NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Cần ứng dụng Công Nghệ Thông Tin để hiện đại hoá nền hành chính

"Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị 58, ngành công nghiệp Công Nghệ Thông Tin và Truyền Thông đã trở thành ngành kinh tế quan trọng, với doanh thu hàng năm trên 4 tỷ USD và là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng". Đánh giá này vừa được Ban Chỉ đạo Quốc gia về Công Nghệ Thông Tin đưa ra trong hội nghị tổng kết được tổ chức tại Văn phòng Bộ Bưu Chính Viễn Thông 18 Nguyễn Du, Hà Nội ngày hôm nay (15/6/2007).

Trong Báo cáo tổng kết 5 năm 2001 – 2005 thực hiện chỉ thị 58, Bộ trưởng Bưu Chính Viễn Thông Đỗ Trung Tá, Phó trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo Quốc gia về Công Nghệ Thông Tin, đã tóm lược 9 thành tựu quan trọng quá trình thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị.

Trong đó, đáng ghi nhận là việc mạng thông tin quốc gia phát triển nhanh với nhiều loại hình dịch vụ, chất lượng ngày một tốt hơn. Giá cước giảm mạnh trên cơ sở xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp. Thị trường viễn thông Việt Nam trong vài năm gần đây tăng trưởng thuộc hàng cao nhất thế giới, tới 25% mỗi năm. Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam đã vượt qua một số nước trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc về mức độ sử dụng dịch vụ.

Trong lĩnh vực Công Nghệ Thông Tin, công nghiệp phần cứng phát triển ổn định với tốc độ khá. Công nghiệp phần mềm trên đà phát triển tốt theo xu hướng xuất khẩu phần mềm. Việt Nam được tổ chức Kearney (Mỹ) đánh giá là một trong 25 quốc gia có sức hấp dẫn nhất về sản xuất phần mềm. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin đã trở thành yếu tố quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, và là yếu tố sống còn đối với các ngành đòi hỏi hội nhập quốc tế cao như ngân hàng, viễn thông, hàng không…

Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin trong các cơ quan Đảng và Nhà nước có bước thay đổi lớn. Hệ thống tổ chức chỉ đạo và quản lý Nhà nước đối với Công Nghệ Thông Tin được tăng cường. Trước năm 2000, số bộ, ngành có trang tin điện tử rất ít. Hiện nay, có 22/26 bộ, 56/64 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đã có website chính thức, góp phần hiện đại hoá nền hành chính và tạo tiền đề cho việc phát triển Chính phủ điện tử.

Bộ trưởng Đỗ Trung Tá cũng đưa ra phân tích những vấn đề còn tồn tại trong 5 năm đầu thực hiện Chỉ thị 58. Trong số 4 trọng điểm của Chương trình Hành động, chỉ có Chương trình phát triển nguồn nhân lực Công Nghệ Thông Tin được xây dựng và phê duyệt, nhưng lại gặp khó khăn khi triển khai vì không có cơ chế thực hiện rõ ràng. Cũng chỉ có 5 trong số 14 dự án, đề án Công Nghệ Thông Tin trọng điểm được triển khai tốt, có kết quả rõ ràng. Số còn lại vẫn lúng túng, ách tắc, dẫn đến hiệu quả thực thi kém.

Sau Báo cáo tổng kết, đại biểu các bộ, ngành đã trình bày báo cáo và tham luận nhằm tập trung làm rõ những kết quả đã đạt được, các tồn tại và nguyên nhân, nhằm rút ra bài học kinh nghiệm. Một trong những thách thức chung hiện nay là nguồn kinh phí nhỏ giọt, khó tạo điều kiện cho ngành Công Nghệ Thông Tin - Viễn Thông có lực để “cất cánh” thực sự. Ngay trong Đề án Tin học hoá hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2001 – 2005, một trong những đề án trọng điểm được triển khai tốt nhất, cũng vấp phải khó khăn này. Một số nội dung như kết nối mạng diện rộng của cơ quan Đảng tới các phường xã phải dừng lại vì thiếu kinh phí.

Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị 58, việc ứng dụng và phát triển Công Nghệ Thông Tin – Viễn Thông ở Việt Nam đã có những tiến bộ rõ rệt, đóng góp bước đầu cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy vậy, ngoại trừ lĩnh vực viễn thông đạt mức trung bình khá, Công Nghệ Thông Tin Việt Nam vẫn còn tụt hậu khá xa so với các nước tiên tiến trong khu vực.

