NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Phát triển Điện Hạt Nhân ở Việt Nam - PGS TS Vương Hữu Tấn

Phát triển điện hạt nhân đã được Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam hợp tác với các cơ quan có liên quan ở trong và ngoài nước tổ chức nghiên cứu một cách hệ thống trong nhiều năm. Các nghiên cứu đã khẳng định sự cần thiết và tính khả thi của phát triển Điện Hạt Nhân ở Việt Nam vào khoảng năm 2017- 2020.

Bài báo này trình bày tóm tắt một số kết quả nghiên cứu nhằm làm rõ hơn những vấn đề quan trọng, giải đáp những băn khoăn lo lắng của công chúng liên quan đến phát triển Điện Hạt Nhân. Hai vấn đề chính được đề cập là: 1. Những lý do chính để xem xét xây dựng nhà máy Điện Hạt Nhân và 2. Các vấn đề băn khoăn lo lắng của công chúng.

Một số lý do chính để xem xét xây dựng nhà máy điện hạt nhân

1. Điện hạt nhân đã được các nhà nghiên cứu quy hoạch năng lượng xem xét, lựa chọn tham gia vào cơ cấu nguồn điện tương lai để đáp ứng nhu cầu điện năng, góp phần đảm bảo an ninh cung cấp năng lượng của đất nước.

Theo kết quả nghiên cứu tiền khả thi dự án nhà máy Điện Hạt Nhân do Bộ Công nghiệp và Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện, nếu chỉ xem xét phương án dự báo nhu cầu cơ sở và khả năng khai thác tài nguyên năng lượng theo phương án cao, thì khả năng khai thác tài nguyên bắt đầu không cân đối được nhu cầu năng lượng sơ cấp và lượng thiếu hụt sẽ là 2,67 triệu TOE ( tấn dầu quy đổi ) vào năm 2015. Thiếu hụt sẽ càng tăng, đến năm 2020 là 25 triệu TOE, năm 2030 là 62,8 triệu TOE và năm 2040 là 90 triệu TOE. Về điện năng, đến năm 2015 sẽ thiếu 8 tỉ KWh, năm 2020 sẽ thiếu từ 36-65 tỉ KWh, năm 2030 sẽ thiếu 119-188 tỉ KWh và năm 2040 sẽ thiếu 200-340 tỉ KWh. Các nghiên cứu cho thấy rằng, mặc dù dự báo nhu cầu điện tăng chậm dần sau năm 2020, khoảng 4,9 - 5,6% giai đoạn 2021 - 2030 và 3 - 3,5% giai đoạn 2031 - 2040, nhưng do khả năng khai thác tài nguyên năng lượng trong nước hạn chế, vì thế cùng với các giải pháp huy động các nguồn năng lượng mới, nhập khẩu nhiên liệu và năng lượng, cần phải xem xét phương án xây dựng các nhà máy Điện Hạt Nhân ( Xem bảng ).

Như vậy, nhà máy Điện Hạt Nhân có thể được xây dựng ở Việt Nam với công suất từ 2.000 MW ( phương án cơ sở ) đến 4.000 MW ( phương án cao ) trong giai đoạn đến năm 2020 trên cơ sở phương án tổng hòa cân đối các nguồn có tính đến cả tiết kiệm năng lượng.

Phát triển Điện Hạt Nhân sẽ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, một yếu tố rất quan trọng trong quy hoạch phát triển năng lượng, đặc biệt trong tình hình diễn biến chính trị phức tạp hiện nay. Với uran thì chủ yếu hiện nay do Úc và Canada cung cấp, đó là những quốc gia khá ổn định về chính trị. Đối với nhà máy Điện Hạt Nhân, trong giai đoạn đầu, chúng ta cũng phải nhập khẩu nhiên liệu cho các nhà máy hoạt động, tuy nhiên do lượng nhiên liệu tiêu thụ hàng năm không lớn, nên chúng ta có thể dự trữ trong nhiều năm ( nhà máy điện chạy than công suất 1.000 MW hàng năm tiêu thụ 2,6 triệu tấn than, nhà máy Điện Hạt Nhân cùng công suất, hàng năm tiêu thụ khoảng 30 tấn nhiên liệu hạt nhân ). Ngoài ra, trong quá trình nội địa hóa ngành công nghiệp này, chúng ta có thể từng bước làm chủ một số khâu sản xuất nhiên liệu. Trữ lượng uran của nước ta cũng là một yếu tố tiềm năng trong việc sản xuất một phần nhiên liệu hạt nhân ở ngay trong nước.

