NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Làm thế nào để tìm được hạnh phúc thực sự trong sự giàu sang ? Thế nào là môi trường văn hóa công ty ?… - Thích Nhất Hạnh , Kiều bào Pháp

Thiền sư Thích Nhất Hạnh trao đổi với doanh nhân Việt Nam .

( Breath, breath, you’re online - Bạn thở đi, thở đi, bạn đang… trực tuyến ).

Xin giới thiệu đến các bạn buổi trò chuyện và trao đổi diễn ra vào ngày 15 tháng 3 vừa qua tại TP Hồ Chí Minh giữa Thiền sư Thích Nhất Hạnh với Doanh nhân trong khuôn khổ hành trình “Trở về” Việt Nam từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2007 của Thiền sư. Câu chuyện nói đến những vấn đề thế nào là hạnh phúc và thế nào là sự giàu có? Làm thế nào để tìm được hạnh phúc thực sự trong sự giàu sang? Thế nào là môi trường văn hóa công ty?…

Mở đầu cuộc đối thoại, Thiền sư có 20 phút pháp thoại về đời sống doanh nhân. Câu chuyện về đôi vợ chồng Claudia và doanh nhân Federich như thế này: Khởi đầu, đôi vợ chồng sống hạnh phúc với những giây phút được ở bên nhau. Sau vài năm, Federich được thăng tiến và anh bắt đầu lao vào công việc, không dành thời gian cho vợ con. Claudia bắt đầu phàn nàn “Anh phải có thì giờ cho anh, cho gia đình chứ. Nếu anh cứ bị cuốn hút hoàn toàn vào doanh nghiệp như thế thì em thấy anh không sống cho anh, anh không quan tâm đến em và hai con của chúng ta”. Federich giải thích “Bây giờ doanh nghiệp không có anh thì không thể phát triển, em hãy chờ anh vài ba năm nữa, thế nào chúng ta cũng sẽ có thì giờ cho nhau”. Khi con trai của họ mổ tim, Federich không về được vì phải bay đi họp hành rất xa. Ngay cả khi Claudia bị mổ khối u, Federich cũng không thể ở bên vợ. Doanh nghiệp đã trở thành nhà độc tài lấy hết thời gian của gia đình Federich. Và không bao giờ Federich có cơ hội có thời gian cho gia đình vì ông bị tai nạn xe mất ở tuổi 51. Sinh thời, Federich luôn nói “Không ai có thể thay thế đựơc tôi, tôi là rất quan trọng”. Nhưng chỉ ba ngày sau khi Federich mất, doanh nghiệp đã thay ngay người khác.

Biết thương yêu chăm sóc cho bản thân và những người chung quanh là một phẩm chất cần thiết cho doanh nhân – những con người ngày đêm bận rộn với dự án và công việc. Nếu chỉ thèm khát quyền uy và danh vọng, tiền tài thôi thì họ thật sự không bao giờ có hạnh phúc. Khi biết nhận diện những nổi khổ niềm đau, biết làm cho chính mình lắng dịu lại, thì mình không gây căng thẳng cho những người chung quanh, không gây những đổ vỡ. Điều đó rất quan trọng cho doanh nghiệp. Nếu mình có sự tươi mát, nhẹ nhàng của tình thương yêu thì mình sẽ đem lại niềm vui cho mọi người. Nếu mình có hạnh phúc gia đình thực sự, mình sẽ đem lại hạnh phúc cho những nhân viên của mình, Mình lo lắng, chia sẻ và ân cần với họ và họ trở lại trung thành với mình.

Sống với tình thương, với chiều hướng tâm linh trong đời sống hàng ngày của nhà doanh nhân, chúng ta sẽ thành công nhiều hơn, bền hơn. Uy quyền trong kinh Phật được tạo bởi tam đức. Đức thứ nhất là đoạn đức. Là đoạn tuyệt với những lo âu, sầu khổ. Thứ hai là trí đức, là có tuệ giác. Có tuệ giác chính là biết nhìn thật sâu vào bên trong con người. Nhờ có tuệ giác mình giải quyết những vấn đề, mâu thuẫn, khó khăn rất dễ. Thứ ba là ân đức, là biết tha thứ, là từ bi. Chúng ta không lên án quyền lực và sự giàu sang nhưng nếu những người có quyền lực và sự giàu sang có thêm ba cái đức ấy của đời sống tâm linh thì quyền lực và sự giàu sang đó sẽ đem lại không chỉ hạnh phúc cho chính mình mà còn cho tất cả mọi người chung quanh.

Những câu hỏi đặt ra cho Thiền sư rất gần gũi với doanh nhân, kẻ chịu trăm mối lo toan nhưng vẫn bị mang tiếng là những người giàu có… đáng ghét. Để dung hòa hình ảnh người doanh nhân với xã hội, Thiền sư đã có một cuộc đối thoại đầy sự cảm thông với doanh nhân.