Nhằm chuẩn bị cho giai đoạn 2006 – 2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt nhiều văn bản quan trọng đối với việc phát triển Công Nghệ Thông Tin, như: Chiến lược phát triển Công Nghệ Thông Tin - Truyền Thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng 2020, Kế hoạch Tổng thể phát triển thương mại điện tử đến 2010, Đề án Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng Công Nghệ Thông Tin phục vụ hội nhập và phát triển,…

Bộ Bưu Chính Viễn Thông cũng đang khẩn trương xây dựng Chương trình Quốc gia về ứng dụng Công Nghệ Thông Tin trong các cơ quan nhà nước và Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Công Nghệ Thông Tin Việt Nam đến 2020. Trên cơ sở các văn bản này, kết hợp với chiến lược phát triển của các ngành, lĩnh vực và địa phương, các đơn vị chủ quản sẽ phải xây dựng kế hoạch ứng dụng và phát triển Công Nghệ Thông Tin giai đoạn 2006 – 2010 cho riêng mình.

Hưng Hải

Đến 2010 có khoảng 43 triệu dân dùng Internet

Thay đổi tư duy quản lý là một đòn bẩy giúp Internet Việt Nam phát triển nhảy vọt. Với điệu kiện thực tế khả quan, Bộ Bưu chính Viễn thông đề ra nhiều mục tiêu tạo đột phá trong 3 năm tới. Bộ trưởng Đỗ Trung Tá chia sẻ với VnExpress.

Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị đã thay đổi tư duy quản lý Internet từ chỗ “quản lý được đến đâu thì mở ra đến đó” bằng việc “phát triển đến đâu, quản lý phải theo kịp đến đó”. Điều này có ý nghĩa thế nào đối với sự phát triển của Internet Việt Nam?

Cuối năm 1996, trong nước có nhiều quan điểm khác nhau khi đánh giá những mặt tiêu cực và tích cực của Internet. Lúc đó, trước mắt mở ra hai hướng: hoặc là phát triển Internet, hoặc là chưa mở cửa vội. Cuối cùng, Trung ương đã nhất trí với việc tiếp nhận Internet. Trong bối cảnh như vậy, việc làm sao để tạo dựng lòng tin cho xã hội về mặt quản lý khiến chúng tôi phải đặt ra mục đích quản lý đến đâu, phát triển đến đó để dịch vụ đi đúng định hướng. Nhưng để phù hợp với nhu cầu thực tế, năm 2001, việc quyết định đảo ngược phương hướng là phát triển đến đâu, quản lý theo đến đó đã mở ra môi trường cạnh tranh cho tất cả doanh nghiệp. Internet đã vào đến trường học, bệnh viện, về làng. Tư duy quản lý mới đã giúp Internet phát triển rất mạnh như chúng ta thấy và còn tạo được niềm tin trong dân chúng.

Vậy theo ông, chủ trương” phát triển tới đâu quản lý tới đó” liệu còn phù hợp với xu hướng bùng nổ của Internet hiện nay?

Đúng là đang có khoảng cách giữa phát triển và quản lý. Ngày nay không thể quan niệm Internet là một dịch vụ trong viễn thông nữa mà Internet đã sánh vai với viễn thông, truyền hình, hội tụ với nhau trên môi trường mạng. Vì vậy, khung pháp lý phải quản lý được môi trường băng thông rộng với nhiều nội dung dịch vụ phong phú trên một mạng lưới đã hội tụ. Để lấp đầy khoảng cách giữa quản lý và phát triển, chúng tôi dự kiến đăng ký với Quốc hội từ năm 2007 đến 2010, sẽ nâng cấp pháp lệnh Bưu chính viễn thông, hoàn thiện một số vấn đề trong luật Công Nghệ Thông Tin và có luật Viễn thông, luật Tần số vô tuyến điện. Chúng ta sẽ hướng thị trường bưu chính, viễn thông, Công Nghệ Thông Tin, đặc biệt là Internet, chạy theo một đường ray thực sự cởi mở, đúng hướng mà không còn việc quản lý theo sự phát triển nữa.

Vì sao Bộ trưởng lại dùng hình ảnh "cơn lốc" để nói tới kế hoạch phát triển Internet từ nay đến năm 2010?

