NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Việt Nam phải sống với hệ quả quyết định của mình

Giải pháp nâng lãi suất chỉ phát huy tác dụng trong những nền kinh tế thị trường đầy đủ. Việt Nam chưa phải là nền kinh tế ấy. Trong một số trường hợp, Chính phủ cần lắng nghe các ý kiến đa chiều, cần chỉ đạo trực tiếp, cần biết nói không với những dự án đầu tư không hiệu quả... Đó là nhận định của Giáo sư Dwight Perkins, Chủ nhiệm chương trình Việt Nam, Đại Học Harvard.

Giáo sư Dwight Perkins là chuyên gia hàng đầu của Mỹ về Đông Á, là đồng tác giả của 19 cuốn sách và nhiều bài viết về lịch sử kinh tế, phát triển kinh tế, đặc biệt về Đông Á và Đông Nam Á, trong đó có nhiều phân tích sâu sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường.

Ông cũng từng tham vấn chính sách cho nhiều nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Papua New Guinea và là nhà tư vấn cho Ngân hàng Thế giới, quỹ Ford, cùng nhiều tổ chức của Mỹ.

Cơ chế lắng nghe đa chiều để có chính sách tốt

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam gặp khó khăn, Chính phủ đã chủ động gặp gỡ và lắng nghe các ý kiến từ bên ngoài, trong đó có nhóm Harvard. Ông nhìn nhận ra sao?

Luôn là đúng đắn khi các chính phủ hướng ra bên ngoài và đón lấy các ý tưởng. Điều này đúng đối với chính quyền Mỹ cũng như với chính phủ VN.

Điều này tốt hơn việc bạn chỉ nghe ý kiến của người bên trong, mà đa phần những người này thường lạc trong một số quan điểm nhất định. Đôi khi quan điểm đó đúng, nhưng cũng có khi quan điểm đó là sai. Trong trường hợp thứ hai, lắng nghe bên ngoài là cách để bứt phá ra khỏi con đường đó.

Tất nhiên, những người bên trong thường biết nhiều tình hình cụ thể hơn, nhưng họ cũng có lợi ích riêng của mình. Lợi ích đó đóng đinh họ với những gì họ nói và làm.

Lắng nghe bên ngoài là cách bạn lùi lại đằng sau để nhìn về chính sách và các bước đi.

Ví dụ với nước Mỹ, Ngân hàng Trung ương Mỹ, tức FED, có quyền đưa ra các chính sách tiền tệ và tăng trưởng tín dụng, nhưng những người đứng đầu ngân hàng không bao giờ chỉ nhìn vào các con số báo cáo. Họ thường ra ngoài, lắng nghe các kinh tế gia nói.

Về mặt cá nhân, người đứng đầu các ngân hàng Mỹ rất thông minh, nhưng cũng có thể có điểm họ chưa nghĩ tới. Đó là lý do họ đi ra ngoài và tìm kiếm các ý tưởng, góc nhìn từ người khác để có bức tranh rõ ràng.

Những ý kiến bên ngoài không phải lúc nào cũng đúng, thậm chí là sai; và quan trọng hơn, những nhóm khác nhau thường có quan điểm trái ngược nhau. Nhưng càng nhiều ý kiến bên ngoài, tình hình càng có cơ tốt đẹp hơn bởi bạn được tiếp cận gần hơn với bức tranh thực.

Ngay cả khi là chuyên gia về các thông số, bạn cũng cần có những chuyên gia bên ngoài phân tích các thông số ấy và kiểm chứng nó. Ở Mỹ, chính phủ thường đưa ra các dự đoán về tương lai kinh tế. Nhưng chính phủ lại được lãnh đạo bởi các chính trị gia, những người muốn được bỏ phiếu bầu. Do đó, điều đương nhiên là họ muốn có những con số đẹp, những thông số tốt về bức tranh kinh tế - xã hội dù có thể thực tế dự báo không tốt như vậy.

Vì thế, cũng là dễ hiểu khi người ta không chú ý vào các dự báo của chính phủ mà quan tâm hơn tới các dự báo của bên ngoài.