Doanh nhân: Thưa Thiền sư, sự canh tranh gay gắt trong kinh doanh khiến người ta xem thương trường như chiến trường, vậy lòng từ bi đạo Bụt thể hiện như thế nào. Và doanh nghiệp phải làm gì để bảo đảm đạo lý này mà không mạo hiểm?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Tạp chí Fortune, một tờ báo kinh tế hàng đầu của Mỹ hàng năm có bầu chọn 100 doanh nghiệp thành công nhất thế giới. Trong số 100 doanh nghiệp được nêu danh mỗi năm thì tất cả những doanh nghiệp đó đều có những cam kết bảo hộ môi trường, bảo hộ sự sống và giúp đỡ cho công nhân của họ những lúc khó khăn. Nghiệp chủ biết chăm sóc những người của doanh nghiệp như trong gia đình, yếu tố tình thương, tình huynh đệ có mặt trong đó, không chỉ đem lại lợi tức mà còn là sự an vui. Chính vì có tình thương mà doanh nghiệp mình đứng hàng đầu, đứng trong số 100 doanh nghiệp được chọn lựa. Và khi có tình thương rồi thì mình cũng đang sống đúng theo 5 giới của đạo Phật trong đó có giới bảo vệ sự sống. Có lợi tức mà không tàn phá thiên nhiên, bảo hộ được môi trường và sự sống là chúng ta đang sống một cách chân chính. Mục đích của mình là thành công trong hạnh phúc. Có nhiều tiền nhưng mình phải đau khổ thì mình nên xét lại để có thể tìm ra được hạnh phúc thực sự. Theo đạo Phật con người được làm bằng những yếu tố không phải do người. Con người xuất hiện sau rất nhiều loài khác trên trái đất, nếu không có các loài khác và khoáng vật thì con người không sống được. Nếu chúng ta biết bảo vệ những yếu tố không người tức là bảo vệ cho con người. Và tình thương vẫn có thể đi đôi một cách hoàn hảo với sự thành công của sự nghiệp. Thực tập tình thương là chúng ta đã thực tập được sự bảo hộ sinh mạng và môi trường. Nếu những nhà doanh thương khác không biết điều đó thì chúng ta nên giúp họ thấy bằng cách để họ thấy gương của mình. Khi họ thấy mình càng thương người càng thành công, thì họ sẽ thay đổi. Không nên tranh đua một cách không nể nang và thiếu tôn trọng nhau. Mình phải đi theo cách khác, cách của tình thương, mới có sự liên hệ tốt giữa người và người, giữa người với các chủng loài khác: những loài thảo mộc, cầm thú và khoáng vật.

Doanh nhân: Khi quản lý một doanh nghiệp mình phải vươn tới, phải có tham vọng, tất cả các đối thủ đều như vậy. Nếu không như vậy sẽ tụt hậu, vậy làm sao có thể làm việc, ăn uống mà chỉ “nghĩ về hiện tại” cho được, như thế với doanh nghiệp như thế nào là đủ? Thầy có khuyên nên làm giàu không?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Làm giàu không phải là chuyện xấu, nhưng chúng ta nên biết rằng mình muốn giàu là để mình có hạnh phúc. Nếu giàu mà không có hạnh phúc thì giàu làm gì. Trong tuệ giác của đạo Bụt, tương lai được làm bằng hiện tại. Nếu mình làm tốt cái hiện tại chính là mình đã làm tốt cho tương lai. Chúng ta phải an trú trên mảnh đất của thực tại để thiết kế tương lai. Lo lắng, sợ hãi cho tương lai chính là làm hại cho tương lai của mình. Khi chúng ta trở về với giây phút hiện tại thì chúng ta mới chăm sóc cho thân và tâm của mình, lấy đi những căng thẳng và đau nhức trong thân. Nếu cứ tiếp tục sống với những lo âu sầu khổ, chúng ta sẽ càng ngày càng dồn nén và sinh ra đủ thứ bệnh và ảnh hưởng đến tâm. Những căng thẳng này đưa tư tưởng và lời nói của chúng ta đến bạo động vì nó bị thúc đẩy bởi lo lắng, sợ hãi. Điều này tạo ra sự đổ vỡ cho bản thân, gia đình và doanh nghiệp của mình. Trở về với hiện tại là để quản lý những gì đang xảy ra trong hiện tại, để thực sự có mặt cho mình và cho người thương của mình. Nếu mình khỏe mạnh, thư thái, nhẹ nhàng thì những tư tưởng, sáng tạo mới mẻ sẽ tới rất dễ dàng. Nếu mình cứ căng thẳng, sợ hãi thì mình khó mà nghĩ ra được những điều hay ho, mới mẻ. Phải biết chăm sóc thân và tâm của mình thì chúng ta mới có căn bản để thành công trong tương lai. Một cú đánh trúng thành công tốt hơn 100 cú đánh mà vẫn thất bại. Và chúng ta chỉ đánh trúng được khi có tuệ giác. Tuệ giác chỉ có được khi mình trở về với giây phút hiện tại. Và từ căn bản đó mà những ý thức sáng tạo và ý kiến hay xuất hiện rất thường xuyên. Chỉ 1, 2 ý kiến hay thôi chúng ta đã vượt qua người khác. Tuệ giác giúp chúng ta có khả năng biết được cái gì đang và sắp xảy ra cho mình khi mình biết thở để thân tâm về làm một. Nếu mình đau đáu ngày đêm suy nghĩ để đối phó với đối phương mình không có sự thư thái, có định, có tuệ. Lúc đó chúng ta có thể thành công nhưng cũng có thể trở thành nạn nhân của sự thành công của mình. Vì vậy để thành công và có hạnh phúc thực sự chúng ta nên nuôi dưỡng đạo đức, nuôi dưỡng trí đức và nuôi dưỡng ân đức. Làm giàu là chuyện nên làm nhưng nên nhớ giàu sang không đủ cho mình hạnh phúc nếu mình không có tình thương.

