NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Quá Trình Hiện Đại Hóa Của Việt Nam - Chuyên gia Ngân Hàng và Đầu Tư Vũ Giản , Kiều bào Thụy Sĩ

Từ Genève nơi có trụ sở của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và nhiều tổ chức chuyên môn khác (như WHO giúp VN chống dịch cúm gà, IPO cho các bằng ISO, v.v...) của Liên hiệp quốc (chủ yếu chỉ có ban Tổng thư ký Hội đồng Bảo an và Hội nghị các nước thành viên hàng năm ở New York, Mỹ), tôi có một số phân tích (dưới 3 khía cạnh) sau đây về quan hệ kinh tế Việt Mỹ từ khi Tổng thống Bill Clinton chấm dứt cuộc cấm vận Việt nam ngày 03.02.1994.

Khía cạnh Thương mại

Một năm trước khi cấm vận được bãi bỏ, VN chỉ nhập khẩu từ Mỹ (bằng đường tắt - qua nước thứ 3) cỡ 7 triệu USD, và chưa xuất khẩu gì qua Mỹ trong năm 1993 cả. Ngay năm sau, 1994, hàng VN xuất khẩu qua Mỹ đã đạt 50,5 triệu USD, rồi từ hiệp định thương mại Việt Mỹ (BTA) con số này đã tăng rất nhanh từ 1 tỷ 053 triệu USD (2003) đến 5 tỷ 276 triệu USD năm 2004. Như vậy VN đã vượt các bạn hàng lâu đời của Mỹ, như Tây Ban Nha, Achentina…

Nhập khẩu từ Mỹ vào VN cũng tăng nhanh (bình quân cỡ 1 tỷ USD mỗi năm), và đã đạt tới 1 tỷ 764 triệu USD năm 2004. Như vậy thương mại song phuơng Việt Mỹ đã vượt quá 7 tỷ USD năm 2004, và ước luợng là sẽ đạt 8 tỷ USD năm 2005.

Đầu tư trực tiếp (FDI) của Mỹ vào VN.

Tổng số đầu tư trực tiếp của Mỹ vào VN (kể từ ngày bỏ cấm vận) là khoảng 2 tỷ 600 triệu USD (riêng lãnh vực dầu lửa đã nhận được gần 1 tỷ USD, theo nguồn tin của ông Michael Marine, Đại sứ Mỹ ở VN), và có thể chia ra như sau:

- 730 triệu USD được đầu tư trực tiếp từ Mỹ.

- 1 tỷ 900 triệu được đầu tư qua các công ty «con» (ở nước thứ 3) của các Tổng công ty lớn của Mỹ, như Nike (Đài Loan), hay Pepsi Cola (Singapore). Trong thực tế, Mỹ là nước đầu tư lớn nhất vào VN năm 2004, với 531 triệu USD (theo Đại sứ M.Marine), chiếm 19% tổng giá trị đầu tư của tất cả các nước ngoài vào VN.

Viện trợ kinh tế của Mỹ cho VN

Báo cáo do Cơ quan nghiên cứu của Quốc hội Mỹ cho biết, tổng số viện trợ của Mỹ cho VN (có cả các chương trình USAID - Cơ quan hỗ trợ Phát triển quốc tế của Mỹ) từ sau khi bỏ cấm vận đến tài khóa 2003 đã đạt tới 40 triệu USD. Riêng USAID đã tăng từ 2 triệu USD năm 1996, lên 12,5 triệu USD năm 2003, lùi xuống11 triệu năm 2004, nhưng sẽ được tăng lên tới 13 triệu USD năm 2005.

Các khỏan viện trợ lớn của Mỹ thường được dùng phòng chống HIV/AIDS, chăm sóc trẻ em, trao đổi giáo dục, trợ giúp thực phẩm, hỗ trợ thực hiện BTA.

