NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Giới thiệu Khái quát về Trung tâm nghiên cứu và phát triển ( R&D ) Khu Công nghệ cao TP.HCM

Khái quát về Trung tâm nghiên cứu và phát triển ( R&D ) Khu Công nghệ cao TP.HCM

1) Vị trí

Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Khu công nghệ cao TP.HCM ( Trung tâm R&D ) được thành lập ngày 8/03/2004 theo quyết định số 52/2004/QĐ-UB của UBND TP.HCM. Tổng số vốn đầu tư cho Trung tâm R&D là hơn 190 tỉ VNĐ từ ngân sách nhà nước và 4 tỉ VNĐ từ viện trợ của Tập đoàn Nidec (Nhật Bản).

Trung tâm nghiên cứu và phát triển ( R&D ) gồm 3 phòng thí nghiệm : Phòng thí nghiệm nghiên cứu vật liệu Nano ( Nano Technology Lab ), Phòng thí nghiệm công nghệ vi mạch bán dẫn ( Semiconductor Lab ), Phòng thí nghiệm cơ khí chính xác và tự động hóa ( Precision Mechanics and Automation Lab ).

2) Chức năng và nhiệm vụ

Trung tâm nghiên cứu và phát triển ( R&D ) là đơn vị sự nghiệp, trực thuộc Ban quản lý Khu Công nghệ cao, thực hiện việc nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và thực nghiệm các sản phẩm khoa học và công nghệ đã được nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới của thế giới vào trong nước.

Ba chức năng chính của Trung tâm nghiên cứu và phát triển ( R&D ) là nghiên cứu và triển khai các đề tài, dự án khoa học công nghệ; sản xuất vào kinh doanh; tham gia đào tạo nhân lực công nghệ cao.

Đối với chức năng nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu và phát triển ( R&D ) là nơi tổ chức hoạt động nghiên cứu triển khai các ngành công nghệ đã được xác định trong Khu công nghệ cao bao gồm : Công nghệ vật liệu mới, vật liệu nano và các ứng dụng trong công nghệ năng lượng mới , Công nghệ vi điện tử và quang – điện tử, cơ khí chính xác và tự động hóa; Công nghệ thông tin, truyền thông và công nghệ phần mềm tin học; Công nghệ sinh học phục vụ cho sức khỏe cộng đồng; và các lĩnh vực công nghệ cao theo từng thời kỳ phát triển của Khu công nghệ cao.

Đối với chức năng sản xuất kinh doanh, Trung tâm nghiên cứu và phát triển ( R&D ) là đầu mối hợp tác liên kết tìm ra thị trường kinh doanh các kết quả nghiên cứu và phát triển ( R&D ), các ứng dụng công nghệ với các doanh nghiệp trong và ngoài nước theo phương thức sản xuất sản phẩm công nghệ cao ở dạng thử nghiệm, qui mô nhỏ để thăm dò thị trường và chuyển giao cho các doanh nghiệp thực hiện. Bên cạnh đó, Trung tâm R&D còn tiến hành các hợp tác liên kết nghiên cứu khoa học công nghệ với các doanh nghiệp đặc biệt là các đầu mối ở nước ngoài nhằm theo kịp bước tiến và những nhu cầu mới của thị trường thế giới, bên cạnh các hợp tác nghiên cứu sản xuất các sản phẩm công nghệ cao với các doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, Trung tâm R&D còn thực hiện các đơn đặt hàng nghiên cứu, triển khai thử nghiệm sản phẩm các đề tài khoa học ứng dụng công nghệ cao từ các quốc gia tiên tiến. Đối với chức năng đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực công nghệ cao, Trung tâm R&D tham gia đào tạo đội ngũ chuyên viên khoa học và công nghệ qua thực tiễn triển khai nhằm phục vụ cho nghiên cứu, thiết kế, sản xuất của các ngành công nghệ cao, phục vụ cho ứng dụng ươm tạo, chuyển giao công nghệ, , các viện, trường, vườm ươm công nghệ, các tổ chức và cá nhân có nhu cầu; trước tiên là các nhà đầu tư trong Khu Công nghệ cao . Và quan trọng hơn cả là thu hút, tập hợp lực lượng cán bộ chuyên viên khoa học trong nước và nước ngoài bằng các phương thức thích hợp để nghiên cứu và triển khai các chương trình, dự án, đề tài khoa học và công nghệ theo nhu cầu thị trường.