Doanh nhân: Ngày nay các doanh nghiệp đều nói đến việc xây dựng văn hóa công ty với những giá trị nhân bản và đặc trưng để doanh nghiệp được phát triển bền vững. Xin Thiền sư cho biết tinh thần của Văn hóa Phật giáo sẽ giúp đỡ cho văn hóa công ty như thế nào trong định hướng về tương lai?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Văn hóa trong đạo Phật có sự thực tập biết lắng nghe và ái ngữ. Lắng nghe để cho người ta nói những niềm đau nỗi khổ chất chứa trong lòng mà lâu nay người ta không nói ra được. “Thưa anh, em biết trong những năm qua, anh có nhiều bức xúc và khổ đau và cả những khó khăn. Em biết anh khổ lắm mà em đã không giúp anh được mà còn làm cho tình trạng trầm trọng hơn. Em đã phản ứng lại với anh một cách bạo động, chua chát và lên án. Em thấy rằng mình có lỗi. Em muốn hiểu được tất cả những khó khăn bức xức, những ước vọng sâu xa, những khổ đau của anh để em đừng có dại dội nói và làm những điều làm cho anh khổ thêm. Anh nói đi!”. Có thể là trong 3, 4 năm vừa qua mình không bao giờ nói được một câu ngọt ngào như vậy vì mình không bao giờ lắng nghe người khác. Lắng nghe là một thực tập rất sâu sắc, một giờ đồng hồ lắng nghe như vậy có thể làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của người khác. Ái ngữ là nói cho người kia biết sự thật mà dùng những ngôn từ nào cho người kia chấp nhận được. Thứ ngôn từ có quá nhiều những sự lên án trách móc thì người kia nghe được hai ba phút là họ muốn bỏ đi. Vì vậy để người kia nghe mình, mình phải nói những lời ái ngữ. Do đó mình giúp nhau lấy đi những sự hiểu lầm và tạo được sự truyền thông trong văn hóa. Nếu có sự truyền thông giữa người chủ hãng với nhân viên để cho nhân viên hiểu được những khó khăn, lo lắng của người chủ hãng và chủ hãng cũng hiểu được bức xúc và lo lắng của nhân viên thì trong doanh nghiệp sẽ thiết lập được sự truyền thông. Điều này làm tăng lên mức độ hạnh phúc trong doanh nghiệp của chúng ta. Nếu chúng ta thực tập điều này trong vài tuần lễ sẽ thấy kết quả hết sức mầu nhiệm.

Doanh nhân: Thưa Thiền sư, Thầy có thể chia sẻ thông tin về phim “Đường xưa mây trắng” mà Thầy là tác giả của cuốn truyện nổi tiếng thế giới này, hiện nay bộ phim đã được thực hiện thế nào và khi nào thì công chiếu?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Theo kế họach thì đến tháng 4 năm 2008, bộ phim sẽ ra mắt trong liên hoan phim Cannes nhưng không biết có kịp hay không. Trước khi quay phim, giám đốc sản xuất, đạo diễn và các diễn viên sẽ sang đạo tràng Mai thôn tu tập vài tuần để có thể đi- đứng-nằm-ngồi một cách thư thái, thong dong. Như thế mới truyền đạt được tinh thần nhập thoát, từ bi của đạo Phật. Ngày chúng tôi được tin ông Mody đến thăm để thương thuyết, chúng tôi suy nghĩ làm thế nào để bộ phim thành công. Ông Mody không phải là Phật tử nhưng khi đọc cuốn sách đó ông tìm thấy hạnh phúc. Vì vậy ông muốn phổ biến cuốn sách đó bằng cách làm phim. Ông tìm tác giả nhưng vài tháng sau mới biết đến Làng Mai, nơi tôi ở. Tôi nghĩ nếu lấy tiền, để cho họ làm gì thì làm thì có thể làm hư cuốn phim, điều mà tôi không muốn. Có người bạn nói với tôi, ông này giàu lắm, cứ đòi 50 triệu đô la và trả qua trả về thì cũng được ít nhất 30 triệu đô la. Như thế có thể xây được vài thiền đường thật rộng thì cũng đáng lắm. Nhưng tôi nghĩ đến chuyện, để có một cuốn phim đàng hoàng và đi đúng tinh thần của Đường xưa mây trắng, tôi đã quyết định không lấy tiền. Tôi cho họ bản quyền với điều kiện duy nhất: họ phải sang tu tập ở thiền đường để thấm nhuần tinh thần từ bi, bất bạo động, thảnh thơi, nhẹ nhàng sống trong giây phút hiện tại theo tinh thần của đạo Phật. Khi chúng tôi nói vậy, ông Mody rất ngạc nhiên và không tin rằng có một người không muốn tiền. Ông đã thương thuyết với nhiều doanh thương và cố nhiên vấn đề tiền là đầu tiên. Nhưng gặp vị thầy tu này không cần tiền mà chỉ cần mọi người tu học, ông vẫn chưa tin những điều ông nghe là thật. Sau đó ông mới thấy hiệu ứng tâm linh của mình. Ông thấy ngoài quyền năng của tiền bạc còn có một thứ quyền năng khác, đó là ân đức của tình thương, là trí đức của tuệ giác. Nếu mình không có tuệ giác mà chỉ ham tiền thì khi phim dở mình sẽ không còn có quyền gì nữa vì mình đã lấy tiền rồi. Nếu mình không cầm tiền của họ thì mình có thể tuyên bố rằng chúng tôi không chịu trách nhiệm về cuốn phim này nếu cuốn phim này không đi đúng được của tinh thần Đường xưa mây trắng. Đó là sự va chạm giữa hai quyền lực, một là tiền bạc và hai là tuệ giác.

