu hút không biết bao nhiêu giấy mực từ giới truyền thông quốc tế, đến nổi có người bi quan đặt câu hỏi có nên tin tưởng vào các nhà khoa học nữa hay không, khi những xì-căng-đan khoa học như thế cứ liên tục xảy ra.

Tại sao những trường hợp ngụy khoa học đã được biết đến hàng trăm năm qua, và sinh viên cũng được thường xuyên giáo dục về đạo đức khoa học, mà các nghiên cứu ngụy tạo vẫn còn tồn tại trong thế kỉ 21 ? Đó là câu hỏi mà khoa học đang đặt ra, và cũng như bao nhiêu câu hỏi khác, câu trả lời có nhiều nguyên do. Theo tôi, lí do chính là áp lực kinh tế dẫn đến tình trạng suy đồi đạo đức khoa học và gian lận. Một yếu tố khác là những thiếu sót nghiêm trọng trong hệ thống bình duyệt một bài báo khoa học thực nghiệm.

Áp lực và đạo đức khoa học

Khoa học hiện đại là một ngành nghề rộng lớn, có định hướng rõ ràng, với nhiều đầu tư về tài lực. Các thế lực đằng sau khoa học là chính phủ và các công ti kĩ nghệ lớn. Hai thế lực này cung cấp tiền bạc cho hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học, và là nguồn nuôi sống cho các nhà khoa học. Ngày nay, gần 80% các nghiên cứu lâm sàng là do các công ti dược hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp tài trợ. Phần lớn các nghiên cứu khoa học được tiến hành trong cơ cấu quyền lực này, nơi mà các tiêu chuẩn khoa học bị thay đổi liên tục. Các tiêu chuẩn này không phải được đúc kết từ sách giáo khoa hay theo chỉ dạy của một nhà khoa học danh tiếng nào, mà là những thích nghi với môi trường thực tế.

Tại các nước Tây phương ngày nay, phần lớn các giáo sư và nhà khoa học chịu áp lực lớn từ trường đại học phải làm nghiên cứu và công bố nghiên cứu. Có nghiên cứu, có bài báo khoa học cũng đồng nghĩa với việc được lưu dụng và đề bạt; không có hai thứ này có thể được xem là “lười biếng” và có khi bị sa thải. Cái văn hóa mà có người gọi mỉa mai rằng “publish or perish” (công bố hay là tàn lịu) làm cho nhà khoa học lúc nào cũng nơm nớp nghĩ đến bài báo khoa học như là một lẽ sống còn. Thành ra, họ phải bằng mọi cách, có khi phải nhắm mắt bỏ qua đạo đức khoa học, để có một bài báo hàng năm và để tồn tại trong cái thế giới cạnh tranh ác liệt đó.

Ở một khía cạnh khác, nhà khoa học vì mang ơn từ nhà tài trợ tư nhân quá nhiều, mà nhà tài trợ thì có mục tiêu chính là làm ra sản phẩm, kiếm lời, hơn là đi tìm sự thật khoa học. Để làm hài lòng nhà tài trợ (và được tài trợ tiếp), có khi nhà khoa học cũng nhắm mắt trước những việc làm sai trái, cố tình “nặn” ra cho được những nghiên cứu, kể cả giả tạo số liệu, để nhà tài trợ có thể dựa vào đó mà bán sản phẩm. Trường hợp này xảy ra rất thường xuyên trong mối liên hệ giữa giới nghiên cứu y học và các công ti thuốc.

Thêm vào đó, nhà khoa học cũng chỉ là những con người bình thường “nhân vô thập toàn”, cũng thích được chú ý, và chịu áp lực trước thị trường. Khi một nghiên cứu, dù còn trong tình trạng sơ khởi, cho ra một kết quả quan trọng, họ cũng không ngần ngại tuyên bố vung vít để mong được tài trợ thêm. Thành ra, không ai ngạc nhiên khi thấy trong thế giới khoa học có nhiều nhân vật củng rất “trần ai”, cũng bịp bợm, lưu manh, và phạm tội lường gạt. Họ cũng làm nghiên cứu giả dối, che dấu sự thật, chủ quan, đạo văn, ăn cắp ý tưởng của người khác, bịa đặt số liệu, cũng cố tình vặn vẹo số liệu theo ý muốn mình ... Trong bài báo nổi tiếng, Federal Actions Against Plagiarism in Research (Những vụ kiện liên bang chống đạo văn trong nghiên cứu) công bố trên Tập san thông tin đạo đức học (Journal of Information Ethics) năm 1996, Tác giả A. R. Price cho biết chỉ trong thời gian từ 1989 đến 1995, các cơ quan và tổ chức quản lí nghiên cứu khoa học (như Office of Scientific Integrity, the Office of Research Integrity, and the National Science Foundation) phát hiện nạn đạo văn trong 23 đơn xin tài trợ nghiên cứu.

