NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Những hậu Qủa Của Tham Nhũng - TS Nguyễn Ngọc Hùng

Tham nhũng tiếng anh gọi là corruption, xuất phát từ tiếng La-Tinh corrumpere, có nghĩa là hư hỏng, bại hoại, tiêu hủy. Tổ chức minh bạch quốc tế (Transparency International) định nghĩa tham nhũng là lạm dụng chức vụ hay quyền hành của cơ quan chính quyền hay cơ sở kinh tế thương mại làm ích lợi cho cá nhân.

Qua định nghĩa trên, tham nhũng bao gồm cả hối lộ, lợi lộc cá nhân do chức vụ đem đến, chọn người quen, người thân vào những chức vụ mà lẽ ra nhiều người khác có thể làm nhiệm vụ đó tốt hơn, quyết định không dựa trên nền tảng ích lợi của đơn vị (công ty, thương, xí nghiệp, thành phố, quốc gia vv...) mà người có quyền quyết định, như chọn công ty, thực hiện dự án không qua tiêu chuẩn giá cả, chất lượng hay những tiêu chuẩn đặc biệt đã được qui định (ưu tiên cho những công ty trong vùng để yểm trợ phát triển địa phương hay giảm tình trạng thất nghiệp của điạ phương vv...) mà theo tiêu chuẩn bè phái cá nhân hay đổi chác vv...

Ngày 31-07-2002 Gregor Gysi, cựu chủ tịch đảng dân chủ xã hội chủ nghĩa (hậu thân của đảng xã hội thống nhất Đức SED) đã từ chức bộ trưởng kinh tế tiểu bang Berlin (Đức) với lý do đã xử dụng vé máy bay do hãng hàng không Lufthansa tặng cho chuyến du lịch tư. Trong những chuyến công vụ với hãng hàng không Lufthansa, Gregor Gysi cũng như mọi hành khách khác được một số điểm của hãng hàng không này, khi thu thập được một số điểm nhất định hành khách sẽ được tặng 1 vé máy bay. Gysi đã dùng vé máy bay này cho chuyến du dịch tư.

Thống đốc ngân hàng liên bang Đức, Erst Weltecke tham dự dạ hội cho mừng sự dẫn nhập đồng Euro trong giao thừa 2001-2002 đã để Dresdner Bank, một ngân hàng tư nhân Đức trả tiền khách sạn cho gia đình. Tháng 8-2004 sự kiện được báo chí phanh phui, Weltecke phải trả lại tiền cho Dresdner Bank và từ chức.

Tham Nhũng làm thay đổi mọi lãnh vực trong trong xã hội như kinh tế, luật pháp quốc gia, dân chủ, luân lý, giáo dục vv... Những tổn thất do tham nhũng gây nên thật khó đo lường cho hết, những tổn thất thuộc về vật chất như:

- Cản trở đầu tư nước ngoài .

- Thất thoát vốn đầu tư trong nước .

- Giảm tốc độ làm việc, sản xuất .

- Giá sản phẩm đắt hơn thực tế, lương tăng theo nhịp độ giá hàng hóa, sức cạnh tranh với nước ngoài yếu hơn .

- Phá hủy chỗ làm, thất nghiệp cao.

- Nợ quốc gia tăng qúa mức thực tế.

- Hạn chế phát triển kinh tế.

Tham nhũng không những lũng đoạn xã hội về mặt vật chất mà còn làm băng hoại xã hội về mặt tinh thần như :

- Nhân tài không được trọng dụng dẫn đến tình trạng thất thoát ra nước ngoài (chảy máu chất xám) .

- Gia tăng tệ nạn xã hội .

- Luật pháp quốc gia bị lũng đoạn .

- Nền tảng xã hội bị hủy hoại, đạo đức bị suy đồi .

- Phản giáo dục, làm gương xấu cho những thế hệ sau .

Những tác hại về mặt tinh thần nêu trên là điều kiện căn bản cho sự phát triển một xã hội lành mạnh và cũng là điều kiện tiên quyết cho việc phát triển kinh tế, một quốc gia giầu mạnh.

Cản trở đầu tư nước ngoài

Mục đích đầu tư của thương gia nước ngoài là lợi nhuận, họ đầu tư vào những nơi có lợi nhuận cao, nơi mà quyền lợi và của cải đầu tư của họ được bảo đảm. Trong một nước tham nhũng cao, luật pháp thường lỏng lẻo không bảo đảm được tài sản của người đầu tư. Trong quá khứ xác xuất thất thoát tài sản đầu tư ở những nước do tham nhũng gây nên không phải là những con số khiêm nhượng.

Kết quả của nhiều tham khảo đã khẳng định sự tương quan đồng thuận giữa tham nhũng và đầu tư nước ngoài - những nơi có mức tham nhũng cao thì đầu tư nước ngoài thấp.