Hoạt động đào tạo tại phòng thí nghiệm Nano

Với ba chức năng đã nêu trên thì nhiệm vụ chính và trước mắt của Trung tâm nghiên cứu và phát triển ( R&D ) là khai thác, sử dụng các thiết bị hiện đại và tiến hành các hoạt động nghiên cứu, triển khai tại các phòng thí nghiệm một cách hiệu quả. Làm tốt nhiệm vụ này, Trung tâm R&D sẽ là nơi tiếp thu công nghệ quốc tế cao nhất và mới nhất, sáng tạo công nghệ nguồn, đào tạo nội lực, chuyển giao công nghệ và tạo giá trị gia tăng cho tài nguyên quốc gia.

3) Cơ sở vật chất và chức năng của các Phòng thí nghiệm

1.1. Phòng sạch ( Cleanroom ) dùng cho các thí nghiệm chế tạo linh kiện vi cơ điện tử của cả hai phòng thí nghiệm nano và bán dẫn

1.1.1. Cơ sở vật chất

Với diện tích 600 m2, Phòng sạch bao gồm 2 khu vực : khu vực 60 m2 cấp độ sạch 100 ( 100 hạt bụi trong 1 ft3 ) dùng cho quy trình quang khắc ( photolithography ) và khu vực 540 m2 cấp độ sạch 10.000 (10.000 hạt bụi trong 1ft3) dùng cho các quy trình gia công linh kiện vi cơ điện tử như đo đạc bề dày, bề sâu từ các quy trình khắc ướt, khắc khô, làm sạch wafer bằng dung môi hay bằng plasma ( descum process ). Khu vực này còn dùng để chế tạo chip ( die cutting ) từ các wafer mẹ, khảo sát đặc tính của linh kiện trên wafer hoặc trên chip như đo đạt cường độ phát sáng và phổ phát sáng, độ linh động ( mobility ) của điện tử và lỗ trống của vật liệu phát sáng.

Khu vực phòng sạch có nhiệt độ, độ ẩm, áp suất, vận tốc khí, độ rung và ánh sáng ổn định và đạt tiêu chuẩn quốc tế NEBB Standard ( Standards for certified Testing of Cleanrooms, 2nd edition 1996, FED-STD-209 ( EAirborne Particulate Cleanliness Classes in Cleanrooms and Clean Zones ), và ISO14644. Ngoài ra, phòng sạch được thiết kế có : (1) hệ thống chống thấm, chống rung, chống tĩnh điện ( < 1W ), các hệ thống vách ngăn, cửa sổ và toàn bộ hệ thống sàn nâng đạt chuẩn quốc tế; (2) hệ thống phụ trợ kỹ thuật ; (3) hệ thống xử lý nước thải, hệ thống làm mát nước, hệ thống cấp khí nén khô, hệ thống hút chân không; (4) hệ thống ra vào được kiểm sortftát bằng thẻ từ ; và (5) hệ thống dự trữ điện gồm 1 UPS có khả năng giữ nguồn điện trong 15 phút khi có sự cố trong khi chờ đợi 02 nguồn điện dự phòng là máy phát điện 200 KVA và 1000 KVA hoạt động ổn định. Tổng giá trị đầu tư của Phòng sạch tại Khu Công nghệ cao là 37.074.000.000 VNĐ.

Nhà thầu thiết kế, cung cấp, lắp đặt và vận hành phòng sạch cho 02 Phòng sạch của Khu Công nghệ cao là liên danh Công ty TNHH TM-DV-KT T.S.T và Công ty Chengdu EDRI Engineering Co., Ltd. Khách hàng của Công ty Chengdu EDRI Engineering Co., Ltd là các công ty và tập đoàn công nghệ cao trong và ngoài Trung Quốc như Motorola, Intel, IBM, Lenovo, Changhong… Các thiết bị và vật tư thực hiện phòng sạch được nhập khẩu 100% từ nước ngoài, chủ yếu từ Trung Quốc, trong đó có một số thiết bị quan trọng, có giá trị lớn được nhập khẩu từ Mỹ ( hệ thống điều khiển tự động, hệ thống cảnh báo khí đặc biệt… )