Với Việt Nam, các bạn cần có một cơ chế lắng nghe đa chiều như vậy để đảm bảo có được những chính sách kinh tế tốt.

Việt Nam phải sống với hệ quả quyết định của mình

Vừa qua, Harvard cũng đã gửi tới Chính phủ Việt Nam hai bản báo cáo về kinh tế Việt Nam. Cho tới thời điểm này, phản hồi từ phía Chính phủ như thế nào ?

Công việc của Chính phủ Việt Nam không phải là phản hồi lại với chúng tôi, rằng họ đồng ý hay không. Chúng tôi quan sát tình hình và đưa ra phân tích, nhận định, quan điểm của mình và gửi tới Chính phủ.

Chúng tôi là một trong những nhóm đưa ra các quan điểm, góc nhìn; ý kiến đó hoặc đúng hoặc sai, và trách nhiệm thuộc về Chính phủ, không phải chúng tôi.

Công việc của các bạn là lắng nghe các ý kiến, và đưa ra quyết định. Việt Nam phải sống với hệ quả của quyết định đó, chúng tôi thì không.

Giải pháp thị trường cho nền kinh tế thị trường cạnh tranh

Là người ở bên ngoài nhưng hiểu Việt Nam khá rõ, ông có thể nói cụ thể hơn các vấn đề mà nền kinh tế Việt Nam đang gặp phải ?

Tình hình kinh tế Việt Nam khác xa so với thời điểm năm 1989 - 1991 khi tôi bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam. Thời điểm đó, Việt Nam bắt đầu thay đổi hoàn toàn cách thức hoạt động của cả nền kinh tế, từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường. Đến thời điểm này, vấn đề của Việt Nam cần tập trung là làm thế nào quản lý được nền kinh tế thị trường hiệu quả.

Bản chất của khủng hoảng những năm đầu thập niên 1990 hoàn toàn khác với thời điểm này, do khủng hoảng thời đó chịu tác động từ sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Đông Âu và lạm phát cao hơn rất nhiều. Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam cũng gặp một số vấn đề nghiêm trọng đã từng xuất hiện ở thời điểm đó : lạm phát cao và thâm hụt thương mại lớn.

Các bạn phải đưa thâm hụt thương mại và lạm phát xuống. Hai mục tiêu đó riêng rẽ và cần hai biện pháp khác nhau để giải quyết.

Vào thời điểm này, Việt Nam là một nền kinh tế thị trường cạnh tranh, do đó các giải pháp đưa ra phải là các giải pháp thị trường.

Giải pháp nào cho Việt Nam, thưa ông ?

Với thâm hụt thương mại, các bạn cần cắt giảm chi tiêu. Theo tôi biết, Việt Nam quyết tâm cắt giảm chi tiêu công, đặc biệt là với các tập đoàn lớn.

Các bạn cũng có thể hạ giá tiền đồng để tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu. Một vấn đề với giải pháp này là nó có xu hướng làm tăng lạm phát.

Bạn không thể chỉ giảm giá tiền đồng mà cách thức tốt hơn là cắt giảm chi tiêu, với số lượng lớn. Giải pháp cắt chi tiêu cũng giúp giảm lạm phát.

Vấn đề đặt ra là bạn sẽ cắt giảm chi tiêu như thế nào? Trong một nền kinh tế thị trường đầy đủ, bạn chỉ cần đẩy lãi suất lên. Tôi không nghĩ Việt Nam đã là một nền kinh tế thị trường đầy đủ, cũng giống như Trung Quốc vậy. Trung Quốc đã phải hạn chế việc các ngân hàng cho vay tiền bằng cách yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng, và hệ quả là các ngân hàng không thể cho vay thêm.

Tôi không biết đầy đủ chi tiết về tình hình các ngân hàng Việt Nam vào thời điểm này để nói câu trả lời chính xác cho vấn đề của Việt Nam là gì. Nhưng những quyết định mạnh mẽ về cắt giảm chi tiêu cần phải được đưa ra và thực hiện sớm.