Thất thoát vốn đầu tư trong nước

Để có thể che dấu hành động tham nhũng và cũng nhằm bảo đảm tài khoản tham nhũng được, những nhân vật tham nhũng thường chuyên tài khoản này ra nước ngoài. Có người lập những trương mục bí mật tại Thụy sĩ, Luxembourg v.v... Có người dùng tiền tham nhũng lập những thương, xí nghiệp ở nước ngoài với chủ nhân là những người thân tín. Nếu tài khoản này không bị chuyển ra nước ngoài sẽ được dùng chi phí cho các dự án, đầu tư ở trong nước để phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân.

Giảm tốc độ làm việc, sản xuất

Hầu có thể nhận được tiền hối lộ, những cán bộ, nhân viên hữu trách phải kéo di thời gian giải quyết sự việc để người trong cuộc phải trả tiền. Những dự án không có tham nhũng, mọi thành viên hữu trách của dự án gắng sức đạt kết quả cao về số lượng cũng như về phẩm chất, trong khi những dự án có tham nhũng ỷ lại, làm qua loa có lệ vì “đút tiền là xong!”.

Mối tương quan giữa sản xuất và tham nhũng : Những nơi có tham nhũng cao mức độ sản xuất thấp, ngược lại những nơi có tham nhũng thấp ở đó mức độ sản xuất cao.

Giá sản phẩm đắt hơn, lương tăng theo nhịp độ giá hàng hóa, sức cạnh tranh với nước ngoài yếu hơn

Tốc độ làm việc giảm ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất cũng như dịch vụ, mặt khác tiền trả cho tham nhũng làm tăng thêm phí tổn sản xuất. Số luợng sản xuất giảm, chất lượng kém hơn trước, tổn phí sản xuất tăng, những sự kiện này làm tăng gía sản phẩm nhưng với chất lượng kém hơn trước đây, sức cạnh tranh với những quốc gia khác do đó yếu hơn trước. Vật giá gia tăng nhanh, lạm phát ngày càng cao hơn, lưong nhân công cũng phải tăng phù hợp với vật giá. Nếu lương không tăng kịp với vật gía, đời sống của công, nhân viên bị giảm xuống, đến một mức độ nào đó sẽ xảy ra những cuộc đấu tranh gay gắt. Một khi có những cuộc đấu tranh gay gắt xảy ra, lương trả cho công nhân viên sẽ tăng nhảy vọt vì không chỉ để chỉnh những khác biệt của hiện tại mà còn trong quá khứ. Lương tăng, sản phẩm cũng phải tăng cho phù hợp, người tham nhũng đòi hỏi nhiều tiền hối lộ hơn trước. Vòng luẩn quẩn cứ mãi xoay tròn đến một lúc nào đó giá sản xuất ở Việt Nam cao hơn những nước khác.

Phá hủy chỗ làm, thất nghiệp cao

Khi giá sản xuất tại Việt Nam cao hơn những quốc gia khác, những nhà đầu tư ngoại quốc sẽ dời sản xuất qua những quốc gia với giá sản xuất thấp hay tham nhũng thấp hơn, việc làm trong nước do đó ít đi. Đồng thời tài khoản tham nhũng bị chuyển ra nước ngoài thay vì để đầu tư trong nước tạo công ăn việc làm cho dân chúng. Những tác dụng đó hỗ tương với nhau tạo nên tỷ lệ thất nghiệp cao.

Trong thập niên 90 ba tổng công ty GEC Alsthom (của Anh và Pháp), Siemens (Đức) và Hyundai (Nam Hàn) tranh nhau hối lộ cho những viên chức có thẩm quyền quyết định ký kết hợp đồng thi công xây dựng tuyến đường tầu tốc hành tại Nam Hàn. Cuối cùng GEC Alsthom thắng thầu, 2 đối thủ thua đã chi hàng chục triệu USD (Siemens chi 70 triệu DM ), tương đương 35 triệu EUR). Để cân bằng 2 tổng công ty này phải xa thải nhân công.

Nợ quốc gia tăng quá mức thực tế

Phí tổn của những dự án xây dựng hạ tầng cơ sở thường được chi phí do tiền vay từ nước ngoài. Để có thể nhận thi công dự án, các công ty đấu thầu phải trả tiền hối lộ, những người có quyền quyết định sẽ chọn công ty nào trả tiền hối lộ cao nhất, chi phí cho tham nhũng được công ty thi công đấu thầu tính vào dự án, nên tổn phí dự án cao hơn thực tế. Những cuộc kiểm tra chất lượng từng phần của dự án do đút lót không được thi hành đúng đắn, nên những dự án bị ảnh hưởng tham nhũng thường thiếu phẩm chất. Thay vì những công ty thi công bắt buộc phải khắc phục những thiếu sót miễn phí thì lại được nhận thêm hợp đồng với tiền trả ngoại lệ cho việc khắc phục những khuyết điểm của dự án. Qua đó tổn phí dự án tăng thêm và quốc gia phải mang nợ nhiều hơn, khoảng 1/3 tổng số nợ của các nước phát triển do tham nhũng gây ra. ngoài ra tham nhũng làm giảm thu nhập hay tăng chi phí quốc gia, thí dụ như đút lót nhân viên hữu trách để trả ít thuế, để khỏi trả tiền phạt, gian lận, ăn cắp của công vv... do đó chính phủ phải mượn nợ nhiều hơn cho những chi phí quốc gia.