1.1.2. Chức năng

Phòng thí nghiệm công nghệ nano và vi mạch bán dẫn có chức năng nghiên cứu và chế tạo ra sản phẩm mẫu các loại linh kiện bán dẫn như MEMS chip, linh kiện LED, solar cell công suất cao và khu vực 540 m2 class 10000 là nơi bố trí các thiết bị chế tạo LED và solar cell như máy MOCVD, có trị giá 1,6 triệu đô la Mỹ và l thiết bị chế tạo vật liệu bán dẫn phát sáng duy nhất tại Việt Nam.

Như vậy, xét trên tiêu chí để phân loại phòng sạch như phân loại theo xây dựng : lắp ghép, hoặc tường mềm; phân loại theo cấp độ sạch; phân loại theo sự vận động của dòng khí: dòng khí đơn luồng hay đa luồng, hay dòng khí vận động hỗn hợp; phân loại theo áp lực khí; phân loại phòng sạch theo ứng dụng của phòng sạch…thì phòng sạch tại Khu công nghệ cao đạt chuẩn quốc tế công nghiệp theo ứng dụng của ngành công nghệ vi mạch bán dẫn và công nghệ nano. Việc thiết kế phòng sạch được thẩm định và cấp chứng chỉ thẩm định đạt các tiêu chuẩn quốc tế bởi một tổ chức quốc tế chuyên nghiệp - Công ty thẩm định quốc tế SGS ( Đài loan ).

1.2. Phòng thí nghiệm nghiên cứu vật liệu Nano ( Phòng thí nghiệm Nano )

1.2.1. Cơ sở vật chất

Phòng thí nghiệm nghiên cứu vật liệu nano bao gồm hệ thống 7 phòng thí nghiệm, được bố trí theo từng chức năng và thiết bị tương ứng. Phòng thí nghiệm nghiên cứu vật liệu nano có 25 thiết bị. Ngoài các hệ thống hóa phân tích, thiết bị tập trung vào các hệ thống máy đo hiện đại, phục vụ cho việc nghiên cứu vật liệu nano, thiết bị có giá trị lớn nhất của phòng thí nghiệm nghiên cứu vật liệu nano là thiết bị FESEM S4800 của Hitachi Hi-tech (Nhật) có giá trị khoảng 500.000 USD. Các thiết bị khi mua được tiến hành kiểm định tại nhà sản xuất và tại công trường 1 cách chặt chẽ, đảm bảo chất lượng và tính hiện đại của toàn bộ thiết bị phòng thí nghiệm này.

1.2.2. Chức năng

Nghiên cứu và chế tạo các linh kiện, hạt thể có kích thước Nano như carbon nano tube, than nano lỏng, pin nhiên liệu. Đây cũng được xem là phòng thí nghiệm hiện đại nhất Việt Nam về nghiên cứu vật liệu Nano cho đến thời điểm hiện nay.

1.3. Phòng thí nghiệm cơ khí chính xác và tự động hóa

1.3.1. Cơ sở vật chất

Phòng thí nghiệm cơ khí chính xác và tự động hóa được các đối tác tài trợ các máy móc thiết bị gia công, đo lượng hiện đại với trị giá hơn 300 ngàn USD gốm nhiều máy công nghệ cao độ chính xác cao, thiết bị hàn cắt, trang bị lắp ráp bản mạch điện tử,..đã đi vào hoạt động, phục vụ các đề tài nghiên cứu chế tạo vi mạch bán dẫn. Ngoài 4 máy công nghệ cao do Tập đoàn Nidec tài trợ, Phòng thí nghiệm cơ khí chính xác và tự động hóa tiếp tục bổ sung, hình thành Trung tâm gia công ( Work Station ) theo tiêu chuẩn cao nhất của sản xuất linh họat, nhằm chế tạo ra các khuôn mẫu chính xác cao, các thiết bị bao gói LED, solar cells,...