Áp lực xã hội và suy đồi đạo đức là một yếu tố mang tính cá nhân nhà nghiên cứu. Một yếu tố quan trọng khác là hệ thống bình duyệt và công bố bài báo khoa học cũng có khi là môi trường cho những kẻ gian lợi dụng.

Hệ thống bình duyệt

Bình duyệt (peer-review) là một cơ chế có mục đích chính là đánh giá và kiểm tra các bài báo khoa học trước khi chấp nhận cho công bố trên một tập san khoa học chuyên môn. Về mặt lí thuyết đây là một cơ chế rất hay, bởi vì người đánh giá công trình nghiên cứu là những người cùng làm trong ngành, có chuyên môn liên quan đến công trình nghiên cứu, họ chính là người có thẩm quyền và khả năng đánh giá chất lượng của công trình nghiên cứu. Cơ chế duyệt bài thường thành công trong việc ngăn chận những cặn bã, rác rưởi khoa học, và giúp cho ban biên tập của tập san hay các cơ quan cung cấp tài trợ đi đến một quyết định công bằng.

Tuy nhiên cơ chế kiểm duyệt bài vở không thể (hay ít khi nào) phát hiện những lỗi lầm từ sự cố ý lường gạt của tác giả. Khi một chuyên gia được mời thẩm định một bài báo, chuyên gia đó chỉ có thể dựa vào những gì được trình bày trong bài báo (như phương pháp nghiên cứu, số liệu, hình ảnh, biểu đồ) để đánh giá chất lượng của công trình nghiên cứu. Thế nhưng những gì được trình bày trong bài báo chỉ là những sản phẩm đã qua một hay nhiều khâu xử lí và phân tích từ số liệu gốc. Chẳng hạn như để mô tả mối liên hệ giữa thuốc NSAIDs và ung thư, tác giả chỉ trình bày hệ số tương quan và vài chỉ số thống kê, mà những con số này đã được tóm lược và phân tích từ hàng ngàn, thậm chí hàng triệu số liệu thô (raw data). Người bình duyệt không có cơ hội và cũng không có quyền được xem số liệu gốc đó, cho nên không thể biết tác giả thực sự có những số liệu gốc đó hay chỉ là một sự mô phỏng bằng máy tính. Ngay cả nếu tác giả có những số liệu gốc, người bình duyệt cũng không thể biết tác giả đã phân tích đúng hay sai, và những con số đó có sai sót gì không.

Nói cách khác, khi duyệt một bài báo, người bình duyệt phải tin vào sự liêm chính của tác giả. Nếu tác giả là một nhà khoa học từng có tên tuổi, giữ các chức vụ khoa bảng trong một trung tâm nghiên cứu có uy tín, thì niềm tin đó càng được nâng cao chút ít. Nếu tác giả là một tên tuổi mới xuất hiện, nhưng có các tác giả đứng tên chung là người có uy tín, thì người bình duyệt cũng cảm thấy yên tâm phần nào. Nhưng không phải bất cứ vị giáo sư nào cũng thành thật, vì như đề cập trên, trong thực tế có một số vị giáo sư cũng lưu manh và giả dối, những người lợi dụng vào sự tin tưởng của đồng nghiệp để làm những chuyện tai tiếng trong khoa học. Những trường hợp của Hwang Woo Suk, Jon Sudbo, John Darsee, v.v… là ví dụ tiêu biểu. Họ không phải là những ngôi sao lớn trong khoa học, nhưng cũng là những người có chút tên tuổi hay làm việc trong các trung tâm có uy tín cao, và biết cách lợi dụng uy tín này để làm cái chuyện tày trời trong khoa học: ngụy tạo dữ liệu.