Hạn chế phát triển kinh tế

Khi những điều kiện cho sự phát triển kinh tế bị huỷ diệt như vốn trong nước bị thất thoát ra nước ngoài, vốn từ nước ngoài đầu tư nhỏ giọt, lương nhân công cao, giá sản phẩm cao, sức cạnh tranh với nước ngoài yếu vv... kinh tế trong nước sẽ chậm phát triển hoặc giả có thể gây khủng hoảng kinh tế như trường hợp nhiều nước ở Nam Mỹ .

Nhân tài không được trọng dụng dẫn đến tình trạng thất thoát nhân tài ra nước ngoài, cản trở phát triển khoa học kỹ thuật

Trong đại học phải có “bồi dưỡng“ thầy, cô mới được đề tài tốt nghiệp phù hợp sở thích, điểm cao. Khi tốt nghiệp ra trường, ngoài tiền bồi dưỡng phải quen biết lớn mới có chỗ làm tốt, hợp sở thích.Trong hoàn cảnh như vậy, nhân tài khó có thể phát triển, nếu có phát triển được nhưng không quen biết và không có tiền để hối lộ cũng không được trọng dụng nên họ thường làm việc không đúng ngành. Những người khá hơn, may mắn hơn kiếm việc trong các công ty nước ngoài. Sự thất thoát nhân tài không chỉ thất thoát hiểu biết qua đó cản trở phát triển khoa học kỹ thuật, phát triển kinh tế mà còn làm tăng thất nghiệp trong nước, vì chuyên gia cần thiết cho công việc của họ cần nhiều người phụ giúp, con số người phụ giúp tùy thuộc vào dự án lớn hay nhỏ, có nhiều dự án lớn cần thiết nhiều nghìn người.

Mặt khác các công ty lớn nước ngoài có nhiều tiền cuả, do kinh nghiệm trong lãnh vực hối lộ và quen biết đường giây hối lộ những viên chức hữu trách nên thường thắng thầu các dự án. Các công ty trong nước do không có nhiều hợp đồng nên không có điều kiện và tài chánh cho những công trình nghiên cứu rộng lớn và thu thập kinh nghiệm nghề nghiệp.

Tăng trưởng tệ nạn xã hội

Để công việc không bị cản trở những kẻ phạm pháp tìm cách mua chuộc cán bộ, nhân viên, thành viên chính quyền. Nếu những viên chức này tham nhũng thì hành vi của những kẻ phạm pháp được che chở và trở thành “hợp pháp hoá“. Người dân hàng ngày chứng kiến những hành vi phạm pháp nhưng không bị trừng phạt, dần dần họ quen thuộc với những hành vi này và cuối cùng trở thành bình thường hoá trong xã hội. Kết quả của nhiều bài tham khảo đưa đến kết luận rằng, tham nhũng là một trong những nguyên nhân chính làm tăng trưởng tệ nạn xã hội.

Luật pháp quốc gia bị lũng đoạn

Khi nhận tiền hối lộ những viên chức đã phạm luật pháp, sau khi nhận tiền và để những kẻ hối lộ phạm pháp những viên chức hữu trách đã tự lập ra luật pháp mới và áp dụng chúng thay vì luật pháp quốc gia hiện hành. Nếu trong một quốc gia có 1 triệu viên chức tham nhũng, trong quốc gia đó sẽ có 1 triệu cơ quan lập pháp và hành pháp tư nhân được thực dụng, trong lúc cơ quan lập pháp và hành pháp chính thức của quốc gia chỉ là bù nhìn.

Nền tảng xã hội bị hủy hoại, đạo đức bị tàn phá

Đạo đức, luân lý trong xã hội định nghĩa sự liên hệ, cách đối xử giữa con người với nhau trong xã hội đó. Theo Khổng Giáo con người được giáo dục gìn giữ Tam Cương, Ngũ Thường. Một khi xã hội bị tham nhũng thống trị , tệ nạn xã hội tăng trưởng, những viên chức thay vì bảo vệ luật pháp lại nhận tiền hối lộ bao che những kẻ phạm pháp, người dân trước kia được viên chức tận tình giúp đỡ những khi cần thiết nay bị hạch sách đủ điều . Do đời sống ngày càng khó khăn do tham nhũng gây nên, để sống còn người dân lương thiện cũng phải bất chấp làm mọi việc, kể cả những việc phản đạo đức, phạm pháp. Mối liên hệ, cách đối xử giữa con người với nhau trong xã hội bị thay đổi, giá trị luân lý, đạo đức trước kia bị mất hiệu lực!