1.3.2. Chức năng

Nghiên cứu thiết kế và triển khai chế tạo, thử nghiệm các thiết bị, chế tạo vi mạch, các hệ thống tự động hóa , robot công nghiệp. Gia công chính xác chi tiết máy, các cụm thiết bị độ chính xác cao cho ngành chế tạo máy bay, thiết bị điều khiển siêu chính xác,..

Năng lực nghiên cứu và vai trò của các Phòng thí nghiệm Trung tâm nghiên cứu và phát triển ( R&D )

Hãy nghe TS Nguyễn Chánh Khê - Giám đốc khoa học Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Khu Công nghệ cao TP.HCM nói về khả năng hợp tác trong việc khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất của các Phòng thí nghiệm.

1) Vai trò

Trong chuyến viếng thăm và làm việc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Khu Công nghệ cao năm 2007, Thủ tướng đã nhắc nhở: “Phát triển công nghiệp công nghệ cao cần phải đưa kinh nghiệm của thế giới vào, nghiên cứu phát triển, học hỏi và ươm tạo, đào tạo cho mình. Không chỉ mời người ta vào sản xuất”. Điều này được thể hiện qua mục tiêu chiến lược của Khu Công nghệ cao : “Đến năm 2020 Khu Công nghệ cao là nơi tập trung lực lượng sản xuất hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu phát triển, cung cấp dịch vụ và sản xuất công nghệ cao và trở thành một không gian tri thức lý tưởng làm hạt nhân cho 1 khu đô thị Khoa Học Công Nghệ trong tương lai gần của thành phố Hồ Chí Minh.”

Là một trong hai khu công nghệ cao của cả nước và được đánh giá là một trong 5 chương trình trọng điểm mang tính đòn bẩy cho kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm của thành phố Hồ Chí Minh ( 2006 - 2010 ), nét khác biệt cơ bản giữa Khu Công nghệ cao và các Khu chế xuất, Khu công nghiệp trên cả nước là việc đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao, phát triển hoạt động R&D, ươm tạo doanh nghiệp Công nghệ cao, trong đó Trung tâm R&D là một mắc xích quan trọng của quá trình này. Trung tâm R&D trở thành cầu nối hấp dẫn và trực tiếp trong việc mời gọi lực lượng Việt kiều là những nhà khoa học, các chuyên gia kỹ thuật viên đầu ngành trên thế giới …làm việc trong các phòng thí nghiệm của các tập đoàn, các công ty đa quốc gia sản xuất Công nghệ cao, các viện nghiên cứu, trường đại học trên thế giới, trở về đất nước để đưa những kiến thức, kinh nghiệm công nghệ và doanh nghiệp công nghệ cao của mình vào những nghiên cứu sáng tạo khoa học trong nước và góp phần đưa nền công nghệ Việt Nam tiến kịp cùng các nước tiên tiến.

Trải qua 6 năm hình thành và phát triển, Khu Công nghệ cao đã ngày càng khẳng định được quan điểm và chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong định hướng phát triển của một khu kinh tế công nghệ cao tại TP.HCM, góp phần đẩy mạnh việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và thúc đẩy sự phát triển của nền công nghiệp công nghệ cao nội sinh qua việc tiếp cận các ngành công nghệ nguồn tiên tiến hàng đầu trên thế giới. Cơ sở vật chất tương đối hoàn thiện và đội ngủ nghiên cứu có năng lực tại Trung tâm R&D là điểm sáng trong quá trình hình thành và phát triển của Khu Công nghệ cao. Đó là điều kiện tiên quyết để Khu Công nghệ cao trở thành một trung tâm khoa học công nghệ đầu đàn trên cả nước và khu vực thông qua phát huy nguồn lực nội sinh. Các sản phẩm công nghệ cao được nghiên cứu, chế tạo tại Khu Công nghệ cao và đưa ra thị trường trong tương lai sẽ góp phần đẩy mạnh sự phát triển của công nghệ cao tại Việt Nam và xây dựng nền tảng cho ngành công nghệ cao nước nhà theo chủ trương “đi tắt đón đầu” do Chính phủ và Lãnh đạo thành phố đề ra.