2. Điện hạt nhân đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, góp phần nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và công nghiệp của quốc gia.

Phát triển Điện Hạt Nhân dẫn đến phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và đội ngũ công nhân với trình độ kỹ thuật và kỷ luật cao, thúc đẩy phát triển các cơ quan nghiên cứu triển khai và nhiều ngành sản xuất công nghiệp, xây dựng. Đây cũng là những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Các cường quốc trên thế giới như Mỹ, Liên Xô (cũ) cũng như một số nước ở châu Á ( Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc...) đều thông qua chương trình phát triển điện hạt nhân mà nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và công nghiệp quốc gia.

3. Điện Hạt Nhân góp phần giải quyết vấn đề môi trường trong phát triển năng lượng bền vững.

Bảo vệ môi trường ngày càng trở nên quan trọng trong chiến lược phát triển năng lượng bền vững đối với mỗi quốc gia. Các dạng nhiên liệu hóa thạch truyền thống phát thải các khí gây ô nhiễm môi trường và các khí gây hiệu ứng nhà kính. Ví dụ, nhà máy nhiệt điện than công suất 1.000 MW trong một năm phát thải vào môi trường 320.000 tấn tro ( chứa 400 tấn kim loại nặng As, Cd, Co, Pb, Hg, Ni và V ), 44.000 tấn SO2, 22.000 tấn NOx và 6 triệu tấn CO2. Điện hạt nhân được xem là một nguồn năng lượng sạch, không phát thải khí ô nhiễm môi trường và khí gây hiệu ứng nhà kính, góp phần bảo vệ môi trường trong chiến lược phát triển năng lượng bền vững. Với công nghệ ĐHN hiện nay sẽ không có tai nạn kiểu như Chernobyl để có thể làm ảnh hưởng tới môi trường. Các chất thải phóng xạ trong phát triển Điện Hạt Nhân ít về số lượng và hoàn toàn có thể kiểm soát được bằng các công nghệ và thiết bị hiện đại, không gây ảnh hưởng xấu tới môi trường. Theo Georges Charpak trong quyển Lửa ma trơi và nấm nguyên tử ( Feux Follets et Champignons Nucleaires ) thì độ chiếu xạ của dân chúng quanh một nhà máy Điện Hạt Nhân hoạt động bình thường chỉ nhỏ bằng một phần trăm của nhà máy điện chạy than. Thay một nhà máy Điện Hạt Nhân bằng một nhà máy điện chạy than để giảm độ chiếu xạ cho dân chúng là một điều không chính xác.

4. Xu thế phát triển Điện Hạt Nhân trên thế giới hiện nay là thuận lợi cho Việt Nam khi xem xét quyết định chủ trương xây dựng nhà máy Điện Hạt Nhân.

Lịch sử phát triển Điện Hạt Nhân trên thế giới đã trải qua các giai đoạn sau :

- Giai đoạn thập niên 1960 - 1970 là giai đoạn khởi đầu khi công nghệ chưa được thương mại hóa, phát triển Điện Hạt Nhân chủ yếu nhằm mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ và xây dựng tiềm lực hạt nhân bảo đảm an ninh quốc gia.

- Giai đoạn thập niên 1970 - 1980 khi công nghệ đã được thương mại hóa cao và do khủng hoảng dầu mỏ, nên nhiều quốc gia đẩy nhanh tốc độ phát triển Điện Hạt Nhân, đưa tỷ trọng Điện Hạt Nhân toàn thế giới tăng gần hai lần, từ 9% lên 17%.

- Giai đoạn thập niên 1980 - 1990, sau sự cố Chernobyl, sự không chấp nhận của công chúng, các yếu tố chính trị và sự cạnh tranh yếu về kinh tế do việc tăng cao các yêu cầu về an toàn đã làm cho tốc độ xây dựng nhà máy Điện Hạt Nhân giảm mạnh, một số nước còn có chủ trương loại bỏ Điện Hạt Nhân như Đức, Thụy Điển.