Doanh nhân: Xin hỏi thầy về vấn đề cúng tế trong doanh nghiệp. Tôi có một công ty nhỏ thôi nhưng chưa bao giờ cúng. Thường thì thấy các công trình lớn, công ty lớn có cúng thì mình cũng hơi bâng khuâng. Nếu có cúng thì Thầy có khuyên nên “cầu nguyện cho nó vô tư một chút”. Câu hỏi này đã có rất nhiều doanh nhân đồng cảm.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Theo đời sống tâm linh của dân tộc, mình tới ở đâu thì mình cúng ông địa chỗ đó. Chúng ta đừng cười chuyện đó vì điều đó chứa đựng văn hóa tuệ giác của chính mình. Chúng ta tới đâu thì phải làm quen và tôn trọng đất đai tại đó. Chúng ta đừng làm hư đất đai chỗ đó là vì chúng ta có ý thức bảo vệ môi trường rất rõ. Ông địa là tượng trưng cho tinh thần của đất và chúng ta phải sống hài hòa với đất và cúng ông địa là chúng ta đang cam kết là sẽ sống hài hòa, tôn trọng và không làm hại nhau. Và doanh nghiệp muốn tổ chức cúng tế thì phải cúng với tinh thần đó. Chúng ta có thể nguyện: Chúng tôi cam kết trong việc phát triển của doanh nghiệp chúng tôi sẽ không làm hại, không tước đoạt môi trường sinh sống và phát triển của các loài khác. Câu nguyện trước hết là cho chính mình nghe vì mình là nhân vật quan trọng. Sau đó là cho những người sống, và những người chết chung quanh đều nghe và các loài khác như cây cỏ, không khí, nước đều nghe. Cúng có nghĩa là thiết lập sự truyền thông giữa mình với hoàn cảnh sống chung quanh mình trong đó có đất, nước, lửa, gió, con người và những loài động vật khác. Nếu chúng ta cam kết là mình sống hài hòa, không làm hại đến sự an nguy đến các loài kia thì đó là cái cúng rất nên và không hề có sự mê tín. Nếu cúng mà phải sát sanh đi theo con đường ích kỷ chỉ biết làm lợi cho mình mà làm hại loài khác thì sự cúng đó chẳng ích gì.

Doanh nhân: Mỗi người sinh ra trong hoàn cảnh khác nhau. Có người sinh ra đã sung sướng, có người sinh ra đã bị bỏ rơi ở trại trẻ mồ côi. Liệu con người ai cũng có số mệnh? Nếu có thì số mệnh chiếm bao nhiêu phần trăm trong đời người? Có người bảo người đã có số giầu thì họ giàu rồi, mình mà đã nghèo có muốn cố gắng thì cũng vậy thôi. Xin Thiền sư cho lời khuyên.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Có những điều kiện trong quá khứ mà khi chúng tập hợp với nhau sẽ làm ra những hiện tượng. Nếu điều kiện đó tồn tại như vậy thì nó sẽ tiếp tục kéo dài hiện tượng đó cho đến khi có những điều kiện khác đi vào để có thể thay đổi tình trạng. Có những nhập kiện và xuất kiện. Chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa. Cái này đang đi vào cái kia. Có những nhân duyên và điều kiện lâu nay chưa có thì bây giờ bắt đầu có. Nếu trong quá khứ đã có những điều kiện đưa tới tình trạng nào đó mà mình cố ý thoát ra để đưa những điều kiện mới khác vào thì sẽ có sự thay đổi. Cho nên mình không nên tin vào thuyết định mệnh. Đạo Phật nói đến nhân duyên sinh, tức là những điều kiện tới và làm cho biểu hiện ra một hiện tượng. Tùy theo nhân duyên mà cái đó nó như thế này hay như thế khác. Nếu mình biết cách để đưa thêm vào những nhân mới, điều kiện mới thì mình có thể thay đổi được một tình trạng. Vì vậy cái gọi là số mệnh của những con người, của những dân tộc, những cộng đồng lâu nay như vậy không có nghĩa là như vậy mãi nếu mình biết đưa những dữ kiện mới, nhân tố mới làm chuyển hóa và thay đổi. Đó là việc mình có thể làm được. Đất nước Việt Nam ngày xưa tiếp thu nền văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa và nếu không có sự can thiệp của Tây Phương thì mình chỉ có hai yếu tố văn hóa đó thôi. Khi có sự tiếp thu văn hóa Tây Phương mình đã thay đổi và mình có khả năng làm mới gia sản vốn là nền tảng văn hóa Việt Nam để dựng lại đạo đức, nghệ thuật, truyền thống cha ông. Tất cả những điều đó được sinh ra bằng việc thu thập những tinh hoa của các nền văn hóa mới và làm mới lại những yếu tố đã có trong nền văn hóa cơ bản của mình. Điều này đưa tới một nước Việt Nam rất đẹp và có thể nói là mẫu mực cho nền văn minh khác. Trong 40 năm dạy đạo thiền ở Tây phương, chúng tôi thấy đã có hàng triệu người hâm mộ phương pháp thiền tập của Làng Mai. Mà phương pháp thiền tập của Làng Mai có gốc rễ từ văn hóa Việt Nam. Sở dĩ người Tây phương thích đến Làng Mai tu học vì chúng tôi biết thu thập những trào lưu văn hóa trên thế giới và làm mới lại bằng giá trị truyền thống ngàn đời của Việt Nam, khi nói ra người thanh niên trí thức Tây phương họ hiểu liền. Khi áp dụng các cách thực tập họ có thể chuyển hóa được ngay những khó khăn, khổ đau của họ. Cho nên mình vừa có cái để cống hiến cho thế giới trong khi mình cũng vừa thu thập những tinh hoa của thế giới. Đạo Phật nói vô thường, tức là sự chuyển biến liên tục. Như vậy chúng ta đừng nghĩ rằng một điều gì đã như vậy thì sẽ như vậy đời đời. Nếu mình biết mở ra và đưa vào những dữ kiện mới thì mình sẽ sửa đổi thực tại cho đẹp hơn, hay hơn, mầu nhiệm hơn.