Cơ chế bình duyệt không thể (hay ít khi nào) phát hiện những giả tạo dữ liệu, bởi vì chức năng của cơ chế này không làm việc đó. Ngoài ra, cơ chế bình duyệt có nhiều khiếm khuyết mà hiện nay vẫn chưa thể giải quyết được. Bởi vì những người duyệt bài không được phần thưởng vật chất nào, họ không có động cơ để làm việc tốt. Một số người duyệt bài nhận lấy trách nhiệm một cách nghiêm túc, và tiêu ra nhiều thời giờ để kiểm tra, phê bình bài báo như phê bình chính họ. Nhưng cũng có một số người chỉ làm việc qua loa, làm cho có, thậm chí đọc không kĩ bài báo và viết phê phán hời hợt, để giữ tên mình trong hội đồng biên tập! Với những người này thì một công trình giả tạo rất dễ “lọt lưới”.

Vì tình trạng giả tạo dữ liệu khoa học là một thực tế, và có thể khá phổ biến, mà cơ chế bình duyệt không thể nào phát hiện được, cho nên một số tập san đang từng bước nghiên cứu cách ứng dụng công nghệ thông tin, mà đặc biệt là internet, để khác phục vấn đề. Một số tập san lớn như Nature, Science, PNAS, Cell, v.v… có chính sách yêu cầu tác giả khi gửi bài báo cho tập san phải kèm theo tất cả các dữ liệu gốc được công bố trên một website nào đó, để các chuyên gia, khi cần thiết, có thể truy nhập và phân tích lại xem có phù hợp với kết quả và kết luận của tác giả hay không.

Ngoài ra, một số cơ quan quản lí khoa học cấp nhà nước cũng có chính sách thường xuyên kiểm tra ngẫu nhiên ngay tại cơ sở nghiên cứu của tác giả. Đoàn thanh tra sẽ đến trung tâm nghiên cứu (có khi không cần báo trước) và xem xét tất cả các dữ liệu gốc (như hồ sơ bệnh nhân, dữ liệu từ thí nghiệm gốc, cách bảo quản dữ liệu, v.v…) để xác định tác giả quả thật có làm nghiên cứu và đã tuân thủ theo các qui định bảo mật trong nghiên cứu khoa học.

Nhìn người lại nghĩ đến ta

Có thể nói gian lận và ngụy tạo trong khoa học là một khía cạnh tiêu cực khó tránh khỏi trong hoạt động khoa học. Những trường hợp nổi tiếng như mô tả trên đây mới là bề ngoài, mặt nổi của vấn đề, bởi vì trong thực tế, có hàng ngàn trường hợp chẳng bao giờ được phát hiện, hay phát hiện nhưng không được công bố ra ngoài. Trong một nghiên cứu trên 4.000 sinh viên bậc tiến sĩ trong 99 trường đại học ở Mĩ, Giáo sư Judith P. Swazey cho biết có đến 44% sinh viên và 50% giáo sư đại học từng biết ít nhất một hành vi vi phạm đạo đức nghiên cứu khoa học. Phần lớn những vi phạm này xảy ra trong các bộ môn khoa học thực nghiệm như sinh học, vật lí, hóa học, v.v…

Ở nước ta, chưa có một nghiên cứu nào có hệ thống về những gian lận trong nghiên cứu khoa học. Nhưng nhiều sinh viên và nghiên cứu sinh qua hệ thống internet cho biết họ từng biết nhiều vụ vi phạm đạo đức khoa học, kể cả giả tạo số liệu ở một số trung tâm nghiên cứu y học ở Việt Nam. Nếu có thật thì có lẽ điều này cũng không ngạc nhiên, vì giáo dục về đạo đức khoa học dường như chưa được xem trọng ở nước ta. Do đó tình trạng quay cóp xảy ra tràn lan. Trong một bài báo gần đây trên Tuổi Trẻ (“Chất lượng giáo dục đang ở đâu”, 22/9/2004) có vài đoạn đáng chú ý: “Trong lịch sử giáo dục nước nhà, chưa bao giờ các dịch vụ làm luận văn, luận án lại được quảng cáo công khai xung quanh các trường đại học như hiện nay,” và “Trong những năm gần đây, sự gian dối trong học tập ngày càng gia tăng, ở các lớp trên xảy ra nặng và nhiều hơn lớp dưới, ở người lớn nghiêm trọng hơn ở thanh thiếu niên. Sự gian dối tuy chỉ ở một bộ phận người học, nhưng lại có tính phổ biến mà địa phương nào cũng cóm từ giáo dục chính qui, tại chức, đến giáo dục thường xuyên đều xảy ra. Các hiện tượng chạy điểm, chạy thầy, quay cóp, mua bán sử dụng phao thi … trước đây rất ít và người học cảm thấy xấu hổ khi bị phát hiện thì bây giờ không ít người học cho rằng đó là chuyện bình thường.”

