NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Một Hiệp Ước Tự Do Mậu Dịch Á Châu Rộng Rãi Sẽ Tạo Ra Lợi Nhuận Lớn - A Broad Asian FTA Will Bring Big Gains

Tác giả Masahiro Kawai là Viện trưởng Học Viện Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (Asian Development Bank Institute) tại Tokyo Nhật Bản. Tác giả Ganeshan Wignaraja là kinh tế gia cao cấp thuộc Văn Phòng Hội Nhập Kinh Tế Cấp Vùng thuộc Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (Asia Development Bank - ADB). Các quan điểm và ý kiến của tác giả trong bài viết này hoàn toàn là suy nghĩ cá nhân, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của ADB, ngân hàng, các giám đốc điều hành, hay những quốc gia họ đại diện.

Chủ nghĩa kinh tế liên đới cấp vùng bắt đầu mọc rễ ở khu vực Đông Á. Trong 25 năm qua, mậu dịch bành trướng nhanh chóng ở thị trường các quốc gia đang phát triển, dù là ở ngoài hay trong vùng Đông Á. Tiến trình này đang gia tăng tốc độ để mở rộng phạm vi kinh tế liên đới toàn vùng. Việc giao thương giữa các quốc gia có tác dụng đẩy mạnh đầu tư ở trong và ngoài nước. Ngược lại, việc đầu tư cũng làm gia tăng mậu dịch.

Vấn đề đầu tư trực tiếp từ các quốc gia khác sẽ đặc biệt mang đến nguồn tài trợ từ bên ngoài, kéo theo kỹ thuật sản xuất tân tiến, sự hiểu biết về phương pháp quản trị, và những đường dây phân phối hữu hiệu liên kết với các thị trường quốc ngoại. Đây là những mầm mống sẽ dẫn đến sự hợp tác kinh tế. Điều này từng xảy ra cho Bắc Mỹ và Âu Châu, và đang xảy ra tại Đông Á.

Trong lúc chưa thành hình một hiệp ước Doha toàn diện từ Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (World Trade Organization - WTO), các thỏa hiệp về khu vực tự do mậu dịch (free trade area - FTA) vẫn tiếp tục sinh xôi nẩy nở trên toàn cầu, kể cả Á Châu. Bất kể những phí tổn như việc phân biệt đối xử đối với những quốc gia chưa là thành viên, chuyển hướng chính sách đầu tư và mậu dịch, những thỏa hiệp về khu vực tự do mậu dich thích hợp có thể giúp các nguồn giao dịch thuơng mại và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài trôi chảy. Tuy nhiên, tình trạng trùng hợp và sự phức tạp của các thỏa hiệp FTA tại Á Châu đang có nguy cơ khiến thỏa hiệp bị bất khả thi và việc giao dịch bị trở ngại.

Các cuộc thăm dò thực hiện bởi Tổ Chức Ngoại Thương của Nhật Bản (Japan External Trade Organization) và Ngân Hàng Phát Triển Á Châu tại Nhật Bản, Singapore và Thái Lan cho thấy rằng những thỏa hiệp tự do mậu dịch rất là tốn kém đối với những công ty hoạt động trong ngành buôn bán, nhất là những công ty cỡ nhỏ và trung bình.

Vậy thì phương cách nào tốt nhất để đơn giản hoá vấn đề? Kể cả trong trường hợp vòng thương thuyết mậu dịch Doha tiếp tục bế tắc, không ai có thể ngồi yên được. Có thuận lợi chăng cho các quốc gia ngồi lại thương thuyết về những thoả thuận song phương, hoặc kiếm tìm cách thức đạt để tối đa hoá lợi tức cho một khối đồng thuận? Thí dụ, thỏa hiệp tự do mậu dịch của Khối ASEAN (Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á) có nên mở rộng thành ASEAN Cộng Ba, bao gồm luôn Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn? Có thể nào ASEAN Cộng Sáu, thêm vào cả Úc Châu, Ấn Độ và Tân Tây Lan, hay còn thêm nữa ?

Có rất nhiều thảo luận giữa các cơ sở thương mại, giới chức chính quyền, giới chuyên gia đại học và các nhóm khác quan điểm, về đề tài thống nhất các khu vực tự do mậu dịch bị trùng hợp để làm thành một FTA duy nhất. Người ta lập luận rằng nếu làm được như vậy thì có thể giúp giảm thiểu ảnh hưởng tai hại vì tình trạng rắc rối do những thuế suất nhập cảng, tiêu chuẩn, các luật lệ khác biệt và đố kỵ nhau gây ra.