Kết thúc buổi trò chuyện, Thiền sư trao tặng cho doanh nhân 6 bức thư pháp dùng để bán đấu giá lấy tiền gây quỹ khuyến học cho trẻ em bất hạnh. Và đặc biệt một bức thư pháp được Thiền sư tặng cho Tổng biên tập báo Văn hóa Phập giáo – tác giả của cuốn sách “Ánh đạo vàng” nổi tiếng. Bức thư pháp ấy có nội dung là “Breath, you’re online” - Thở đi, bạn đang trực tuyến”. Đây là câu nói được chế tác từ câu kệ nổi tiếng của Thiền sư “Breath, you are alive” – “Hãy thở đi, bạn đang sống”.

Ngân Hà

“Việt Nam mỗi ngày một cởi mở và tiến bộ hơn!”

Lần thứ hai trở về nước sau gần 40 năm xa quê hương, trong chuyến đi này Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng đoàn cùng tổ chức đại lễ cầu siêu cho những người tử nạn trong chiến tranh ở ba miền Nam, Trung, Bắc. NVX đã có buổi phỏng vấn Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại chùa Pháp Vân, TP.HCM.

Việc Thiền sư cùng phái đoàn Làng Mai về nước lập trai đàn chẩn tế cầu siêu lần này chắc chắn là được sự đồng ý của Chính phủ và lãnh đạo trong nước, vậy Thiền sư nghĩ sao về việc này?

Trong chủ nghĩa Marxist chân chính không có những sinh hoạt về vấn đề duy tâm, tâm linh. Việc đi chùa, niệm Phât không được khuyến khích lắm. Trong một thời gian khá lâu, người ta bị kẹt vào thế đó, có những người khi về hưu rồi mới dám đi chùa.

Khi tiếp xúc với nhiều người, tôi nhận thấy họ rất khao khát về vấn đề tâm linh, có những người họ phải thờ Phật ở trên gác…

Tâm linh mở ra một thế giới thoải mái về tinh thần cho con người. Khi mình thắp một que hương khấn vái tổ tiên, đó không hẳn là vấn đề duy tâm hay tâm linh mà chính là cách mình truyền thông với tổ tiên. Vấn đề truyền thông rất quan trọng, thắp hương chính là truyền thông - giống như việc mình sử dụng email hay điện thoại vậy. Điều đó không có gì là mê tín. Ví dụ như khi chào cờ, là mọi người chào một tấm vải, vì tấm vải đó tượng trưng cho một quốc gia hay một dân tộc. Việc đốt hương cũng vậy.

Tôi cho rằng Đảng và Nhà nước đã ngộ ra điều đó và không còn lấn cấn nữa. Vừa qua, Tổng thống Bush đến thăm Việt Nam, trong những ngày ở đây, ông ấy cũng đi nhà thờ, điều đó rất bình thường, bình thường như việc một ông Chủ tịch hay một vị Thủ tướng đến chùa lễ Phật.

Đạo Phật là nền tảng của văn hoá Việt Nam. Xem đạo Phật là một tôn giáo cũng chưa đúng, tôn giáo chỉ là một phần nhỏ của đạo Phật.

Thiền sư cảm thấy thế nào trong lần về nước lần này?

Năm 2005, khi về nước lần đầu, chúng tôi cảm thấy rất khó khăn. Lúc đó chưa được thoải mái như bây giờ, có lẽ bởi vì chính quyền còn nghi ngờ không biết ông này về làm gì nên họ “chăm sóc” rất kỹ. Báo chí lần trước đưa tin cũng rất e dè, họ chỉ đưa những thông tin ngày về và ngày đi của đoàn mà thôi.

Lần này, chúng tôi thấy nhẹ nhàng hơn. Mới chỉ 2 năm thôi nhưng tôi thấy tình hình có vẻ tiến bộ hơn, các báo đều đưa tin trung thực. Nhìn chung, tôi nhận thấy tình hình mỗi ngày một cởi mở và tiến bộ hơn…

Thật ra cũng có nhiều nhóm Việt kiều ở hải ngoại thường la ó, kêu gọi nhân quyền, dân quyền và điều đó càng làm cho Đảng e ngại. Mình có những người quá khích ở cực này và cực kia; những người Cộng sản quá khích và những người chống Cộng quá khích. Họ bắn cho nhau những mũi tên… Còn chúng tôi, chúng tôi dùng hình thức lắng nghe và ái ngữ để dung hoà và kêu gọi hòa giải. Quan điểm của tôi là ôm lấy cả hai bên, không gây thù oán. Tình thương đích thực có chất liệu của sự kiên nhẫn và không có kỳ thị.