Mối hiểm nguy trước mặt

Trong giải pháp 8 điểm của Chính phủ đưa ra, việc cắt giảm chi tiêu công cũng được xem là một vấn đề ưu tiên, tuy nhiên, đến thời điểm này cũng chưa được thực hiện đầy đủ...

Về nguyên tắc, con số cắt giảm phải rất lớn, vần đề là làm thế nào để cắt mà không làm tổn hại tới những khu vực, vấn đề cần được triển khai? Cần nhiều đầu tư tốt. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều DN đầu tư không hiệu quả. Làm thế nào các bạn có thể kiểm soát được tình hình này?

Đối với các tập đoàn lớn của nhà nước, Chính phủ có sự chỉ đạo trực tiếp. Vấn đề chỉ còn là Chính phủ có trực tiếp yêu cầu hay không.

Với tôi thì rất dễ trả lời, vì tôi không có những ràng buộc và trách nhiệm, không phải chính trị gia hay người dân Việt Nam. Chính các bạn phải chỉ ra điều gì cần làm để đạt kết quả tốt nhất.

Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm gì từ các nước ?

Có rất nhiều bài học tồi tệ mà Việt Nam có thể nhìn vào để thấy điều gì sẽ xảy ra nếu không làm gì cả. Nếu các bạn không làm gì khác, sẽ tiếp tục có những dự án đầu tư tồi. Đó sẽ là một vấn đề nghiêm trọng ngay cả khi thâm hụt thương mại không lớn. Hãy nhìn vào những gì Indonesia, Hàn Quốc đã làm.

Hàn Quốc là một ví dụ điển hình. Trong những năm 1996 - 1997, nước này có nhiều Doanh Nghiệp tư nhân, đồng thời có những tập đoàn rất lớn. Các tập đoàn có mối liên hệ rất gần gũi, chặt chẽ với chính phủ, thường xuyên đề nghị chính phủ bảo vệ. Họ đầu tư vào mọi lĩnh vực ngay cả khi không biết gì về lĩnh vực đó. Việc này góp phần làm thâm hụt thương mại lớn và đầu tư xấu. Họ chi rất nhiều để trả các khoản vay nợ nước ngoài, và tất nhiên quản lý kinh tế vĩ mô yếu, dự trữ ngoại hối về gần với mức 0.

Kết quả là khi chính phủ phát hiện ra mình không còn dự trữ ngoại hối, còn các tập đoàn bị các ngân hàng của Nhật Bản, Mỹ, châu Âu từ chối không cho vay và yêu cầu trả nợ, trả những khoản vay ngắn hạn, thì các tập đoàn phải tự mình trả nợ. Theo cách thông thường, họ tìm đến ngân hàng Hàn Quốc và đề nghị cho vay nợ để trả nợ. Chính phủ và các ngân hàng Hàn Quốc đều từ chối cấp tiền. Vậy là các tập đoàn không thể trả nợ. Tất cả đều bị phá sản.

Những kịch bản như vậy có thể xảy ra nếu bạn không kiểm soát chặt tình hình.

Tôi không nói rằng Việt Nam sẽ lâm vào tình thế này nhưng tôi muốn lưu ý mối nguy hiểm của việc đảm bảo rằng tình hình được kiểm soát, để các tập đoàn kinh tế không rơi vào tình thế tương tự.

Chính phủ cần biết nói "không"

Mô hình hay cách thức Việt Nam có thể áp dụng trong cắt giảm chi tiêu là gì ?

Cách thức duy nhất Việt Nam có thể áp dụng để cắt giảm chi tiêu là kiểm soát trực tiếp với những dự án mà Việt Nam đang tiến hành, nói rằng "Các anh phải dừng dự án lại!".

Đây có vẻ không phải là cách hành xử kiểu thị trường, nhưng rất nhiều dự án lớn kém hiệu quả là của các Doanh Nghiệp Nhà Nước với chi tiêu lớn. Và giải pháp thực tế duy nhất là chấm dứt nó.

Chính phủ có quyền nói không đối với các dự án kiểu này, cũng như với các Doanh Nghiệp Nhà Nước , tập đoàn nếu Chính phủ thực sự muốn làm.

Phương Loan