Phản giáo dục, làm gương xấu cho những thế hệ sau

Từ khi lọt lòng mẹ trẻ nhỏ đã chứng kiến những lợi lộc do chức vụ đem lại“ hay những “chạy trọt“ nhằm hoán chuyển việc làm bất hợp pháp trở thành hành vi chính nghĩa của cha mẹ, người thân, họ hàng, hàng xóm... Khi đi học đến trường phải tặng quà, phải đi học kèm thêm ở nhà thầy cô mới được điểm tốt... Những tục lệ“ này được hấp thụ từ ấu thơ nên đối với chúng là chuyện thường tình “có tiền mua Tiên cũng được” và “không trò đố thầy dạy ai?”, học trò đương nhiên trở thành “khách hàng” của thầy cô giáo vì “khách hàng là vua” nên học trò không nhất thiết phải cố gắng học hành nhưng vẫn được điểm cao. Khi lớn lên chúng sẽ bắt chước người lớn phạm pháp vì “cha mẹ chúng sẽ dùng tiền biến mọi việc thành chính nghiã!”.

Sáu bài học chống tham nhũng từ Singapore

Trong các bảng xếp hạng, Singapore vẫn thường nằm trong tốp các nước ít tham nhũng nhất thế giới. Trong bảng xếp hạng năm 2005 của Tổ chức Minh bạch quốc tế ( Transparency International ), Singapore đứng thứ năm nhóm nước trong sạch nhất, chỉ sau Iceland, Phần Lan, New Zealand và Đan Mạch.

Để có vị trí này, Singapore đã trải qua một quá trình chuyển hóa không ít khó khăn. Khi đảng Nhân dân hành động (PAP) của ông Lý Quang Diệu lên nắm quyền, họ nhận thức rằng phải chống tham nhũng thì mới đạt được mục tiêu phát triển.

Trong ba yếu tố tạo nên tham nhũng, ban đầu Singapore chưa thể làm gì với yếu tố lương bổng vì năm 1960, đây vẫn là nước nghèo với GDP trên đầu người chỉ là 443 USD. Vì vậy, chính phủ tập trung vào hai yếu tố tạo tham nhũng còn lại : giảm thiểu cơ hội tham nhũng và tăng cường hình phạt

Một luật chống tham nhũng mới ra đời, với 32 phần (thay vì 12 như hồi năm 1937). Có một số sửa đổi quan trọng như án phạt tăng lên năm năm tù, người nhận hối lộ phải trả lại hết tiền đã nhận. Văn phòng điều tra tham nhũng (CPIB) được tăng quyền hạn, với khả năng điều tra “mọi tài khoản ngân hàng” của những ai bị nghi có hành vi phi pháp.

Một người có thể bị khép tội tham nhũng ngay cả khi người đó chưa nhận tiền hối lộ, vì ý định phạm pháp đã đủ để khép tội người này. Công dân Singapore phạm tội nhận hối lộ ở nước ngoài cũng bị xử như phạm pháp trong nước. Cả khi bị cáo qua đời, tòa áncũng có quyền ra lệnhtrưng thu tài sản có được từ tham nhũng.

Cho mãi tới thập niên 1980, khi đã phát triển kinh tế, Singapore mới đủ khả năng làm nốt phần còn lại trong chiến lược chống tham nhũng là tăng lương cho nhân viên. Tháng 3-1985, thủ tướng Lý Quang Diệu tuyên bố các lãnh đạo chính trị cần được trả lương thật cao để bảo đảm chính quyền trong sạch. Ông nói cách hay nhất chống tham nhũng là “đi cùng thị trường”, thay vì thói đạo đức giả đã tạo nên tham nhũng.

Theo giáo sư Jon S.T. Quah, khoa chính trị học ở Đại học Quốc gia Singapore, kinh nghiệm của Singapore không dễ lặp lại ở các nước vì hoàn cảnh đặc thù và vì những chi phí chính trị và kinh tế của việc trả lương cao. Tuy nhiên, có sáu bài học có thể tham khảo.

Thứ nhất : bộ máy lãnh đạo phải thực tâm chống tham nhũng và trừng phạt bất cứ ai có hành vi tai tiếng.

Thứ hai : phải có các biện pháp chống tham nhũng đầy đủ, không có lỗ hổng và thường xuyên được xem lại để thay đổi, nếu cần thiết.