Hướng tới Tương lai

Theo BTA thì liên hệ thương mại bình thường (NTR - Normal Trade Relations) Mỹ - Việt phải được triển hạn hàng năm cho đến khi VN vào được WTO, trừ khi Mỹ thỏa thuận cho VN được hưởng NTR vĩnh viễn (thành PNTR=Permanent Normal Trade Relations).Đây là 1 trong những đề tài quan trọng VN cần thảo luận với Mỹ, nếu VN ước lượng chưa vào được WTO trong ngắn, hoặc trung hạn, vì VN cần 1 PNTR để tiếp tục xuất khẩu qua Mỹ (ước lượng từ 5,7 tỷ - 6 tỷ USD cho năm 2005: Riêng trong 3 tháng đầu năm 2005 đã đạt 1,5 tỷ USD, tăng 36,5% so với cùng kỳ 2004) và VN cũng nhập khẩu từ Mỹ tới 200 triệu USD trong quý 1 năm 2005.

Dĩ nhiên còn nhiều đề tài kinh tế quan trọng khác để thương lượng với Mỹ vào dịp này, như việc thành lập 1 Hội đồng cao cấp Hợp tác Kinh Tế (Senior Executive Advisory Council) bao gồm đại diện Việt - Mỹ của tất cả các ngành công nghiệp hỗ trợ Hợp tác và Đầu tư Mỹ trong tương lai ở VN. Dự án thành lập một Hội đồng cao cấp vì sự Phát triển Hợp tác Kinh tế Việt Pháp cũng đã được Tổng-thống Pháp Chirac đề ra vào dịp tiếp đón đoàn của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh viếng thăm Pháp vào đầu tháng 6.2005.

Ngoài ra, trong cuộc Hội thảo Quan hệ Việt - Mỹ ngày 04.06.2005 ở Hà Nội, ông Peter Peterson, nguyên Đại sứ Mỹ đầu tiên ở VN, khi nói cảm tưởng về chuyến đi Mỹ của Thủ tướng Phan Văn Khải, ông cũng đã: «hy vọng là Thủ tướng VN cũng sẽ phát biểu vào dịp viếng thăm, về những người Mỹ dòng dõi VN, mặc dầu một số người này chưa tin tưởng vào quan hệ giữa 2 nước Việt - Mỹ, nhưng còn nhiều người khác có ngày sẽ trở thành một nguồn đầu tư quan trọng cho Việt Nam » .

Ông Peterson chỉ tóm tắt ở đây những những đề cương mà người Việt khắp nơi (có cả các anh em trong số 19 Việt kiều được «Vinh Danh nước Việt 2005») đã viết trên chuyên san NVX của VNnet để nhắc nhở các nhà lãnh đạo về sự quan trọng và cấp bách cho VN phải thực thi «nguồn đầu tư vào chất xám của Việt kiều».

Thật vậy, muốn xuất khẩu thì trước hết cũng phải bỏ vốn đầu tư vào lao động, máy móc để sản xuất hàng, cho đến khi bị cạnh tranh quốc tế, thì cũng phải đầu tư vào chất xám để chế tạo những sản phẩm mới và tốt hơn của các nước khác trên thương trường quốc tế, cho dù nhân công rẻ (vì thiếu chuyên nghiệp), nhưng nhà máy cũ kỹ (vì thiếu công nghệ có chất xám), nên sản phẩm sản xuất ra cũng yếu kém, mà lại không có kế họach dài hạn, không hiểu biết cặn kẽ các đối thủ cạnh tranh trên thương trường, thì chỉ là sản xuất và buôn bán theo kiểu «ăn xổi ở thì», thì sợ là sớm muộn cũng sẽ bị mất dần các phần thị trường xuất khẩu.

«Chất xám» và «chất xanh» của Việt kiều ở Mỹ

Khi viết về Quan hệ kinh tế giữa VN với Mỹ (hay bất cứ nước ngoài nào khác), không thể bỏ quên «chất xám» của Việt kiều trong lãnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ và đầu tư cho Việt Nam, nhất là một khi nhà nước VN đã có nghị quyết đầu tư vào nguồn chất xám Việt kiều này.