Thiền sư có thể cho biết rõ hơn về việc tổ chức đại lễ cầu siêu lần này?

Trai đàn giải oan được phép thiết lập nhưng trong tư duy của một số người trong chính quyền cũng có những ý kiến đối lập nhau. Có người cho rằng: không thể gọi là oan được, bởi những chiến sĩ hy sinh vì nước thì cái chết của họ là cao cả; còn những người chống lại chính quyền, họ chết là đúng, nếu nghĩ như vậy thì không phải là hoà giải.

Hằng trăm nghìn người bỏ nước ra đi, điều đó không phải là giận hờn hay ý thức hệ. Mà có người ra đì vì không nhìn thấy tương lai của con cái họ hoặc nhiều lý do khác. Có những người phải chết oan uổng nơi biển cả. Nếu mình công nhận nỗi oan đó, mình sẽ được lòng người. Không phải mình thắng mà không có lỗi lầm. Đảng và chính quyền đã từng có những chính sách không khéo lắm mới làm họ bỏ nước ra đi.

Lập trai đàn giải oan, thì ba triệu kiều bào ở khắp mọi nơi sẽ nhìn vào đấy ngẫm nghĩ… để rồi tìm cách quay về. Mình phải có những hành động cởi mở mới tạo niềm tin cho kiều bào và đưa họ về gần với quê hương.

Đảng và chính quyền nên có những hành động cụ thể và thiết thực, cho phép con cháu chế độ cũ thành đạt quay về và sắp xếp chỗ, tạo điều kiện cho họ… Chẳng ai muốn từ bỏ quê hương của mình cả.

Sau chuyến đi này Thiều sự dự định sẽ tiếp tục có những chương trình hoạt động nào cho Việt Nam?

Sắp tới, tôi sẽ viết một bức thư trình Chính phủ xin làm một đài tưởng niệm cho những thuyền nhân, tưởng nhớ những người bỏ mạng trên biển cả. Tôi nghĩ đó sẽ là một chính sách thanh minh, nhân ái. Đảng và Nhà nước đã từng “sửa sai” nhiều lần, chúng ta phải biết sửa sai, một điều mà trong kinh Phật gọi là “sám hối”. Tất cả đều do Tâm mà ra cả. Nếu Tâm thay đổi, những lỗi lầm trong quá khứ rồi sẽ tan biến.

Chuyện Nhà nước cho phép lập đàn chẩn tế rất hay nhưng tư duy chưa thống nhất. Có ý kiến cho rằng việc đó đã chôn chặt và ngủ yên rồi, moi lên làm gì nữa để khơi lại nỗi niềm. Tôi cho rằng nếu ta không chẩn hoá, không trị liệu được, thì điều đó sẽ âm thầm được truyền cho các thế hệ tương lai. Ta phải để cho những oan khổ đó qua đi, bằng cách nhận thức điều đó và có thể khóc... Chính những giọt nước mắt thương xót đó sẽ làm lành những vết thương!

Hiện nay, tại một số quốc gia trên thế giới, mâu thuẫn giữa một số tôn giáo nổi lên dẫn đến chiến tranh, khủng bố… gây bao cảnh tang thương cho người dân vô tội. Thiền sư nhận định như thế nào về sự bình ổn của Việt Nam?

Đạo Phật có một tinh thần bao dung rất lớn. Việt Nam là nơi rất an ninh vì mình không có chiến tranh giữa các tôn giáo.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam không có điều kiện cập nhật, hiện đại hoá. Tôi nghĩ chính quyền nên tạo điều kiện để các tăng ni, Phật tử trở về để giúp cho Giáo hội trong nước. Nên tạo điều kiện để họ có quốc tịch đôi và tạo điều kiện trong việc cấp visa cho họ. Việt Nam là quê hương, máu thịt của họ, sao không thương được?!

Thiền sư nhận định như thế nào về việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sang thăm Vatican vừa qua và mới đây phái đoàn Vatican cũng sang thăm Việt Nam?

Việt Nam mới gia nhập WTO, cũng cần có những hoạt động ngoại giao với nhiều tổ chức và các quốc gia khác. Nhưng những hoạt động ngoại giao không thì chưa đủ mà cần phải có thực chất đi theo…

Những người Việt xuống tóc đi tu là chuyện bình thường. Tuy nhiên, trong phái đoàn đi cùng thiền sư, có rất nhiều người phương tây, da trắng mắt xanh cũng xuống tóc và khoác áo tu. Điều gì khiến họ đến với Thiền sư và quyết định xuất gia như vậy

Đối với người Việt thì không có gì để nói, nhưng với một người Tây phương, việc xuất gia là một cuộc cách mạng rất lớn trong đời họ. Khi họ nhận ra một điều gì đó, tự họ quyết định làm theo. Có nhiều người nước ngoài khi tham gia khoá tu tập (trong khoảng từ 3 đến 5 tháng tại làng Mai), họ cảm thấy có tình thương và được chuyển hoá nên tự họ quyết định đi theo con đường tu hành. Mình nói họ không cần phải từ bỏ gốc rễ, Đạo Phật có một giáo lý thực tập làm thoả mãn chiều sâu ước muốn của họ: đó là sự bao dung, không kỳ thị, tôn trọng tất cả mọi loài khác trong thiên nhiên, hơn nữa tâm lý học Phật giáo rất sâu sắc, họ nhận ra tình huynh đệ và mọi điều. Tự họ đã “ngộ” ra và quyết định đi theo. Chính họ sẽ là những người phương Tây trồng cây Phật pháp trên quốc gia của họ.