Thứ ba : cơ quan chống tham nhũng phải trong sạch. Không nhất thiết phải có quá nhiều nhân viên, và bất kỳ thanh tra nào tham nhũng cũng phải bị trừng phạt và đuổi ra khỏi ngành

Thứ tư : cơ quan chống tham nhũng phải tách khỏi bộ máy cảnh sát.

Thứ năm : để giảm cơ hội tham nhũng tại các ngành dễ sa ngã như hải quan, thuế vụ, công an giao thông, các cơ quan này phải thường xuyên kiểm tra và thay đổi qui định làm việc.

Thứ sáu : động cơ tham nhũng trong khối nhân viên nhà nước và quan chức có thể giảm bớt nếu lương và phụ cấp cho họ có tính cạnh tranh với khu vực tư nhân.

Và dĩ nhiên, mọi chiến lược đều không thành công nếu lãnh đạo chỉ nói suông và thiếu ý chí chính trị.

Nghiên Cứu : Singapore Chống Tham Nhũng Thế Nào ?

( Theo "Bí quyết hoá rồng" của Lý Quang Diệu - Lee Kwan Yew )

Để xây dựng một Chính phủ trong sạch, Lý Quang Diệu và các đồng sự của ông đã đặt quyết tâm chống tham nhũng lên hàng đầu bằng những biện pháp mạnh mẽ, cứng rắn, quyết đoán và quyết liệt.

Nhờ đó, Singapore tránh được nhiều tổn thất lớn trong quá trình phát triển và tạo dựng được một Chính phủ tài năng, trong sạch, vững mạnh, biến Singapore từ quốc đảo nhỏ bé thành con rồng châu Á với mức thu nhập bình quân đầu người 26.836 đôla Mỹ /năm, đứng hàng thứ 4 trên thế giới.

Xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch ngay từ trứng nước

Khi đảng PAP lên nắm chính quyền vào năm 1959, chúng tôi bắt đầu xây dựng một bộ máy chính quyền trong sạch. Một quyết định quan trọng mà chúng tôi thực hiện trước cuộc tổng tuyển cử tháng 5/1959 là nhấn mạnh quan điểm của chúng tôi đối với tệ tham nhũng.

Sự cám dỗ đang có mặt ở khắp mọi nơi chứ không chỉ riêng ở Singapore. Lấy ví dụ, viên chức đầu tiên tiếp xúc với những người nước ngoài khi họ bước chân vào lãnh thổ một quốc gia chính là nhân viên phòng hải quan và nhập cư. Ở nhiều sân bay tại Đông Nam Á, du khách thường thấy sự chậm trễ trong khâu thủ tục hải quan cho đến khi nào họ đã sẵn sàng một số tiền đút lót đúng lúc (thường là tiền mặt).

Cái thực tế phiền hà ấy cũng hiện diện ở những Cảnh Sát Giao Thông, khi buộc phải ngừng xe do bị vịn vào lý do tốc độ, lái xe phải nộp bằng lái cùng với việc tiếp theo là một số tiền ước lượng bằng đô la để tránh những hành động xa hơn. Các sĩ quan cao cấp cũng chẳng nêu được một tấm gương tốt. Ở nhiều thành phố trong khu vực, thậm chí nhập viện sau một tai nạn giao thông cũng cần một khoản đút lót để được chăm sóc mau lẹ. Những người có chức vụ nhỏ không thể sống nổi bằng đồng lương của họ và thực tế đó đã lôi kéo họ đến sự lạm dụng quyền lực.

Chúng tôi ý thức sâu sắc sứ mệnh của mình là kiến lập một chính quyền trong sạch và hiệu quả. Vào tháng 06/1959, khi tuyên thệ tại nghi lễ nhận nhiệm kỳ ở văn phòng Hội Đồng Nhân Dân thành phố, tất cả chúng tôi đều mặc áo sơ mi trắng và quần trắng tượng trưng cho sự thanh khiết và lương thiện của mình trong hành vi cá nhân cũng như trong cuộc sống cộng đồng. Đây là điều mà nhân dân đã kỳ vọng ở chúng tôi và chúng tôi quyết định phải sống xứng đáng với những kỳ vọng đó...

Tất cả các Bộ trưởng của tôi, ngoại trừ một người, đều là những người đã tốt nghiệp Đại Học. Hết nhiệm kỳ, chúng tôi tin là mình có thể kiếm sống được và những nhà chuyên nghiệp giống như tôi luôn sẵn sàng làm điều đó. Chúng tôi không cần phải dành dụm một cái gì đó để phòng những trường hợp có thể xảy ra. Quan trọng hơn, hầu hết chúng tôi đều có những người vợ lao động có thể nuôi dưỡng gia đình nếu chúng tôi bị vào tù hay không còn xuất sắc trong công việc được nữa. Yếu tố này định hướng quan điểm của các Bộ trưởng và vợ của họ. Khi các Bộ trưởng chiếm được lòng tin và lòng kính trọng của người dân, các công chức còn có thể ngẩng cao đầu và tự tin ra quyết định.