Trước đây, chúng tôi từng đặt mục tiêu trong chiến lược tăng tốc đến năm 2000 là phải có 1 máy điện thoại trên 100 dân. Nhưng kế hoạch đã rút ngắn được 5 năm so với dự kiến. Việc đi thẳng vào công nghệ hiện đại đã thu hẹp khoảng cách với các nước vài chục năm nên đến năm 2000, chúng tôi quyết định dừng chiến lược tăng tốc để chuyển sang một bước nhảy mạnh mẽ hơn là hội nhập phát triển, đón đầu cơ hội với WTO. Sau quá trình này, các lĩnh vực của ngành đều đi trước một bước. Hiện Việt Nam vượt cả Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia, Philippines và chỉ đứng sau Singapore với khoảng 19% dân số sử dụng Internet. Đến 2010, hạ tầng trong nước rất vững chãi, 6 doanh nghiệp khai thác dịch vụ viễn thông di động đều chủ trương đi lên 3G và WiMax.

Nếu hình dung hiện nay Việt Nam có trên 70% dân số dưới 35 tuổi, trong 15 năm nữa, số lượng người 50 tuổi sẽ là cán bộ tương đối chủ chốt trên tất cả các lĩnh vực, họ chắc chắn không thể không biết sử dụng Internet. Về mặt tự nhiên đã có hơn 70% dân số sử dụng Internet. Vì thế mục tiêu 80-90% dân số dùng mạng không phải là quá ghê gớm. Nhưng có một số việc phải làm để đạt được đích đó.

Đầu tiên là giá máy tính phải hạ. Chúng tôi cũng sẽ nghiên cứu máy tính mà không cần hệ điều hành, ổ cứng riêng để giá PC giảm xuống. Nếu phần mềm Office giá từ 100 đến 200 USD cùng với đĩa cứng khoảng 200 USD nữa, vậy là người dùng sẽ được giảm tới 300 USD. Đối với thanh thiếu niên, máy tính rẻ không cần phần mềm riêng, như vậy sẽ giúp sáng tạo những phần mềm từ mã nguồn mở trên mạng.

Nếu phổ cập những kiến thức sơ đẳng nhất trong việc sử dụng, cung cấp, tìm kiếm thông tin trên mạng cho giới trẻ tại hệ thống trường học, điểm bưu điện văn hóa xã thì chính những thế hệ này sẽ kèm cặp thế hệ kế tiếp và họ sẽ tạo nên sự phát triển đột phá trong lĩnh vực Internet. Trong khi đó, VN đang xếp thứ 17/20 quốc gia có mật độ sử dụng Internet cao. Vì vậy, không có lý do gì để không lạc quan về "cơn lốc Internet Việt Nam”.

Các dịch vụ giá trị gia tăng và nội dung trên Internet ở Việt Nam vẫn còn nghèo nàn. Cần phải có những giải pháp cụ thể nào để đáp ứng nhu cầu thông tin cho người sử dụng?

Tôi cho rằng cần phải quan tâm đến một số vấn đề. Thứ nhất là nhận thức. Có nhận thức đúng, chúng ta sẽ phát triển mạnh mẽ hơn, sử dụng hiệu quả hơn. Thứ hai là phải khai thác, tương tác Internet để có được nguồn nhân lực phục vụ lợi ích của mọi giới. Thứ ba là nội dung từ Internet đem lại phải hay, phù hợp. Nếu là e-learing thì phải đúng với nhu cầu của học sinh, sinh viên. Nếu là y tế điện tử thì phải có thông tin chữa bệnh cho người dân phù hợp với nhu cầu của họ.

Về mặt công nghệ, mục tiêu cần đặt ra của các nhà khai thác là nối mạng nhanh, an toàn và tạo an tâm cho người sử dụng. Chất lượng của các hệ thống sẽ quyết định sự phát triển của Internet.

Sự tăng tốc về đường truyền, băng thông rất mạnh trong khi phần nội dung còn thiếu phong phú liệu có gây ra sự lãng phí?

Chúng ta quản lý viễn thông, Internet không phải trên số lượng thuê bao mà là lưu lượng của những đường truyền đó. Có thể nói, nội dung trên mạng sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nhà khai thác dịch vụ. Chính vì vậy tiếng Anh sẽ phải được tự động hoá dịch ra tiếng Việt để người trong nước có thể đọc được tất cả thông tin trên thế giới. Chúng tôi đã nghiên cứu hệ thống dịch 5 thứ tiếng với sự hợp tác của người ngoài. Trước mắt là Anh - Việt và Việt - Anh.

Cũng cần nghiên cứu để tất cả mọi người, mọi giới đều được sử dụng Internet. Còn các dịch vụ thoại cố định, di động của viễn thông có thể hoà quyện với nhau, hướng tới mục tiêu một người có nhiều kết nối chứ không phải một kết nối - một thuê bao như hiện nay.