- Giai đoạn từ đầu thế kỷ này, khi mà yếu tố môi trường toàn cầu và an ninh năng lượng trở nên có ý nghĩa quyết định và công nghệ Điện Hạt Nhân ngày càng được nâng cao thì xu hướng phát triển Điện Hạt Nhân đã có những thay đổi tích cực, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp trên phạm vi toàn cầu ( Tầm nhìn năm 2020 của Mỹ về phát triển Điện Hạt Nhân đề nghị tăng 10.000 MW công suất phát cho 104 nhà máy Điện Hạt Nhân hiện có và 50.000 MW cho các nhà máy ĐHN xây mới đến năm 2020; Phần Lan đã đấu thầu tháng 10-2003 xây tổ máy thứ 5 công suất 1.600 MW bằng công nghệ EPR của Pháp; Anh quay trở lại phát triển Điện Hạt Nhân do thiếu hụt năng lượng, Indonesia đã lập dự án khả thi và dự kiến sẽ đưa tổ máy Điện Hạt Nhân 1.000 MW đầu tiên vào vận hành năm 2015...). Trên cơ sở đó, chính những nước có ý định từ bỏ Điện Hạt Nhân ( Đức, Thụy Điển ) cũng đã phải xem xét lại và có kế hoạch điều chỉnh. Với một xu thế phát triển tương đối tốt, nên đầu tư nghiên cứu về công nghệ ( cải tiến công nghệ hiện nay và phát triển công nghệ hiện đại thế hệ thứ IV và thứ V ) được quan tâm rất lớn và đầu tư nghiên cứu trung bình hiện nay khoảng 2 tỉ đô-la Mỹ/năm.

Hiện nay, trên thế giới có 441 lò phản ứng hạt nhân đang vận hành ( châu Á có 95 lò ) cung cấp khoảng 16% sản lượng điện và 32 lò phản ứng đang được xây dựng ( châu Á có 19 lò ). Các quốc gia xung quanh Việt Nam như Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ và Trung Quốc đều có chương trình Điện Hạt Nhân rất phát triển và các chương trình này thực sự đã đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội và nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ của các quốc gia này.

So sánh các giải pháp cân đối nhiên liệu cho sản xuất điện đến năm 2003

CÁC GIẢI PHÁP THUẬN LỢI KHÓ KHĂN
1. Nhập khẩu điện: 36-65 tỉ KWh/năm(2020); 4,5-5 US cent/KWh Các nước trong khu vực có tiềm năng thủy điện lớn; tránh được đầu tư; giảm ô nhiễm môi trường. Khả năng nhập hạn chế; Nhập siêu từ 1,6 - 2,9 tỉ USD/năm (2020)
2. Nhập khẩu khí đường ống : 7-13 tỉ m3/năm (2020); xây dựng 6.000 - 11.000 MW nhiệt điện khí; giá khí nhập 3,2 - 3,6 USD/tr. BTU. sẽ hình thành đường ống khí liên ASEAN Cần bù vào các mỏ khí của ta đã đến cuối đời dự án; thị trường hạn chế; nhập siêu 1 - 1,7 tỉ USD/năm(2020) và 3,9 - 6,7 tỉ USD/năm(2030); khó vượt quá 4 - 5 tỉ m3
3. Nhập khẩu khí hóa lỏng LNG : 6,4-11,5 triệu tấn/năm; giá LNG nhập 4-4,3 USD/tr.BTU Có thị trường LNG; Có thể dự trữ như than, dầu Phụ thuộc giá dầu mỏ; Giá nhiên liệu cao 1,25 lần so với khí đường ống làm cho giá thành điện cao; Tăng nhập siêu 1,3 - 2,4 tỉ USD
4. Phát triển điện từ năng lượng mới: Gió, địa nhiệt, mặt trời, sinh khối Có thể đưa điện tới các vùng xa, hải đảo… tự nhiên; không thể cân đối lớn. Giá thành điện cao; tiềm năng hạn chế, phụ thuộc điều kiện
5. Tiết kiệm năng lượng nhu cầu năng lượng dài hạn Đã áp dụng khi tính toán trong khu vực và thế giới; cần đầu tư các công nghệ mới bên cạnh các biện pháp quản lý. Việt Nam chậm sau các nước
6. Nhập khẩu than: 16-29 triệu tấn/năm (2020); xây dựng 7.000-13.000 MW nhiệt điện than; giá than nhập trên 40 USD/tấn Có thị trường Úc và Indonesia Địa điểm; ô nhiễm môi trường; nhập siêu 0,65 - 1,17 tỉ USD/năm ( 2020 ) và 1,7 -3,1 tỉ USD/năm ( 2030 )
7. Tổng hòa cân đối theo phương án cơ sở và cao Năng lượng mới: 2 - 3 tỉ KWh Nhập than: 0 - 1,5 triệu tấn Nhập điện: 17 - 23 TWh Nhập khí 1,6 - 1,9 tỉ m3 Điện Hạt Nhân : 2.000 - 4.000 MW Ổn định cung cấp; tăng an ninh năng lượng; giảm chi phí kinh tế; giảm ô nhiễm môi trường; có tiềm năng tham gia CDM; nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ và công nghiệp. Thu xếp tài chính; vấn đề đào tạo cán bộ; các lo lắng của công chúng về an toàn, thải phóng xạ và các xu thế khác nhau trên thế giới trong phát triển Điện Hạt Nhân thời gian vừa qua.