Từ ngày lên nắm chính quyền vào tháng 06/1959, chúng tôi chắc chắn rắng mỗi đồng đô la trong tổng thu nhập đều phải được giải thích một cách hợp lý và sẽ đến với người dân nguyên vẹn là một đồng đô la mà không bị rút bớt đi ở dọc đường. Vì vậy, ngay từ buổi đầu, chúng tôi đã đặc biệt chú ý đến những lĩnh vực mà sự lộng quyền được khai thác cho lợi ích cá nhân và đồng thời mài nhọn những công cụ có thể ngăn chặn, phát hiện và cản trở những thủ đoạn này.

Chúng tôi quyết định tập trung vào những người đảm nhận chức vụ lớn ở các cơ quan hành chính cấp cao và cho CPIB (Ban Điều tra hành vi tham nhũng - người Anh thành lập vào năm 1952), hướng vào mục tiêu mà chúng tôi ưu tiên. Đối với những đối tượng nhỏ hơn, chúng tôi đơn giản hoá thủ tục, tẩy trừ sự lạm quyền bằng đường lối chỉ đạo được công bố rõ ràng, thậm chí huỷ bỏ nhu cầu cấp giấy phép hoặc phê chuẩn trong những phạm vi ít quan trọng. Mỗi khi chúng tôi gặp khó khăn trong việc kết tội khi truy tố, chúng tôi siết chặt hơn luật pháp trong lĩnh vực đó.

Tăng tiền phạt tối đa tội tham nhũng từ 10.000 đô la Sing lên 100.000

Năm 1960, chúng tôi thay đổi Luật chống tham nhũng đã lỗi thời của năm 1937 và mở rộng định nghĩa về quà cáp để chỉ bất cứ thứ gì có giá trị. Sự sửa đổi này nới rộng quyền lực của các điều tra viên, kể cả quyền bắt giữ, khám xét, thanh tra tài khoản ngân hàng, số ghi tiền gửi ngân hàng của những kẻ bị tình nghi cũng như của vợ, con và thuộc hạ của họ. Người quản lý thuế thu nhập buộc phải đưa ra những thông tin có liên quan tới bất kỳ ai đang bị điều tra.

Luật hiện hành quy định rằng, chứng cứ do kẻ đồng phạm khai ra không có giá trị tin cậy trừ phi được chứng minh. Chúng tôi đã thay đổi bằng cách cho phép các quan toà chấp nhận lời khai của kẻ đồng phạm là chứng cứ.

Với sự nhạy bén, tinh tế và quyền hạn được điều tra bất kỳ viên chức hay vị Bộ trưởng nào, vị Giám đốc của CPIB, đang làm việc tại Phủ Thủ tướng, nổi danh trong việc phát hiện ra những kẻ phản bội lại lòng tin của nhân dân.

Năm 1963, chúng tôi thực hiện việc bắt buộc các nhân chứng, được triệu tập bởi CPIB, phải có mặt để cung cấp thông tin. Năm 1989, chúng tôi tăng tiền phạt tối đa đối với tội tham nhũng từ 10.000 đô la Sing lên đến 100.000 đô la Sing. Cung cấp thông tin giả hoặc lừa dối CPIB sẽ bị phạt tù và số tiền nộp phạt lên đến 10.000 đô la Sing, các quan toà được quyền sung công những khoản tiền có nguồn gốc từ tham nhũng.

Đưa ra những chuẩn mực đạo đức cao, lên án mạnh mẽ và đề ra quyết tâm tiêu diệt tham nhũng thì dễ dàng. Nhưng sống theo những lý tưởng tốt đẹp này thì vô cùng khó khăn, trừ phi người lãnh đạo có đủ mạnh mẽ và quyết tâm để đương đầu với kẻ phạm tội và không có sự ngoại lệ nào. Nhân viên CPIB phải được ủng hộ để thực thi luật, không e dè hay thiên vị.

Trả lương tương xứng năng lực

Điều kiện tiên quyết đối với một chính quyền lương thiện là những người ứng cử không phải cần đến một số tiền lớn để được đắc cử, nếu không nó sẽ khởi sự một chu trình tham nhũng. Nguyên nhân suy sụp của hầu hết các quốc gia châu Á chính là cái chi phí quá cao của những cuộc bầu cử. Sau khi đã chi một số tiền lớn để được đắc cử, người chiến thắng sẽ phải kiếm chác để bù lại chi phí mà họ đã bỏ ra và còn phải tích luỹ những khoản quỹ dành chi cho cuộc bầu cử tới.