Mục tiêu phát triển Internet trong thời gian tới là gì, thưa ông?

Hiện nay, dù mới đạt tỷ lệ 18,64% dân số sử dụng Internet nhưng chỉ tiêu tới 2010, con số này là 40%, tức là khoảng 43 triệu dân dùng mạng. Đây là mục tiêu mà Bộ đã “dũng cảm” đặt ra nhưng có điều kiện để biến thành hiện thực. Chính vì vậy mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói chỉ tiêu này có thể vẫn là thấp so với yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, và với dân số trẻ. Phát động một “cơn lốc” Internet là chúng tôi muốn nói ít ra phải vượt 40%.

Sẽ có cơn lốc Internet Việt Nam

Bộ trưởng Bưu chính Viễn thông Đỗ Trung Tá khẳng định như vậy về sự phát triển của Internet Việt Nam trong 3 năm tới tại Hội nghị diễn ra sáng nay ở Hà Nội. Để người dân vùng sâu được tiếp cận công nghệ là một trong những vấn đề được nhấn mạnh.

Bộ Bưu chính Viễn thông dự tính đến năm 2010, mật độ thuê bao Internet trong nước đạt 13 - 15% thuê bao trên 100 dân và số người sử dụng Internet là 35 - 40%. Và trong 3 năm tới, 70% số xã có điểm truy cập Internet băng rộng, 100% huyện và xã trong vùng kinh tế trọng điểm được cung cấp dịch vụ này.

Để tạo nên một cơn lốc Internet, Bộ Bưu chính Viễn thông đưa ra 5 giải pháp trong quản lý. Đó là nâng cao nhận thức về Internet cho cả nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng; Phát triển nguồn nhân lực có tri thức; Người lao động biết sử dụng Internet; Tạo lập một môi trường ảo phục vụ thực sự hiệu quả cho quốc kế dân sinh; và xây dựng một hạ tầng thông tin hiện đại.

Trao đổi bên lề hội thảo, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Viễn thông quân đội Viettel Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng để Internet về nông thôn thì phương án tốt nhất là giải pháp không dây. "Chúng ta có điều kiện thuận lợi trước mắt là Bộ Bưu chính Viễn thông sẽ cấp giấy phép 3G. Như vậy là ngoài dịch vụ thoại di động, hình ảnh... sẽ có cả Interrnet băng rộng. Điều đó có nghĩa là giá thành sẽ giảm đáng kể vì mọi dịch vụ có chung cơ sở hạ tầng", ông Hùng nói.

Tổng giám đốc Intel Việt Nam Thân Trọng Phúc cũng đồng tình với quan điểm này. Theo ông Phúc, công nghệ không dây sẽ giúp giải quyết được cả hai vấn đề là có khả năng vượt trội trong việc tiếp cận người dân vùng sâu và đảm bảo chất lượng dịch vụ khi mà ADSL mải tăng về "số" mà quên "chất".

Với một giải pháp phần cứng riêng, tập đoàn Intel đưa ra sáng kiến máy tính giá rẻ cho cộng đồng với cam kết các sản phẩm dành cho người không thể mua được PC sẽ có đầy đủ tính năng, dễ sử dụng, đảm bảo phù hợp với mục đích dùng chung trong giáo dục, trường học, gia đình hoặc cơ quan. "Chúng tôi sẽ có đề xuất với Bộ Bưu chính Viễn thông để một phần tiền của Quỹ viễn thông công ích được sử dụng cho chương trình này tại VN. Và nếu làm được điều này, người dân thu nhập thấp sẽ có cơ hội lớn trong việc tiếp cận công nghệ".

Chính sách là vấn đề cốt lõi trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho người dân vùng sâu tiếp cận Internet. Và một mảng rất quan trọng khi đưa Internet về vùng nông thôn chính là việc hoạch định chính sách trong nội dung thông tin. "Để công nghiệp nội dung có thể phát triển được, các nhà hoạch định chính sách phải ngồi lại quy hoạch phân định mảng nào xã hội hóa, mảng nào doanh nghiệp và người dân tự làm để có lợi nhuận cho chính họ", TS. Mai Anh, Ủy viên Ủy ban Khoa học - công nghệ và môi trường Quốc hội, bày tỏ. "Mặt khác, có những mảng thông tin phải là công ích. Điều này cần có những dự án quốc gia để mỗi thành viên trong xã hội sẽ nhận được những thông tin có lợi cho họ mà không cần trả phí".

Nguyễn Hằng