NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Giúp đất nước là trách nhiệm của mỗi người con Việt

TS Nguyễn Trọng Bình ( Việt kiều Mỹ, VDNV 2005 ): Khắc phục khó khăn để giúp công nghệ sinh học VN bay lên

Nhờ giải Vinh danh nước Việt, chúng tôi có một danh sách của các nhân vật VDNV năm 2005 và chúng tôi thỉnh thoảng vẫn liên lạc thăm hỏi, trao đổi thông tin với nhau. Hy vọng các nhân vật được vinh danh hai năm trước và 17 nhân vật được vinh danh lần này sẽ nối vòng tay lớn chung sức hướng về đất nước và giúp Việt Nam bay lên. Trong lúc làm nghiên cứu, có khi chúng tôi có được những kết quả rất tốt; có thể nói đây là những phát minh mới của VN. Tuy nhiên những phát minh này không được đăng ký bản quyền cho VN hoặc nghiên cứu ứng dụng sản xuất đại trà để đưa vào sản xuất thành phẩm. Có lẽ vì những chuyện này không được cơ quan quản lý quan tâm đúng mức để đưa vào sản xuất đại trà, hoặc đăng ký bản quyền cho VN. Vì đăng ký bản quyền là một điều còn mới mẻ với nhiều người làm khoa học ở VN và quá tốn kém trong khi ngân sách nghiên cứu và tiền lương người làm nghiên cứu không đủ sống. Về phần nghiên cứu ứng dụng khoa học cũng ít được quan tâm! Có lẽ vì chế độ quản lý nghiên cứu duy hình thức do đó các nhà nghiên cứu muốn lấy được ngân sách dành cho nghiên cứu thường phải đưa đề án nghiên cứu với những vấn đề mang tính "đẳng cấp quốc tế". Hiện nay cơ chế tuy cởi mở hơn trước rất nhiều nhưng chưa có một hình thức, cơ cấu nào để trí thức hải ngoại về đóng góp, làm việc, những thành tựu chính hiện nay phần lớn là do những nỗ lực cá nhân của trí thức hải ngoại vượt qua những khó khăn và đã đóng góp như chúng ta đang thấy. Thêm vào đó sự e dè trong thảo luận hoặc đối đáp trong những liên lạc nghiên cứu khoa học của phần lớn trí thức trong nước cũng là một trở ngại trong khi làm việc chung. Những khó khăn nhất thời này cần khắc phục sớm để giúp khoa học công nghệ VN bay lên.

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng ( Giáo sư danh dự trường ĐH Liège, Bỉ - VDNV 2004 ) : Làm gì cho đất nước là nỗi trăn trở triền miên của tôi.

Tôi vinh dự nhận giải Vinh danh nước Việt đợt đầu tiên, đó cũng là niềm vinh dự to lớn đối với cá nhân tôi nhưng làm gì cho đất nước luôn luôn là nỗi trăn trở triền miên, là hoài bão ấp ủ từ lâu của tôi. Đây là tâm tư nguyện vọng xuất phát từ thân phận một người Việt Nam tuy xa xứ nhưng đã bị nhiều chi phối bởi cuộc chiến thảm khốc đã xảy ra trên đất nước mình, thân phận của một công dân trước vận mệnh không may của tổ quốc. Từ năm 2004 đến nay, tôi vẫn cùng các học trò của mình tại Bỉ và Việt Nam đã thực hiện thêm được 15 công trình khoa học (trong tổng số trên 200) được đăng tải trên các báo chí khoa học quốc tế. Tôi cũng có thêm 12 công bố khoa học tại các Hội thảo quốc tế và Việt Nam về ngành chuyên môn của tôi. Tôi cũng viết thêm nhiều bài báo trên các diển đàn quốc nội và tham gia 3 tuyển tập thơ ca xuất bản tại Hoa kỳ. Tôi cũng tiếp tục đi thỉnh giảng tại Việt Nam mỗi năm 4 lần và liên tục điều hành, quản lý hai trung tăm Cao học Bỉ-Việt tại các ĐH Bách khoa Hà Nội và TP HCM.