Singapore tránh sử dụng tiền cho mục đích thắng cử. Là người lãnh đạo của phe đối lập, năm 1959, tôi thuyết phục Lim Yew Hock thực hiện việc bỏ phiếu bắt buộc và cấm sử dụng xe hơi để đưa cử tri đi bỏ phiếu. Chi phí dành cho cuộc bầu cử của chúng tôi rất thấp, dưới cả mức tiền mà luật cho phép.

Họ bỏ phiếu cho chúng tôi nhiều lần vì chúng tôi đã cung cấp việc làm, xây dựng trường học, bệnh viện, trung tâm cộng đồng và quan trọng hơn hết là những ngôi nhà mà họ sở hữu. Đó là những lợi ích đáng kể làm thay đổi cuộc sống của họ và thuyết phục họ rằng tương lai của con cháu họ đặt trong tay của PAP.

Mặt khác, Singapore đã chứng minh rằng, một hệ thống bầu cử trong sạch, không có ảnh hưởng của đồng tiền sẽ giúp duy trì một chính phủ lương thiện. Tuy nhiên, Singapore chỉ giữ được sự trong sạch và lương thiện khi nào những con người lương thiện và đầy năng lực sẵn sàng tham gia ứng cử và nắm giữ chức vụ. Họ phải được trả một mức lương tương xứng với những gì mà một người có khả năng và liêm chính có thể được hưởng khi điều hành một công ty lớn hay đang làm những công việc có tính chuyên môn khác. Họ phải quản lý được một nền kinh tế Singapore mà trong hai thập niên qua đạt mức tăng trưởng hằng năm từ 8% đến 9%, và mức GDP bình quân đầu người, theo Ngân hàng Thế giới ước tính, đứng thứ 9 trong những nước cao nhất trên thế giới.

Nếu chúng tôi trả lương quá thấp cho những người đảm nhận chức vụ Bộ trưởng thì chúng tôi không thể kỳ vọng họ ở lại lâu với chức vụ mà tiền lương chỉ bằng một phần nhỏ những gì họ có thể kiếm được ở bên ngoài. Với mức tăng trưởng kinh tế cao và tiền lương cao hơn trong khu vực tư nhân, lương của các Bộ trưởng phải tương xứng với mức lương của những người tương đương với họ trong khu vực tư nhân. Chính vì đồng lương thấp mà các Bộ trưởng và công chức đã làm sụp đổ nhiều chính quyền tại châu Á. Sự trả công thoả đáng là nhân tố quan trọng đối với chuẩn mực liêm khiết của hàng ngũ những nhà lãnh đạo chính trị và viên chức cao cấp.

Điều chỉnh lương khu vực Nhà nước ngang bằng khu vực tư nhân

Sau khi độc lập, tôi hạn định lại tiền lương của các Bộ trưởng, giữ cho mức lương ở các cơ quan dân chính tăng ở mức độ thấp để chúng tôi có thể đương đầu với nạn thất nghiệp và sự tụt hậu của nền kinh tế đồng thời nêu tấm gương về sự chừng mực. Năm 1970, khi tình trạng thất nghiệp không còn trầm trọng nữa, không khí đã dễ thở hơn, tôi tăng lương cho các Bộ trưởng từ 2.500 đôla Sing lên 4.500 đôla Sing một tháng nhưng giữ cố định lương của tôi ở mức 3.500 đôla Sing để nhắc nhở cơ quan dân chính rằng, sự chừng mực vẫn là cần thiết. Cứ vài năm tôi lại tăng lương cho các Bộ trưởng để thu hẹp khoảng cách rộng lớn với mức lương trong lĩnh vực tư nhân.

Khi tôi còn là một Bộ trưởng cấp cao, năm 1994 tôi đã đề nghị lên nghị viện rằng chính phủ nên đặt ra một phương án nhằm tự động hoá việc xét duyệt lương các Bộ trưởng, quan toà, và các công chức hàng đầu theo bản báo cáo thuế thu nhập của khu vực tư nhân. Với mức tăng trưởng kinh tế từ 7% đến 10%/năm trên hai thập niên qua, tiền lương trong khu vực Nhà nước luôn chậm lại sau khu vực tư nhân từ hai đến ba năm.

Năm 1995, Thủ tướng Goh quyết định chọn phương thức mà tôi đề nghị rằng sẽ gắn lương các Bộ trưởng và các viên chức cao cấp với mức lương ở vị trí tương ứng trong khu vực tư nhân. Điều này sẽ tự động làm cho thu nhập của họ tăng khi thu nhập trong khu vực tư nhân tăng.