Nghị quyết 36 về Việt kiều cũng đề cập đến vấn đề này, nhưng chưa có 1 chính sách thực thi đồng bộ (như GS Nguyễn Đăng Hưng viết «Nghị quyết vẫn chỉ là nghị quyết », và trong bài phỏng vấn đăng trên NVX ngày 12.6.05, ông Nguyễn Chơn Trung, Chủ nhiệm UBNVNONN TP Saigon cũng đã thốt lên rằng «Chính sách đối với bà con Việt kiều trong nhiều vấn đề chưa rõ ràng, giống như «nửa nạc, nửa mỡ», người trong nước không ra trong nước, mà người nước ngoài cũng không phải».

Vì nước Mỹ hiện có gần một nửa 1 triệu 200 nghìn người Việt ở nước ngoài (khoảng 3 triệu), nên hãy phân tích tình hình chất xám của Việt kiều Mỹ. Theo thống kê của Mỹ (Census Bureau) thì trình độ học vấn của người VN ở Mỹ vào năm 2000 như sau:

- Trong số 693.441 Việt kiều từ 25 tuổi trở lên, có 18% chưa học xong lớp 9; có 20,1% theo học từ lớp 9 đến lớp 12; có 19,1% tốt nghiệp trung học.

- Vẫn trong số Việt kiều này, có 7,7% tốt nghiệp đại học 2 năm (Bachelor, mà ở VN gọi là cử nhân), hay cao hơn bình quân ở trình độ này là 6,3% cho toàn nước Mỹ.

- Có 14.7% Việt kiều tốt nghiệp ĐH bậc 4 năm (Master, mà ở VN gọi là thạc sĩ), đã bắt đầu thấp hơn so với 15,5% bình quân cho toàn nước Mỹ.

- Chỉ có 4,9% Việt kiều tốt nghiệp bậc cao học (Ph.D mà ở VN gọi là Tiến sĩ), hoàn toàn thấp hơn so với bình quân 8,9% cho toàn nước Mỹ.

Ở Âu Mỹ trình độ chất xám làm «tín dụng» khảo cứu, hay dạy học thường bắt đầu từ Ph.D (TS), và trình độ học vấn của những gia-đình Việt kiều đến Mỹ trong giai đoạn 1975-1980 cao hơn là Việt kiều đến sau đó, nghĩa là «trí thức» hơn, cũng như các gia đình Việt kiều qua Âu châu trước, hay ngay sau 1975 thì cũng có nhiều Việt kiều tốt nghiệp ĐH, hay Cao học (so với tổng số Việt kiều) hơn cả dân sở tại.

Còn tình trạng «chất xanh» của Việt kiều Mỹ ra sao? Vẫn theo thống kê của Census Bureau Mỹ thì vào năm 2000, lợi tức của Việt kiều Mỹ như sau :

- 27,4% Việt kiều có lợi tức hàng năm dưới 25.000 USD (bình quân của Mỹ là 28,6%) .

- 27,2% Việt kiều có lợi tức hàng năm từ 25.000 đến dưới 50.000 USD (Mỹ là 28,7%) .

- 31,3% Việt kiều có lợi tức hàng năm từ 50.000 đến dưới100.000 USD (Mỹ là 29,8%) .

- 12,3% Việt kiều có lợi tức hàng năm từ 100.000 đến dưới 200.000 USD (Mỹ là 9,9%) .

- 1,8% Việt kiều có lợi tức hàng năm từ 200.000 USD trở lên (Mỹ là 2,4%) .