NHỮNG VẤN ĐỀ THẬN TRỌNG VÀ CÂN NHẮC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN ĐIỆN HẠT NHÂN Ở VIỆT NAM

Trong điều kiện hoạt động bình thường, điện hạt nhân được coi là một dạng năng lượng sạch, ít gây tác động xấu đến môi trường do chiếm dụng ít đất đai, không đòi hỏi phải di dân lớn và không phát thải các chất gây ô nhiễm môi trường và khí gây hiệu ứng nhà kính. Tuy nhiên, nó lại làm nảy sinh những vấn đề khác mà chúng ta cần phải xem xét và đánh giá.

An toàn hạt nhân

Đây là vấn đề gây lo ngại sâu sắc, đặc biệt là sau tai nạn hạt nhân Chernobyl ( Liên Xô cũ ) và một số sự cố hạt nhân xảy ra trên thế giới.

Về nguyên tắc, bất cứ hoạt động nào của con người cũng tiềm ẩn những rủi ro và sự cố. Công nghiệp hạt nhân cũng như bất kỳ một ngành công nghiệp nào khác, không nằm ngoài quy luật chung này. Tuy nhiên, do tính nhạy cảm và công khai của ngành công nghiệp hạt nhân, nên một sự cố dù nhỏ cũng gây ra sự quan tâm lớn của công chúng, trong khi đó những tai nạn rất lớn của các ngành khác ( như vụ vỡ đập thủy điện ở Trung Quốc năm 1979 làm chết hàng chục ngàn người ) lại không được công luận biết đến.

Các sự cố hoặc tai nạn hạt nhân xảy ra là do các nguyên nhân sau :

- Về kỹ thuật : lỗi trong thiết kế, thi công xây dựng, lắp đặt.

- Về luật lệ : quy phạm vận hành, bảo dưỡng, thanh tra, cấp phép.

- Về con người : trình độ kỹ thuật, kỷ luật trong xây dựng, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng.

Tai nạn Chernobyl là do những sai sót ngay trong bản thân thiết kế và sự vi phạm quy chế vận hành của con người. Thiết kế lò Chernobyl không có vỏ bọc bằng bê tông cốt thép, nên khi sự cố xảy ra, một lượng lớn chất phóng xạ thoát ra môi trường, gây nhiễm bẩn phóng xạ trên một vùng rộng lớn. Hiện nay, các loại lò thương mại trên thế giới đều có vỏ bọc bê tông cốt thép, nếu sự cố xảy ra, các chất phóng xạ sẽ bị giữ lại trong vỏ bọc này. Các chuyên gia về điện hạt nhân đã khẳng định sẽ không xảy ra tai nạn hạt nhân nào kiểu như Chernobyl nữa. Theo các chuyên gia kỹ thuật, các lò phản ứng thương mại hiện nay đã đạt đến độ an toàn rất cao ( xác suất xảy ra sự cố nghiêm trọng là khoảng một phần triệu) và công nghệ lò phản ứng càng ngày càng được cải tiến, đảm bảo an toàn hơn, thời gian xây dựng được rút ngắn, và tăng khả năng cạnh tranh kinh tế.