Có lẽ việc đáng chú ý nhất là tham gia vận động thành lập Câu lạc bộ Khoa học Kỹ thuật Việt kiều TP.HCM (OVS-Club) trong suốt năm 2005, góp phần ra mắt tổ chức này, một tổ chức dân sự đầu tiên tại Việt Nam cho phép sự tham gia trực tiếp và chánh thức của người Việt định cư ở nước ngoài. Ngoài ra, cũng nên nhắc đến việc đề xướng và thực hiện dự án chống sạt lở bờ biển tại Bình Thuận, góp phần cùng ĐH Thủy lợi Hà Nội và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Thuận xây dựng tại Mũi Né một trạm đo đạc các dữ kiện thiên nhiên ven bờ biển (sóng, gió, dòng nước..) rất cần thiết cho việc xây dựng các công trình bảo vệ bờ biển và bãi biển của vùng đất du lịch này. Một buổi lễ khánh thành công trình qui mô này sẽ được tổ chức tại Bình Thuận trong những tháng sắp đến. Giải Vinh danh nước Việt giúp tôi may mắn được quen biết thêm nhiều trí thức, nhân sỹ Việt kiều khắp năm châu. Có người sau này đã cùng chúng tôi gắn bó trong việc thành lập Câu lạc bộ Khoa học Kỹ thuật Việt kiều như anh Vũ Giản đã trở thành thành viên tích cực tại Thụy Sỹ và anh Bùi Kiến Thành đã trở thành một trong những Phó Chủ nhiệm của ban điều hành lâm thời.

Tuy đã nghỉ hưu, nhưng làm việc là nỗi đam mê lớn nhất của tôi, tôi cũng vừa khởi xướng xây dựng một phòng đào tạo và nghiên cứu về các phần mềm mô phỏng và thiết kế sự vận hành trong không gian 3 chiều của những sản phẩm công nghệ cơ khí và xây dựng với sự ủng hộ tích cực của công ty Dassault Systèmes, nhà sản xuất phần mềm nổi tiếng CATIA, rất phổ biến trong công nghệ chế tạo xe hơi, máy bay và tàu thủy. Phòng đào tạo này sẽ gắn liền với văn phòng Cao học Bỉ &Việt tại ĐH Bách khoa TP Hồ Chí Minh. Ngày khánh thành đã được dự kiến trong tháng 07/2007. Ngoài ra để góp phần vào việc xây dựng kinh tế công nghệ cao tại Việt Nam, tôi đã cùng với các đối tác Đức thành lập công ty “Hưng Việt Technology International, HVTI” từ đầu năm 2006. Công ty đã cất cánh vững chắc và số kỹ sư nhân viên nay đã lên đến 15 người.

TS Nguyễn Quốc Bình (Phó giám đốc Trung Tâm Công Nghệ Sinh Học TP.HCM – VDNV 2005): Tôi thấy mình phải có trách nhiệm nhiều hơn