Trong tăng đoàn có một cựu linh mục, một sư cô gốc Do Thái, có những tiến sĩ luật, những nhà khoa học và cả những bác sĩ. Họ cảm nhận rằng việc xuất gia như vậy sẽ giúp đời nhiều hơn là hành nghề bằng công việc của họ. Một bác sĩ mỗi ngày chữa trị được vài chục bệnh nhân nhưng khi làm thầy tu, họ chữa trị được cả tâm lẫn thân cho mọi người… và họ quyết định xuất gia.

Từng đi qua nhiều nước, đến thuyết pháp ở rất nhiều nơi trên thế giới, đối với một nhà tu hành như Thiền sư thì có lẽ ở đâu cũng như nhau, nhưng có khi nào Thiền sư nghĩ sẽ về định cư luôn tại Việt Nam?

Những việc chúng tôi đang làm đều là những việc giúp cho quê hương cả thôi. Trong Phật pháp, chúng tôi quan niệm tình thương không giới hạn, mình phải thương hết mọi người, không phân biệt dân tộc, màu da chứ không riêng gì người Việt không thôi.

Hiện điều quan trọng là chúng tôi mong muốn gieo rắc hạt giống Phật pháp khắp châu Âu, và vì vậy đối với chúng tôi đâu cũng là quê hương, bốn bể là nhà. Những nơi đang rất cần mình.

Xin cảm ơn Thiền sư đã dành thời gian cho buổi trao đổi hôm nay.

Thùy Mai

Thiền sư Thích Nhất Hạnh : Văn hóa Việt đã lan rất rộng

Nếu người Việt mình không trân quý văn hóa tinh thần Việt Nam mà lại chạy tìm những chủ nghĩa xa lạ thì có đúng không? Hay mình lại đau khổ hơn? Nền kinh tế tiêu thụ cũng đã đem theo nhiều tệ nạn mà trước đây ta ít có. - Thiền sư Thích Nhất Hạnh .

Có người cho rằng thiền học cũng có sứ mạng hòa hợp dân tộc, góp phần gắn kết người Việt Nam trong và ngoài nước thành một thể thống nhất. Theo thiền sư, hiện còn khó khăn gì khiến cho sự hòa hợp đáng mong muốn ấy chưa được như ý? Phải làm sao để sự hòa hợp này diễn ra nhanh hơn?

Đạo Phật đã mang truyền thống hòa giải, hòa hợp từ rất lâu đời, những người tu hành chúng tôi chẳng qua chỉ là đại diện của truyền thống đó. Chúng tôi đi theo tinh thần của Bụt, là anh em một nhà thì không nên tranh giành, đánh nhau. Đã có thời lỡ bị dồn vào thế phải làm như vậy rồi thì bây giờ hãy ôm nhau thân ái trở lại.

Thiền sư nghĩ gì về chủ trương “Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” của Nhà nước Việt Nam? Và mỗi cá nhân cần phải làm gì ?

Đây là chủ trương rất hay của nhà nước Việt Nam. Có thật sự khép lại được hay không thì do mỗi cá nhân có thực tâm muốn hàn gắn, sửa đổi, trị liệu hay không? Chính phủ cần có những hành động, cử chỉ cụ thể để mọi người đều có ước muốn như vậy. Lúc đó mới khép lại quá khứ mới được, và khép được quá khứ thì sẽ mở ra tương lai.

Nếu không hòa giải, nắm tay nhau được thì không mở ra tương lai được. Những khóa tu cũng như những bài thuyết pháp của chúng tôi đều có chủ đề hòa giải giữa cha con, vợ chồng, người Công giáo với người Phật giáo... Chỉ cầu nguyện thì không đủ mà phải thực tập. Bất cứ lời nói, hành động nào của chúng tôi cũng đều mang màu sắc, dấu ấn của sự hòa giải hòa hợp. Trước trong hay sau chiến tranh chúng tôi cũng chỉ làm những việc như nhau, để hướng đến tình huynh đệ, sự tha thứ, tình thương yêu, sự chấp nhận lẫn nhau. Chiến tranh tạo ra sự nghi ngờ nên nhiều người nghĩ chúng tôi có mục đính chính trị, nhưng thật ra đây là vấn đề văn hóa. Phật giáo là một nền văn hóa hơn là một tôn giáo.

Phương pháp thiền của thiền sư chú trọng rất nhiều đến việc sống trong hiện tại. Vậy nếu mỗi cá nhân thật sự sống trong hiện tại thì sự hòa giải và khép lại quá khứ kia có dễ hơn không?

Đúng thế, nhiều người không thoát ra khỏi ám ảnh quá khứ, nhiều người khác lại bị trói chặt bởi viễn cảnh tương lai (như các doanh nhân quá chăm chăm đến lợi nhuận trong tương lai mà không có khả năng sống trong hiện tại). Phương pháp của đạo Phật là phá tan những ràng buộc như vậy để có tự do trở về sống trong giây phút hiện tại với những nhiệm màu của nó.