Xét cho cùng thì lỗi của con người vẫn là quan trọng nhất. Tai nạn Chernobyl là do con người không tuân thủ quy phạm khi tiến hành thí nghiệm trên lò phản ứng. Sự cố xảy ra ở cơ sở sản xuất nhiên liệu hạt nhân ở Tokai (Nhật) cũng do sự vi phạm các quy định và sự yếu kém trong hệ thống thanh tra cấp phép. Cơ sở này không phải là nhà máy Điện Hạt Nhân, mà là cơ sở chế tạo nhiên liệu hạt nhân.

Việc đảm bảo hoạt động an toàn của các cơ sở hạt nhân, trong đó có nhà máy Điện Hạt Nhân, đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ có trình độ cao, có kỷ luật và hệ thống luật lệ đảm bảo tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn. Hoạt động của lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt trong 20 năm qua đã khẳng định trình độ của đội ngũ cán bộ Việt Nam trong quản lý, vận hành và bảo dưỡng lò phản ứng hạt nhân-một mô hình thu nhỏ của nhà máy Điện Hạt Nhân. Từ nay đến khi có nhà máy Điện Hạt Nhân ở Việt Nam, chúng ta còn khoảng 15 năm cho việc đào tạo và học hỏi kinh nghiệm từ những bài học thành công và thất bại trên thế giới.

Một vấn đề nữa cũng cần lưu ý : Trung Quốc đang có kế hoạch đẩy mạnh chương trình phát triển Điện Hạt Nhân. Trung Quốc đã có bảy nhà máy đang hoạt động, bốn nhà máy đang xây dựng và sáu nhà máy đã có kế hoạch xây dựng. Đến năm 2010, dự kiến sản lượng Điện Hạt Nhân của Trung Quốc tăng gấp 10 lần so với năm 1997. Việc xây dựng các nhà máy Điện Hạt Nhân phía Nam Trung Quốc thực sự đã đặt Việt Nam nằm trong phạm vi ảnh hưởng của các nhà máy Điện Hạt Nhân, ( đặc biệt là miền Bắc Việt Nam chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc ). Do đó, xét về phương diện vùng địa lý, thì trên thực tế, việc xây dựng nhà máy Điện Hạt Nhân ở Việt Nam chỉ bổ sung thêm một phần nào đó vào lo ngại của công chúng về an toàn hạt nhân.

Nhà máy Điện Hạt Nhân đã có trên thế giới từ 50 năm nay, hiện nay đã có 441 lò phản ứng hạt nhân hoạt động ở 32 nước, trên thực tế chúng hoạt động rất an toàn ở cả nhiều nước phát triển và đang phát triển ( cho đến nay, chúng ta chỉ nghe nói đến một vài sự cố ). Tuy nhiên, do tính đặc biệt của nó, các sự cố hạt nhân dù ở bất kỳ mức độ nào cũng phải được thông báo nhanh trên toàn thế giới, theo hệ thống riêng của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế. Sự cố hạt nhân là vấn đề nhạy cảm dễ gây ra lo ngại trong công chúng. Tuy nhiên, sự lo ngại nhiều khi do không được thông tin đầy đủ về ngành công nghiệp này, thậm chí đôi khi do bị thổi phồng và lợi dụng.

Quản lý, chôn cất chất thải phóng xạ

Chất thải ở nhà máy Điện Hạt Nhân ít hơn nhiều về số lượng so với các nhà máy nhiệt điện khác và chất thải nguy hiểm nhất ( chất thải hoạt độ cao ) lại nằm ngay trong các thanh nhiên liệu đã cháy. Có hai cách chủ yếu để xử lý :

- Chôn cất : nhiên liệu đã cháy sau một thời gian lưu giữ ở nhà máy hoặc nơi lưu giữ tạm thời ( khoảng 40 - 50 năm ) sẽ được đưa đi chôn cất ở một nơi dành riêng.