Tôi về làm việc tại Trung tâm Công nghệ sinh học TP.HCM đã được 2 năm với cương vị phó giám đốc. Khi nhận công tác, Trung tâm Công nghệ sinh học TPHCM (CNSH) mới chỉ có Tiến sĩ Dương Hoa Xô làm giám đốc Trung Tâm và tôi. Công việc chính của chúng tôi là xây dựng và trình cho UBND TP HCM một mô hình về Trung tâm Công Nghệ Sinh Học trực thuộc Uỷ ban Nhân dân thành phố, có vai trò của một đơn vị trung tâm về cơ sở vật chất và năng lực cán bộ, giúp cho nền Công nghệ Sinh học của vùng phía Nam phát triển. Trung tâm có chức năng nghiên cứu trên cả ba lĩnh vực chính của Công Nghệ Sinh Học là Nông nghiệp, Y tế, Môi trường. Chủ yếu là nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và sản xuất kinh doanh những mặt hàng Công Nghệ Sinh Học chiến lược như vaccine, dược sinh học…Mặt khác, nhiệm vụ được giao là sau một thời gian hoạt động Trung Tâm có thể tự chủ được kinh tế, không phụ thuộc vào nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Tham khảo mô hình của một số viện Công Nghệ Sinh Học trên thế giới, mô hình của trung tâm Công Nghệ Sinh Học được phác thảo. Đó là một TT nghiên cứu ứng dụng bao gồm các phân khu nghiên cứu trên cả ba lĩnh vực với 16 phòng thí nghiệm chủ chốt. Ngoài phân khu nghiên cứu còn có phân khu đào tạo, một phân khu đào tạo chuyên ngành sau đại học, khu hợp tác quốc tế, khu sản xuất đóng gói khép kín hoàn thiện vaccin thế hệ mới (vaccine –protein tái tổ hợp), phân khu nuôi động vật thử nghiệm với mức độ an toàn sinh học cấp ba, phân khu thử nghiệm lâm sàng và các phân khu phụ khác… Mô hình đã được các nhà khoa học trong nước (làm việc tại TP HCM) đánh giá cao thông qua cuộc họp do Sở Kế hoạch - Đầu tư chủ trì. Mô hình cũng đã được trình bày trước nhiều chuyên gia Công Nghệ Sinh Học quốc tế. Họ đánh giá sự ra đời của Trung Tâm Công Nghệ Sinh Học TP HCM là cần thiết và đây sẽ là nơi tiếp đón các hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Công Nghệ Sinh Học của TP.HCM. Đây là một công việc đầy khó khăn khi phải xây dựng được một trung tâm Công Nghệ Sinh Học hoạt động có hiệu quả về mặt kinh tế cho cả vùng phía Nam và cho chính Trung Tâm. Hơn nữa, Trung Tâm cũng phải không bị lạc hậu so với thế giới sau nhiều năm. Kinh phí đầu tư cho một Trung Tâm như vậy không dưới 100 triệu USD… Kế hoạch xây dựng Trung Tâm đã được thành phố chấp thuận về nguyên tắc.

Từ sau khi tôi vinh dự được trao tặng danh hiệu “Vinh danh nước việt 2005” đến nay, tôi thấy mình phải có trách nhiệm nhiều hơn. Trước khi về làm việc tại TPHCM, tôi có một thời gian dài làm việc ở nước ngoài, nghiên cứu và giảng dạy sau đại học là chính. Khi về nước, việc nghiên cứu ứng dụng phải được cân nhắc kỹ lưỡng hơn nhiều, dựa vào nhu cầu thực tế của nền kinh tế VN, nhất là của các tỉnh phía Nam. Cũng nhờ danh hiệu cao quý này, tôi được nhiều người biết đến hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp xúc với các đồng nghiệp hay đối tác. Thông qua Câu lạc bộ KHKT Việt kiều, chúng tôi đã bắt đầu có những liên lạc từ các đồng nghiệp người Việt ở nước ngoài. Cụ thể đã có hai người muốn trở về làm việc bán thời gian ở Trung Tâm. Thành phố đã chấp nhận trên nguyên tắc một người với điều kiện làm việc ưu đãi. Khá nhiều dự án hợp tác nghiên cứu với các đồng nghiệp ở nước ngoài (người Việt Nam và người nước ngoài) đã được thiết lập thông qua câu lạc bộ. Ví dụ như dự án trồng thông đỏ sản xuất thuốc trị ung thư của nhóm giáo sư từ Pháp về, dự án sản xuất thuốc Interferon hay insulin cũng đang được triển khai… Bước đầu chúng tôi đã có được sự hỗ trợ của các đồng nghiệp cùng được “vinh danh” năm ngoái song thiếu kinh phí hỗ trợ làm cho việc hợp lực chưa phát huy được hiệu quả…

Bác sĩ Bùi Minh Đức (Việt kiều Mỹ - VDNV 2005): Phải nâng cao đời sống của người dân trong nước.