2) Năng lực nghiên cứu của các phòng thí nghiệm

Năng lực nghiên cứu của SHTP LABS được xác định bởi 4 yếu tố sau : cơ sở vật chất, thiết bị nghiên cứu và chức năng của các phòng thí nghiệm; các chuyên gia khoa học có năng lực và đội ngũ cán bộ trẻ trực tiếp làm công tác nghiên cứu; những thành quả nghiên cứu đạt được bước đầu; và mô hình hoạt động để hiện thực hoá quá trình đưa sản phẩm nghiên cứu đưa ra thị trường. Trong các yếu này, nhân tố con người đóng vai trò quan trọng nhất. Bởi vì, sự chuẩn bị về mặt con người, là điều kiện cơ bản để Chính phủ và Lãnh đạo thành phố quyết định đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm tại Trung tâm R&D thuộc Khu Công nghệ cao.

Hiện nay, đội ngủ cán bộ nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm bao gồm 5 tiến sĩ ( các chuyên gia Việt kiều ), 24 kỹ sư được đào tạo từ các trường Đại Học danh tiếng tại thành phố và cả nước. Với nhiều tâm huyết và kinh nghiệm trên các lĩnh vực công nghệ vật liệu Nano, công nghệ vi mạch bán dẫn; cơ khí chính xác và tự động hoá, các chuyên gia khoa học đầu ngành – hiện là giám đốc hoặc là người được phân công phụ trách tại các phòng thí nghiệm- đã và đang trực tiếp lãnh đạo, hướng dẫn đội ngủ cán bộ khoa học trẻ thực hiện các đề tài nghiên cứu, và giữ vai trò tham mưu trong việc chọn lựa thiết bị hiện đại và đồng bộ cho các phòng thí nghiệm. Nhờ vậy, trước hết là Phòng thí nghiệm Nano và sau đó là Phòng thí nghiệm cơ khí chính xác và tự động hóa hiện có rất nhiều đề tài được sự quan tâm và hợp tác của các nhà đầu tư và các tập đoàn đa quốc gia cũng như các bộ ngành trong nước và mở ra cơ hội hợp tác giữa Trung tâm R&D với các đối tác trong và ngoài nước.

Các đề tài và dự án hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước thực hiện sắp tới tại Trung tâm R&D cũng là những bằng chứng cụ thể nhất về khả năng nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm. Những thành quả đạt được về nghiên than nano lỏng, carbon nano tube từ nguồn tài nguyên quốc gia, công nghệ chuẩn đoán bệnh từ nano từ được công nhận bởi cộng đồng khoa học quốc tế, và các dự án, đề tài đã, đang và sẽ thực hiện tại Trung tâm R&D là những điểm mấu chốt để “tạo ra năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ, nghiên cứu khoa học công nghệ lấy thị trường làm mục tiêu và đối tượng phục vụ”. Định hướng chiến lược của Trung tâm R&D trong thời gian sắp tới là nghiên cứu các công nghệ năng lượng nhằm giải quyết nhu cầu sử dụng năng lượng hữu hiệu ( Energy efficiency ) ví dụ như công nghệ đèn LED màu, đèn LED trắng thật sáng ( >100 lumens/watt tại mật độ dòng 250 mA ), hoặc những nguồn năng lượng sạch ( Clean tech ), ví dụ như pin thay xăng, pin nước ( fuel cell ) nhằm thay thế các nguồn năng lượng từ hóa dầu vốn tạo ra nhiều ô nhiễm môi trường.

Đối với Phòng thí nghiệm Nano :

1. Dự án mực in nano cho my in offset bằng kỷ thuật số ( Digital Offset ) hợp tác với Công ty Bút bi Thiên Long . In offset với kỷ thuật số là một bước ngoặt quan trọng trong công nghệ in phun ( theo báo cáo và triễn lãm về ngành in công nghiệp kỷ thuật số ở hội chợ quốc tế Druppa tổ chức vào tháng 5, 2008 vừa qua ). Máy in phun sẽ không chỉ dùng trong văn phòng và để trên bàn nữa mà là một máy in khổng lồ có diện tích sàn lớn đến gần 50 m2, có khả năng in khổ Ao với tốc độ 400 trang/phút . Các máy in này sẽ tiêu thụ một lượng mực in phun khổng lồ cả trăm tấn/tháng mà hiện nay Thiên long đang nhắm vào thị trường này hơn là mực chỉ bán lẽ cho những chổ nạp mực nhỏ nhoi và ít ỏi cho các máy in phun để bàn . Những công ty in ấn lớn đang tham gia vào họat động nghiên cứu triễn khai cho công nghệ này gồm có Eastman Kodak, HP, Canon, Epson, Minolta-Konica , Xerox , … Hiện nay mực in đã được sản xuất thành công tại Khu Công Nghiệp Tân Tạo .