- Tái chế : nhiên liệu đã cháy được đem đi xử lý nhằm tách Plutoni và Urani để tái sử dụng, phần bã thải còn lại chứa các sản phẩm phân hạch và các nguyên tố nhóm Actinit thường được gọi là các chất thải hoạt độ cao sẽ được thủy tinh hóa và đem đi chôn cất.

Việc lựa chọn chiến lược quản lý nhiên liệu đã cháy phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị và chính sách năng lượng của mỗi nước. Dù áp dụng chiến lược nào thì nhiên liệu đã cháy hay chất thải hoạt độ cao đều phải được xử lý thích hợp, vận chuyển đến địa điểm dành riêng để chôn cất. Người ta đã chấp nhận rộng rãi phương pháp chôn cất ở những địa tầng sâu, dùng một loạt hàng rào tự nhiên và nhân tạo để cô lập chất thải phóng xạ xét về mặt địa lý, địa chất và dân cư. Tuy nhiên, thường phải sau 30 - 40 năm kể từ khi nhà máy đầu tiên hoạt động, người ta mới phải xử lý chôn cất. Vì vậy, nếu có điện hạt nhân vào năm 2020 thì sau năm 2050 chúng ta mới phải lo chôn chất thải phóng xạ dài ngày. Lúc đó chắc chắn đã có công nghệ mới để xử lý, biến chất thải dài ngày thành ngắn ngày hoặc không còn phóng xạ. Công nghệ xử lý chất thải hiện đang được đầu tư nghiên cứu rất mạnh ở các nước tiên tiến. Nhiệm vụ của chúng ta khi có Điện Hạt Nhân là phải quản lý an toàn các thanh nhiên liệu đã sử dụng trên cơ sở các công nghệ đã được chấp nhận hiện nay trên thế giới ( lưu giữ ướt và khô ). Các nhà máy Điện Hạt Nhân đều có bể lưu giữ các thanh nhiên liệu đã sử dụng có đủ dung tích chứa được 20 năm hoạt động của nhà máy. Khi xây dựng nhà máy Điện Hạt Nhân việc này đã được tính đến. Ngoài ra, còn có các kho lưu giữ khô cũng nằm trong khuôn viên nhà máy được xây dựng theo các tiêu chuẩn của thế giới.

Vấn đề đầu tư và cung cấp tài chính

Trước đây, các nước phát triển điện hạt nhân, ngoài mục đích cung cấp điện, còn nhằm mục tiêu quan trọng là tăng cường tiềm lực quốc gia. Vì vậy, công nghiệp điện hạt nhân đã nhận được sự ưu đãi lớn của nhà nước, yếu tố cạnh tranh kinh tế nhiều khi không được tính đến.

Ngày nay, hầu hết các quốc gia đều đặt yếu tố cạnh tranh kinh tế lên hàng đầu khi xem xét đầu tư cho điện hạt nhân. Trong số các nhà máy điện hạt nhân bị đóng cửa gần đây, một số do hết thời hạn sử dụng, một số do không cạnh tranh được về mặt kinh tế (ví dụ một số nhà máy ở Mỹ) do loại lò cũ, công suất thấp.

Có hai quan điểm khi xem xét việc đầu tư phát triển điện hạt nhân :

- Điện hạt nhân chỉ được đưa vào sau khi các nguồn nhiên liệu trong nước đã được sử dụng hết.

- Điện hạt nhân có thể được đưa vào sớm hơn để tiết kiệm, kéo dài thời gian sử dụng nguồn nhiên liệu trong nước và nhằm các mục đích khác ( quan điểm này nằm trong chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia).