Mặc dù bận rộn với khá nhiều công việc chuyên môn ở Mỹ nhưng với trách nhiệm là một người con Việt và là người đã được chính bà con trong nước vinh danh, tôi đã cố gắng cùng các đồng nghiệp trong nước tìm cách nâng cao khả năng khám chữa bệnh bằng các phương pháp mới, hiện đại. Tháng 10.2006, tôi cùng một phái đoàn gồm 7 giáo sư Hoa Kỳ về giảng dạy tại TP.HCM và một đoàn gồm 4 giáo sư khác về làm việc tại Hà Nội. Đây là những giáo sư hàng đầu của Hoa Kỳ về Thẩm mỹ và tái tạo mắt. Tháng 03.2007 này, chúng tôi sắp đặt trước để đoàn phẫu thuật não bộ và thần kinh của Đại học Stanford ở California về giúp cho bộ môn này ở Đại học Y Huế. Trước đó họ cũng đã gởi về nước một container dụng cụ và trang thiết bị y khoa để giúp cho trường. Ngoài ra, tháng 08.2007 này, chúng tôi cũng về nước giúp Việt Nam chủ trì hội nghị quốc tế Tai-mũi -họng vùng Đông Nam Á.

Nỗi lo hàng đầu của tôi là làm sao để nâng cao đời sống của ngừơi dân trong nước, làm sao để chăm lo sức khoẻ tốt nhất cho người dân, chữa trị tốt nhất, nhất là các bệnh về tai mũi họng. Muốn thế đội ngũ bác sĩ trong nước phải không ngừng nâng cao tay nghề, chúng tôi sẽ cố gắng kết nối để giới thiệu các giáo sư, bác sĩ giỏi, hàng đầu cùng các phương tiện hiện đại về giúp Việt Nam.

Tuổi đời tôi cũng đã lớn nhưng nghị lực và đam mê, nhiệt huyết giúp đỡ cho quê nhà lúc nào cũng tràn đầy. Tôi cũng rất tin tưởng vào các bác sĩ trẻ ngành tai mũi họng trong nước. Bạn bè đồng nghiệp trong nước cần trao đổi thêm về chuyên môn nghiệp vụ, xin hãy liên lạc với tôi: BS Bui Minh Duc, ducmbui@yahoo.com

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành ( Việt kiều Mỹ - VDNV năm 2004 ): Làm gì để trả nợ non sống đất nước ?

Từ trước đến nay, dù ở cương vị nào, phương trời nào tôi vẫn trăn trở tự nhủ mình có thể làm gì để trả nợ cho non sông đất nước, trả nợ áo cơm của đồng bào đã nuôi dưỡng tôi từ lúc sơ sinh. Tôi luôn mang trong tâm trí hình ảnh được hàng xóm láng giềng, ông bà nội ngoại, chú bác cô dì... dùm bọc nâng niu mình trong tình thương vô tận. Và từ ngày nhận giải VDNV tôi càng cảm thấy day dứt hơn, lòng thương nổi nhớ đối với đất nước quê hương cũng tràn đầy hơn. Điều đó hối thúc tôi luôn cố gắng đem hết sức mình đóng góp vào những gì có thể, để đất nước vươn lên, để dân tộc được độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Trong những năm qua, tôi cũng làm được một số việc tương đối tích cực. Về phương diện tinh thần, đáng kể nhất là góp ý vào chính sách đổi mới, phát huy "Thời cơ Vàng", và điểm cao là cuộc "Bàn tròn trực tuyến" trên Vietnamnet ngày 09/02/2006. Một số ý kiến đã được lãnh đạo Đảng lắng nghe và phản ánh trong văn bản Nghị quyết của Đại hội X về phát huy dân chủ và xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc.