Như vậy có nghĩa là đa số (31,3%,hay hơn 1/3) Việt kiều Mỹ có lợi tức từ 50.000 (là lợi tức bắt đầu của 1 bác sĩ, kỹ sư Việt kiều) đến 100.000 USD/một năm, mà đây cũng là trường hợp của đa số (29,8%) trung lưu Mỹ. Sau đó thì số Việt kiều (12,3%) kiếm từ 100.000 đến 200.000 USD vẫn nhiều hơn Mỹ (9,9%). Nhưng khi tới «ngưỡng cửa» để thành triệu phú (kiếm từ 200.000 USD trở lên) thì có ít hẳn Việt kiều (1,8%) so với Mỹ (2,4%), mặc dầu ở bang California, tỷ lệ này của Việt kiều là 2,6% (nghĩa là Việt kiều ở đây kiếm được nhiều tiền hơn Việt kiều ở các bang khác), nhưng không phải là có nhiều Việt kiều «giàu» hơn Mỹ, mà vì 2,4% là tỷ lệ trung bình của 50 bang Mỹ có tỷ lệ giàu, nghèo khác nhau.

Đây là về giới trung lưu Việt kiều, còn giới nghèo thì ra sao? Theo định nghĩa của Mỹ vào năm 1989 thì lợi tức ở mức 6.310 USD/năm cho 1 người, hay 9.885USD/năm cho 1 gia đình 3 người, thì được coi là mức nghèo khổ. Vẫn theo Census Bureau năm 2000 thì:

- 27% Việt kiều sống dưới mức nghèo khổ, so với 13% người Mỹ, dù 20% gia đình Việt kiều có 3 người đi làm, là tỷ số cao hơn bản xứ.

- Lợi tức trung bình của những gia đình Việt kiều đến Mỹ từ 1975 - 1979 là 58.000USD/năm, cao hơn những gia đình đến Mỹ sau (1987 - 1990) chỉ có 30.000 USD/năm, vì phần nhiều là lao động phổ thông.

- Từ tháng 01.1988 đến tháng 06.1994, số lượng Việt kiều nhận trợ cấp xã hội Mỹ gia tăng so với các sắc dân thiểu số khác ở Mỹ, vì 1 trong những lý do tăng trưởng này là Việt kiều đã được hưởng nhiều chương trình trợ cấp khi nhập cư vào Mỹ, cho họ mang theo cả những người không thể đi làm, vì lớn tuổi, hay có bệnh tật.

Nhìn một khía cạnh của kinh tế Việt kiều Mỹ, là thương-mại, thì Census Bureau cho biết như sau :

- Năm 1982, trên toàn đất Mỹ có 4.089 cơ sở (từ tiệm bán tạp hóa, đến phòng mạch BS) do Việt kiều làm chủ, với doanh thu 215 triệu USD/năm .

- Đến 1987 thì đã tăng lên đến 25.671 cơ sở, với doanh thu 1 tỷ 361 triệu USD.

- Năm 2000 thì tiếp tục tăng tới 97.784 cơ-sở, với doanh thu 6 tỷ 768 triệu USD/năm.

- Nếu tính riêng 18.948 cơ sở Việt kiều có thuê 79.035 người làm được trả lương 1 tỷ 165 triệu USD/năm, mà phải cộng thêm với với doanh thu hàng năm (6 tỷ 768 triệu USD) thì cho thấy tổng sản lượng của những Việt kiều Mỹ «làm» thương mại (ở VN thì gọi là «làm» kinh tế) năm 2000 là 7 tỷ 933 triệu.

- Nhưng cũng còn thiếu thu thập của đại đa số Việt kiều Mỹ làm cho các công ty Mỹ, để gom tất cả vào Tổng sản lượng của 3 triệu Việt kiều trên thế giới được ước lượng khoảng 30 tỷ USD vào năm 2004, mà trong đó có lẽ Việt kiều Mỹ đã đóng góp hơn một nửa, mặc dầu chưa tới 2/3 Việt kiều (57,9%) nhập tịch Mỹ vào thời điểm năm 2000, nhưng đã có gần ¼ (23,9%) dân số Việt kiều đã ra đời ở Mỹ.

Tóm lại, thống kê Mỹ của Census Bureau cho thấy một hình ảnh khác của Việt kiều Mỹ, chớ không như «ảo tưởng» của nhiều người, ngõ hầu để VN tự tạo một mô hình phát triển riêng, tránh làm «bản sao» của mô hình của Mỹ, hay Trung Quốc.