Do yêu cầu về an toàn công nghệ nên chi phí đầu tư của nhà máy Điện Hạt Nhân thường cao hơn ( 1.700 - 2.300 đô-la Mỹ/kW ) so với các loại nhà máy nhiên liệu thông thường chạy than, dầu, khí ( 600 - 1.200 đô-la Mỹ/kW ). Tuy nhiên, xu thế hiện nay là chi phí đầu tư Điện Hạt Nhân giảm dần ( ví dụ theo thông báo của các nước, công nghệ APR-1400 của Hàn Quốc khoảng 1.000 - 1.200 đô-la Mỹ/kW, ACR của Canada khoảng 1.000 đô-la Mỹ/kW ). Tuy giá thành xây dựng cao, nhưng nhà máy Điện Hạt Nhân lại có chi phí nhiên liệu, chi phí vận hành và bảo dưỡng thấp. Do có số giờ vận hành cao ( khoảng 7.000giờ/năm ), nên sản lượng điện tạo ra nhiều hơn các loại nhà máy khác cùng công suất. Vì vậy giá thành Điện Hạt Nhân trong nhiều trường hợp có thể cạnh tranh được với các dạng điện năng khác. Ví dụ ở Nhật, Điện Hạt Nhân rẻ nhất trong tất cả các loại điện năng, vì ở Nhật tất cả các loại nhiên liệu đều phải nhập ngoại.

Do thị trường Điện Hạt Nhân bão hòa ở các nước Bắc Mỹ và Tây Âu, nên hiện có nhiều công ty đang chào mời Việt Nam, đây cũng là một cơ hội thuận lợi trong việc tìm nguồn vốn và thu xếp tài chính (do cung lớn hơn cầu). Hiện có thể có ba phương thức thu xếp tài chính cho dự án Điện Hạt Nhân : vay thương mại, đầu tư BOO hoặc BOT và áp dụng cơ chế phát triển sạch (CDM). Tuy nhiên, phương án khả dĩ nhất hiện nay là vay thương mại từ các nước cung cấp thiết bị Điện Hạt Nhân.

Vấn đề đào tạo nhân lực để quản lý, vận hành nhà máy điện hạt nhân

Việc nâng cao dân trí, tăng cường trình độ văn hóa, kỷ luật lao động, ý thức xã hội của mỗi người dân là mục tiêu và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đà phát triển của đất nước, con người Việt Nam sau mươi, mười lăm năm nữa sẽ có sự thay đổi về chất, họ sẽ có trình độ khoa học công nghệ, ý thức xã hội và kỷ luật lao động hơn.

Khi quyết định chủ trương xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Chính phủ sẽ đầu tư cho chương trình đào tạo các nhà chuyên môn và công nhân lành nghề tại các trường đại học, các trung tâm đào tạo trong và ngoài nước. Một dự án điện hạt nhân thường kéo dài từ 12 đến 15 năm, quãng thời gian này đủ để đào tạo đội ngũ cán bộ. Ngoài ra, trong hợp đồng cung cấp nhà máy điện hạt nhân, nhà thầu sẽ đảm nhận đào tạo nhân lực cho việc quản lý và vận hành. Theo kinh nghiệm các nước, chỉ cần đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân vận hành trong hai năm trước khi đưa nhà máy vào hoạt động.

Những ý kiến cho rằng chúng ta không thể quản lý vận hành nhà máy điện hạt nhân trong tương lai là không có cơ sở khoa học. Như đã nói ở trên, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt- một mô hình thu nhỏ của nhà máy điện hạt nhân do Mỹ bỏ lại sau chiến tranh - đã được chúng ta khôi phục, cải tiến, bảo dưỡng, vận hành an toàn và khai thác có hiệu quả trong 20 năm qua, là một bằng chứng sinh động cho nhận định trên. Ngoài ra, rất nhiều công trình công nghiệp lớn, hiện đại, đòi hỏi độ an toàn cao của quốc gia như thủy điện lớn, nhiệt điện khí, điều khiển máy bay, quản lý cảng hàng không… đội ngũ cán bộ của ta đã hoàn toàn làm chủ được. Không lẽ con người Việt Nam lại kém hơn các dân tộc khác, không thể quản lý và vận hành được nhà máy Điện Hạt Nhân. Vấn đề là phải sớm có quyết định chủ trương phát triển Điện Hạt Nhân. Có dấn thân vào làm, ta mới có cơ hội đào tạo đội ngũ trong ngành để sẵn sàng tiếp thu và làm chủ công nghệ Điện Hạt Nhân.