Việt Nam có một số tạp chí y học công bố các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong nước. Có lẽ công bằng mà nói rằng hệ thống bình duyệt ở các tạp chí này chưa được chặt chẽ hay mang tính chuyên môn cao như các tạp chí y học quốc tế. Và, sự lõng lẽo này có thể là mầm móng cho gian lận khoa học. Đọc qua nhiều bài báo khoa học trên các tạp chí này, người đọc có cảm giác như các nghiên cứu được tiến hành từ đầu đến cuối một cách suông sẽ, hoàn hảo, và kết quả hầu như là đều mang tính tích cực, tuyệt vời. Chính vì sự hoàn hảo này làm cho người đọc phải đặt dấu hỏi về sự chính xác của các dữ liệu được trình bày, bởi vì trong thực tế bất cứ một nghiên cứu nào cũng đều có vài sai sót, yếu kém, và trở ngại khi thực hiện. Không có một công trình nghiên cứu nào, cho dù tốn kém và thiết kế cẩn thận cỡ nào, mà hoàn hảo cả.

Có lẽ đã đến lúc các tạp chí khoa học trong nước nên nghiên cứu hệ thống bình duyệt mở rộng mà các tập san khoa học thế giới đang dần dần ứng dụng. Theo hệ thống này, tất cả các bài báo đệ trình công bố sẽ phải kèm theo các dữ liệu gốc (có thể chưa trong CD hay một website với hệ thống bảo mật) để các chuyên gia bình duyệt có thể truy nhập và thẩm định kết quả của nghiên cứu. Một số tạp chí còn công bố cả danh tính của người bình duyệt, nhưng có lẽ điều này còn khá tế nhị và chưa thể ứng dụng ở trong nước trong tình hình hiện nay.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Qua kinh nghiệm từ những vụ gian lận trong nghiên cứu khoa học trên thế giới, có lẽ nhà nước – mà cụ thể là Bộ khoa học và công nghệ – nên có một chính sách cụ thể về việc giải quyết các trường hợp vi phạm đạo đức khoa học khi sự việc xảy ra. Ngoài ra, cũng cần có một vài hội đồng thanh tra các cơ sở nghiên cứu khoa học để đảm bảo các nghiên cứu do nhà nước tài trợ được tiến hành đúng phương pháp và xứng đáng.

Kinh nghiệm về các vụ gian lận khoa học trên thế giới cho thấy một nhà khoa học có thể lừa gạt nhiều người trong một lần, hay lừa gạt một người trong nhiều lần, nhưng không thể nào lường gạt nhiều người trong nhiều lần. Người có khả năng phát hiện các trường hợp gian lận không ai khác hơn chính là đồng nghiệp của nhà khoa học. Do đó, các cơ quan quản lí khoa học cũng cần một chính sách hay cơ chế bảo vệ an ninh cho các nhà khoa học dám công khai tố cáo các trường hợp gian lận khoa học. Cũng cần phải có cơ chế để điều tra tất cả các trường hợp gian lận sao cho công bằng cho phía bị tố cáo và phía tố cáo. Nhưng quan trọng hơn hết, các cơ quan nghiên cứu cần phải tạo ra một không gian và môi trường mà trong đó sự liêm chính được ghi nhận và các hành động vô nguyên tắc phải bị trừng trị.

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tốn kém. Nhà nước có trách nhiệm phải đảm bảo tiền bạc và tài nguyên của người dân đầu tư cho nghiên cứu khoa học phải được sử dụng một cách thích hợp và xứng đáng. Khoa học xây dựng và tồn tại dựa trên tinh thần chân thực và liêm chính. Vì thế, khoa học không thể nào dung túng tình trạng thiếu chân thực và vô liêm chính. Đảm bảo sự liêm chính và trung thực trong nghiên cứu là một bước quan trọng để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và nâng cao uy tín khoa học của nước nhà.

GS TS Nguyễn Văn Tuấn

Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, Australia