Từ đó đến nay có những sự kiện lịch sử quan trọng liên tiếp đến với đất nước, như việc Việt Nam gia nhập WTO và Việt Nam tổ chức thành công hội nghị APEC. Mỗi chặng đường đều có những vấn đề cần phải được suy nghĩ làm rõ. Phận sự của người có chút kinh nghiệm là tư vấn và cảnh báo cho lãnh đạo Đảng và Nhà nước về những cơ hội cũng như những thách thức, nguy cơ trước mắt và trong lâu dài.

Về các dự án phát triển, trọng tâm là hợp tác với Cục Hàng hải "đánh thức giấc mơ Vân Phong - Tầm nhìn thế kỷ", một khu kinh tế mở với diện tích 1.500 km2, gồm có một cảng trung chuyển quốc tế và các khu đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch, các khu đa chức năng trong địa phận tỉnh Khánh Hòa, cách Nha Trang 50 km về hướng Bắc.

Ngoài ra, trong những năm qua tôi cũng đã thu xếp được một số dự án hiện đang triển khai, ví dụ như hợp đồng thăm dò và khai thác một khu dầu khí tại khu vực Phú Khánh, cách Nha Trang khoảng 300 km trên thềm lục địa. Nhưng việc trọng đại trước mắt là trong lĩnh vực tài chính. Việt Nam trong thời kỳ hội nhập thế giới cần một số lượng tài chính rất lớn. Về các dự án đầu tư trực tiếp của chính phủ và các doanh nghiệp, tổng số là không dưới 200 tỷ USD cho 5 năm tới. Về lĩnh vực đầu tư gián tiếp, mua bán cổ phần trên thị trường chứng khoán, và nhất là để thực hiện chính sách cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, số lượng vốn cần huy động cũng sẽ không dưới 200 tỷ USD. Trong khi đó số lượng tiết kiệm nội địa được ước tính khoảng từ 50 đến 100 tỷ USD.

Xuất phát từ điểm này, tôi đã cùng với một số nhà doanh nghiệp Việt Nam thành lập một tổ chức tài chính, bắt đầu bằng một “Công ty Quản lý Quỹ đầu tư” để huy động những số vốn lớn từ nước ngoài, mà do ta quản lý. Dự kiến từ nay đến năm 2010 sẽ huy động được tối thiểu là 10 tỷ USD, và đến năm 2020 sẽ phải huy động được một phần lớn của số 200-300 tỷ USD nói trên. Để thực hiện được việc này, sự hợp tác giửa nhà nước và tư nhân, giữa các chuyên gia trong nước và Việt kiều khắp nơi là cần thiết. Đồng thời sẽ sử dụng đến mức tối ưu lực lượng chuyên gia nước ngoài.

Những điều tôi trăn trở là khả năng tập hợp tài năng, trí tuệ, bản lĩnh của hơn 80 triệu người trong nước với 3 triệu kiều bào. Nhà nước đã có những Nghị quyết về việc đối xử với bà con ở nước ngoài, nhưng trên thực tế chính sách đối với kiều bào vẫn chỉ là những biện pháp tình thế không thu hút được nhiệt tình của bà con. Nhà nước cần phải có những chính sách đồng bộ, minh bạch, dứt khoát, hợp tình, hợp lý, để tạo được niềm tin đối với cộng đồng kiều bào. Những cơ chế hiện nay đối với kiều bào là một nghịch lý, ví dụ như Nghị quyết 1037 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tạo điều kiện cho các cán bộ hiện đang sử dụng nhà “vắng chủ” được quyền xác lập quyền sở hữu là vi phạm Hiến pháp và quyền của công dân của kiều bào. Tình trạng này cần phải được chấm dứt sớm nhất để bà con người Việt trong nước và ngoài nước thật sự chấp nhận nhau là anh em, là “máu thịt Việt Nam” không phân biệt đối xử.

Kỳ vọng của tôi là nối kết kiều bào và nhân dân thành sức mạnh đoàn kết để xây dựng đất nước. Ước mơ của tôi là một đất nước yên bình, với một nền kinh tế và văn hoá phát triển, có kỷ cương dân chủ, nhà nhà an cư lạc nghiệp.

Minh Diệu