Đơn giản như vậy nhưng phương pháp thực tập này rất thu hút với người phương Tây, bởi chúng tôi không hứa hẹn với họ thiên đường hạnh phúc trong tương lai. Chúng tôi nói hạnh phúc, thảnh thơi... phải tìm ngay trong giây phút hiện tại. Khi nhìn người thân của mình, phải thấy có phước lắm vì người thân của mình còn đang có mặt bên mình. Hãy trân quý người thân, trân quý trời xanh mây trắng, trân quý chim hót thông reo hoa nở mây bay mà không cần nghĩ rằng sau này có tiền nhiều thì mới hạnh phúc.

Tôi nghĩ Mai thôn đạo tràng ở Pháp rất đơn sơ nhưng người phương Tây tới nườm nượp, không phải vì có chùa to phật lớn mà vì chúng tôi có pháp môn tu tập. Tu tập 1, 2 tuần về thấy con người thay đổi, chuyển hóa được gia đình, đem lại hạnh phúc.

Phương pháp tu tập này có gốc rễ trong Phật giáo Việt Nam, đã phát triển ở phương Tây rồi bây giờ lại đem trở về trồng lại ở mảnh đất Việt. Đây là một gia sản tinh thần của văn hóa Việt.

Thiền sư có nghĩ mình đang góp phần truyền bá được văn hóa Việt Nam, hình ảnh đất nước Việt Nam ra thế giới?

Ngay trong phái đoàn về nước kỳ này cũng có mấy trăm thiền sinh từ hơn 30 nước trên thế giới. Họ có cảm tưởng như về cố hương, họ cảm động khi thấy những ngôi chùa ở ba miền Bắc, Trung, Nam.

Tất cả đều đã thấm nhuần nền văn hóa, đạo đức của Phật giáo Việt Nam. Trong số đó có những vị giáo thụ chủ trương đoàn kết tu tập, có vị xuất gia, có vị cư sĩ đang giảng phương pháp tu tập của mình ở nhiều nước. Hiện đã có cả ngàn đoàn thể tu tập như vậy ở Châu Âu, châu Mỹ, nghĩa là văn hóa Việt Nam đã lan rất rộng.

Nếu người Việt mình không trân quý văn hóa tinh thần Việt Nam mà lại chạy tìm những chủ nghĩa xa lạ thì có đúng không? Hay mình lại đau khổ hơn? Nền kinh tế tiêu thụ cũng đã đem theo nhiều tệ nạn mà trước đây ta ít có. Cấu trúc gia đình rất vững xưa kia giờ đã lung lay. Người trẻ không thấy hạnh phúc trong gia đình bởi bố mẹ không chỉ làm khổ nhau mà còn áp đặt những nguyên tắc sống và ước muốn của chính họ cho con cái. Người trẻ bị mất phương hướng và họ đi tìm sự khuây khỏa bên ngoài nên mới sa vào bẫy của ma túy, tình dục, đĩ điếm, trộm cướp...

Phải đem nền văn hóa, đạo lý phương Đông ra để làm vũ khí chống lại những sự xâm nhập ấy. Pháp môn của chúng tôi giảng dạy ở Tây phương cũng là để củng cố, khôi phục lại văn hóa gia đình

Thiền sư luôn nhấn mạnh đến sự “an trú trong hiện tại”, rằng phải theo dõi hơi thở để cảm nhận và nâng niu hiện tại trong mọi hoạt động. Có thể thực tâp những điều này khi đến với những buổi thiền, những khóa tu. Nhưng trong cuộc sống với vô số việc phải làm trong cùng một thời điểm. Vậy thì phải thực tập “an trú trong hiện tại” như thế nào, trong những hoàn cảnh như vậy

Trong thiền học có "Định", khi mình chú tâm vào một cái thì mới làm cái đó hay được, còn nếu "bắt cá hai tay" là hư rồi. Một tay trả lời điện thoại, một tay tranh thủ làm việc khác thì cả hai việc khó mà tốt được. Đừng có ham hố, đôi khi mình ham hố rồi không tiến xa. Chúng tôi đi bộ mà đi rất xa, có khi đến trước những người lái xe hơi, vì những người đi xe hơi có thể giữa đường bị thu hút vào nhiều cái khác

Hãy làm một việc ở một thời điểm thôi, điều này rất quan trọng. Khi mình chú tâm làm một việc, mình sẽ có hạnh phúc trong khi làm việc đó. Chẳng hạn như khi lái xe, nếu ta cứ nôn nao để tới đích thì thấy mệt mỏi, còn nếu ta tập trung lái xe thì sẽ thấy hạnh phúc bởi sự có mặt của người thân đi cùng mình, bởi cảnh thiên nhiên đẹp, bởi cuộc sống sôi động. Làm bất cứ việc gì cũng có thể chú tâm đến hơi thở và tập trung, nếu đã nắm vững thì dù lúc nào cũng có thể "an trú trong hiện tại". Đức Phật cũng đã dạy rằng chúng ta có thể sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.

Thiền sư đã 2 lần về Việt Nam, và như thiền sư nói đó thật sự là những chuyến trở về cội nguồn. Vậy thiền sư đã dự định gì cho những chuyến trở về tiếp theo?

Mình an trú trong giây phút hiện tại, làm cho tốt điều mình đang làm, không phân tâm nghĩ đến việc tiếp theo.

Xin cám ơn thiền sư.

Khánh Linh