Thử tham khảo «mô hình» hiện đại hóa của Trung Quốc

Trong một tài liệu của Hàn lâm viện Khoa học Trung Quốc (Chinese Academy of Sciences - CAS) về lộ trình «hiện đại hóa» nước này, họ đã báo cáo là: «Hiện nay TQ phát triển chậm hơn 100 năm so với Mỹ, 70 năm so với Đức, và 60 năm so với Nhật Bản », mà họ đã dẫn chứng như sau:

- Năm 2001, sản phẩm quốc-nội (GDP) tính theo đầu người TQ là 3.583 USD, hay bằng GDP Mỹ năm…1892 (tức là đã chậm đến 109 năm).

- Sang đến năm 2002, GDP Mỹ là 35.400 USD (tăng 4%, hay 1.416 USD), và GDP của TQ là 960 USD (tăng 8%, hay 77USD).

- Thí dụ này cho thấy dù là TQ có tăng trưởng nhiều (8% đến 10%) chỉ vì bắt đầu rất thấp, nên không thu hẹp được khoảng cách giữa TQ và các nước phát triển khác, mà trong thực tế lại càng nới rộng thêm.

- Thật vậy, vào năm 1960, khoảng cách GDP/đầu người của TQ so với thế giới phát triển là 2'786.USD, cho đến năm 2000 (hay 40 năm sau), khoảng cách này đạt 33.905 USD, hay đã tăng lên 12 lần!

- Chinese Academy of Sciences tính tiếp lộ trình «hiện đại hóa» toàn diện của TQ đang tiến lên thành 1 nước «sơ bộ phát triển» vào năm 2020, và 1 nước «phát triển trung bình» vào năm 2050.

- Theo bản xếp hạng 130 nước trên thế giới «theo trình độ phát triển» của Chinese Academy of Sciences, thì TQ từ vị trí xếp hạng 69 hiện tại, sẽ vươn lên hạng 39 vào năm 2080, để trở thành 1 trong 10 nước phát triển nhất thế giới vào năm 2100, cũng là nhờ hỗ trợ «chất xám» của Hoa kiều hải ngọai.

Còn VN thì sao vẫn chần chừ đầu tư vào chất xám Việt kiều, dù đã «đổi mới» chậm hơn nhiều năm sau TQ, mà cũng có người thích mô hình kinh tế của TQ (hơn mô hình của Mỹ quốc), và tại sao họ chưa noi gương TQ đã «đầu tư» thành công vào kiều bào của họ ở nước ngoài? Đúng như TS Borje Ljunggren (nguyên Đại sứ Thụy Điển ở VN, hiện là ĐS tại TQ) đã dứt khoát (tại Hội thảo tổng kết 20 năm đổi mới, ngày 01.07.2005 ở Hà Nội) cho rằng: «Quá trình phát triển của TQ cung cấp cho VN nhiều bài học, chớ không thể nào là hình mẫu cho VN, vì TQ cũng đang đứng trước những mâu thuẫn phát triển của chính họ».

GS Carlyle A.Thayer (Úc) cũng phân tích ở hội thảo này: «Sau ¼ thế kỷ cải cách, mô hình TQ không thể giải quyết được những vấn đề cấp bách, như cấu trúc ngân hàng và tài chính yếu kém, doanh nghiệp nhà nước nợ nặng nề, tham nhũng tràn lan. VN cũng đang đối mặt với nhiều vấn đề tương tự, và việc học tập mô hình TQ không giúp giải quyết được». Ông Jordan Ryan (đại diện của UNDP ở VN) nhất trí: «Không một mô hình nào có thể áp dụng như nhau, ở khắp mọi nơi». Vậy VN cần nhanh chóng thành lập (với sự hỗ trợ của người Việt ) một «kế hoạch» phát triển riêng cho đất nước của Tổ tiên Lạc Hồng.