Trong cuộc tổng tuyển cử 18 tháng sau đó, Thủ tướng thông qua toàn bộ cử tri mặc dù phe đối lập khai thác vấn đề tiền lương của các Bộ trưởng. Người dân cần một chính phủ trong sạch, lương thiện và tài giỏi nhằm mang lại những thành quả tốt đẹp. Và đó chính là những gì mà đảng PAP đã đạt được.

Hiện tại, không quá khó khăn trong việc tuyển chọn nhân tài từ khu vực tư nhân. Trước khi phương án tiền lương được thực thi, các luật sư giỏi kiếm được 2 triệu đôla Sing. Nếu không có sự thay đổi này, chúng tôi không bao giờ có thể bổ nhiệm được những luật sư giỏi nhất vào bộ máy tư pháp. Chúng tôi còn kết hợp lương của bác sĩ và những nhà chuyên môn khác trong cơ quan Nhà nước với thu nhập của những người tương đương họ trong khu vực tư nhân. Phương án tiền lương này không có nghĩa là gia tăng lương mỗi năm, vì thu nhập trong khu vực tư nhân có thể tăng hoặc giảm. Điển hình là sự kiện năm 1995 khi thu nhập trong khu vực tư nhân giảm xuống, do đó năm 1997 lương các Bộ trưởng và viên chức cao cấp cũng bị giảm theo.

Bầu một tổng thống có sự uỷ thác độc lập từ cử tri để chống tham nhũng

Để đề phòng những người thiếu trung thực và không lương thiện vào bộ máy Chính phủ, trong một buổi mít tinh chào mừng Ngày Quốc khánh vào tháng 08/1984, tôi đã đề nghị nên bầu ra một tổng thống để bảo vệ đội ngũ viên chức dự bị của quốc gia. Tổng thống cũng sẽ có những quyền cao hơn cả một Thủ tướng, chẳng hạn, tổ chức các cuộc điều tra tham nhũng đối với chính Thủ tướng và các Bộ trưởng của ông ta hoặc các viên chức cao cấp, và có quyền phủ quyết sự bổ nhiệm không thích hợp vào các vị trí cao cấp như chánh án, bộ trưởng quốc phòng, tổng nha cảnh sát. Một tổng thống như thế sẽ cần đến sự uỷ thác độc lập từ cử tri.

Nhiều người cho rằng tôi đang chuẩn bị một chức vụ cho bản thân tôi sau khi rời khỏi chức vụ Thủ tướng. Thực sự tôi chẳng có chút hứng thú nào đối với chức vụ cao cấp này vì nó quá thụ động so với tính khí của tôi. Kế hoạch đề xuất này và những vấn đề liên quan đến nó được thảo luận tự do tại nghị viện năm 1988. Vài năm sau đó, vào năm 1992, Thủ tướng Goh Chok Tong bổ sung hiến pháp chuẩn bị cho việc bầu cử chức vụ Tổng thống. Chúng tôi phải giữ thăng bằng giữa quyền lực của tổng thống và quyền lực tự do hợp pháp của thủ tướng cùng với nội các của ông.

Khi các quốc gia Đông Á từ Hàn Quốc đến Indonesia bị tổn thất bởi cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, tham nhũng và chủ nghĩa gia đình trị làm tình trạng của họ càng thêm khốn khổ. Singapore khắc phục cuộc khủng hoảng tốt hơn vì không có nạn tham nhũng và không có sự tồn tại của chủ nghĩa gia đình trị, hai yếu tố vốn đã làm cho các quốc gia khác phải tổn thất hàng tỉ bạc.

Trong đoạn viết về "xây dựng một chính phủ trong sạch" , Thủ tướng Lý Quang Diệu cũng dẫn chứng quyết tâm bài trừ tham nhũng của ông bằng việc thẳng tay cương quyết xử lý cả những đồng sự thân cận có dính líu đến tệ nạn này. Trong đó, nhiều vụ nổi bật gây xôn xao trên báo chí. Ví như vụ ông sa thải, tước bỏ mọi quyền hạn của Bộ trưởng Phát triển quốc gia - Tan Kia Gan, lúc đó là Giám đốc hãng hàng không Malaya, vì ông này mượn tay người khác đòi hoa hồng cho việc mua máy bay Boeing; Quốc vụ khanh của Bộ Môi trường năm 1975 là Wee Toon Boon cũng bị bắt giam và bị kết án 4 năm 6 tháng tù (sau đó được giảm nhẹ còn 18 tháng) vì tội nhận hối lộ.

Đặc biệt là trường hợp của Teh Cheang Wan, Bộ trưởng Phát triển quốc gia, sau khi bị phát hiện tham nhũng, nhận hối lộ đã xin được gặp Lý Quang Diệu nhưng ông từ chối với lý do "không thể gặp cho đến khi nào cuộc điều tra kết thúc" . Cuối cùng, Teh Cheang Wan đã tự sát để chuộc lỗi.