2. Hợp đồng hợp tác sản xuất đầu dị kính hiển vi điện tử AFM dùng carbon nano tube với Trung tâm khơng gian Hoa Kỳ Nasa qua Cơng ty 4 Wind Tech và Một Thống Việt Nam, đã thành công bước đầu trong việc sãn xuất carbon nano tube tip và chuẩn bị đưa lô hàng đầu tiên vào thị trường Mỹ .

3. Dự án nghiên cứu, sản xuất điện cực trong cho pin mặt trời sử dụng phức chất của carbon nano tube thương mại hoá sản phẩm tại Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản với Công ty IQCT ( Hà Nội ) , kết hợp với 4 Wind Tech ( NASA ).

4. Dự án nghiên cứu, triển khai carbon nano tube phát sáng với Công ty 4 Wind và Nano Xanh Green Nano ), trị giá 10 triệu USD.

5. Dự án sản xuất đèn LED và Pin mặt trời công suất 50% với Công ty Quanlight và Công ty Green Nano, trị giá 6,7 triệu USD

Đối với Phòng thí nghiệm cơ khí chính xác và tự động hóa, một số hợp đồng đang tiến hành như :

1. Thiết kế và chế tạo máy khắc và tạo màng ( etching và deposition ) cho dây chuyền chế tạo solar cell.

2. Nghiên cứu, thiết kế chế tạo hệ thống thông gió tự động cho Phòng thí nghiệm Sinh Hóa - Đại học Khoa học Tự nhiên.

3. Nghiên cứu chế tạo hệ thống tự động hóa nhập và xuất kho ( Automatic Storage and Retrieval System - AS/RS ). Đây là đề tài nghiên cứu cấp nhà nước nhằm phục vụ các dây chuyền lắp ráp thiết bị công nghiệp FMS, có thể nhân rộng ứng dụng cho việc nhập/xuất hàng tự động các chuỗi siêu thị lớn, các dây chuyền chuyển phát nhanh bưu kiện, các thư viện hiện đại, các khu đỗ, chứa xe ôtô tự động….Với tổng kinh phí dự kiến à 4.5 tỉ, đề tài sẽ được triển khai thực hiện trong năm 2009.

Cuối cùng, mô hình hoạt động được xác định cụ thể tại Trung tâm R&D sẽ giúp các hoạt động nghiên cứu tại đây trở nên khả thi hơn bởi không thể không tính đến kinh phí nghiên cứu và cơ chế, chính sách thu hút và giữ chân cán bộ khoa học. Mô hình này gồm 3 thành phần: Nhà cung cấp công nghệ, Nhà cung cấp thiết bị, con người, và Nhà đầu tư. Trong đó, Trung tâm R&D giữ 2 vai trò : cung cấp công nghệ và con người nghiên cứu. Nhà đầu tư đóng vai trò góp vốn đầu tư và tìm đầu ra cho sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước. Chẳng hạn, đối với dự án hợp tác với Công ty Bút bi Thiên Long, Trung tâm R&D là nhà cung cấp công nghệ, còn Công ty Bút bi Thiên Long là nhà đầu tư. Mục tiêu của việc hợp tác là: khai thác được các thiết bị đã đầu tư, đào tạo được nội lực, chia xẻ kinh phí vận hành và bảo hành, chia xẻ lợi nhuận theo phương thức công bằng, thiết lập thương hiệu.

Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh - Saigon Hi-Tech Park

86 Lê Thánh Tôn, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Điện thoại: (84.8) 8275359 - Fax: (84.8) 8275641

Email : shtp@hochiminhcity.gov.vn

Trang Web : http://www.shtp.hochiminhcity.gov.vn