Vận tốc khác nhau của tiến trình tự do hoá, và vô số những "quy luật về gốc sản xuất" (rules of origin - ROO) dùng để ấn định một sản phẩm có được hưởng quy chế ưu đãi hay không là một vấn đề. Thiết lập một thỏa hiệp tự do mậu dịch cấp vùng, trên căn bản rộng rãi, sẽ giúp cho việc làm ăn buôn bán được dễ dàng hơn, lôi cuốn các đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (foreign direct investment - FDI), nâng đỡ các quốc gia nhỏ có lợi tức thấp. Như thế sẽ tiết giảm phí tổn buôn bán, nhất là đối với những cơ sở thương mại cỡ nhỏ và trung bình. Một thỏa hiệp FTA rộng rãi sẽ khuyến khích mạnh mẽ sự hợp tác và hợp nhất toàn khu vực.

Điều làm người ta quan tâm là trong lúc ngày càng có nhiều thỏa hiệp tự do mậu dịch được thành hình, những vấn đề bên ngoài luật lệ của Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới đã được đưa vào những thoả thuận mậu dịch khác nhau. Những vấn đề "WTO-cộng" gồm những yếu tố khuyến khích mậu dịch, đầu tư, việc thu mua của chính phủ, chính sách cạnh tranh, tài sản trí tuệ, môi trường và lao động, và những thứ khác. Những vấn đề kể trên đủ giá trị để các chính quyền thảo luận trong các cuộc thương thuyết. Các thỏa hiệp FTA đạt được cho thấy những vấn đề này cần phải được khai triển thêm và phối hợp trong một khuôn khổ một thỏa hiệp tự do mậu dịch cấp vùng.

Theo biểu đồ trình bày về lợi tức thế giới, một cuộc nghiên cứu mới đây của hai tác giả cho thấy rằng việc hợp nhất FTA ở cấp ASEAN Cộng Sáu sẽ mang lại những lợi nhuận dồi dào nhất cho Đông Á, qua các sắp xếp hợp lý cho việc mậu dịch cấp vùng, và sẽ giúp giảm thiểu tổn thất cho những nước không thuộc thỏa hiệp. Một FTA của Khối ASEAN Cộng Ba sẽ tạo lợi ích ít hơn so với Khối ASEAN Cộng Sáu, nhưng vẫn sẽ tạo lợi nhuận nhiều hơn bất cứ thỏa hiệp FTA nào thuộc Khối ASEAN và các nước độc lập ngoài khối.

Để có một FTA hợp nhất, Khối ASEAN nên hành xử như một trung tâm của khu vực Đông Á bằng cách phát triển sự hội nhập kinh tế một cách sâu rộng hơn theo kế hoạch thành lập Cộng Đồng Kinh Tế ASEAN từ nay đến năm 2015. Ba quốc gia thành viên bổ xung vào Khối ASEAN là Trung Quốc, Nhật Bản và Nam Hàn cần phải phối hợp và cộng tác chặt chẽ hơn nữa về hai chế độ mậu dịch và FDI.

Ấn Độ là nước gần đây mới thoát ra khỏi khuôn khổ bảo thủ của chủ nghĩa bảo vệ nền công nghiệp nội địa. Quốc gia này cần phải theo đuổi chính sách cải cách sâu rộng hơn về cơ chế và luật lệ liên quan đến thuế quan và hệ thống công quyền quan liêu.

Xa hơn nữa, đối với những nước thành viên nghèo trong Khối ASEAN, việc cải cách đòi hỏi phải có đủ sự yểm trợ quốc tế để giúp những quốc gia này củng cố khả năng sản xuất sản phẩm - bao gồm sự yểm trợ mậu dịch như việc xây dựng hạ tầng cơ sở về giao thông, năng lượng, truyền thông viễn liên. Nhờ vậy các nước này có thể lợi dụng các thị trường hội nhập trong khu vực, trong khi thu nhỏ khoảng cách sai biệt giầu nghèo và những khoảng cách phát triển khác giữa các nước hội viên của khối ASEAN.

Nền kinh tế của Đài Loan đang nhanh chóng tự hội nhập với các nền kinh tế ở Đông Á, nhất là với lục địa Trung Quốc. Tuy không thuộc ASEAN Cộng Ba hay ASEAN Cộng Sáu, tốt nhất là Đài Loan nên đơn phương mở rộng tự do giao dịch bằng cách mở rộng nền kinh tế nội địa với các nền kinh tế khác ở Đông Á mà không cần thương thuyết. Đài Loan cũng có thể đơn phương áp dụng các biện pháp then chốt như các quốc gia thuộc Khối ASEAN Cộng Ba và Cộng Sáu đồng ý áp dụng. Điều này sẽ giúp chính sách mậu dịch của chính quyền Đài Loan được đồng nhất và phù hợp với các nước trong vùng và đẩy mạnh việc hội nhập với các nền kinh tế trong khu vực và kinh tế toàn cầu.

Các liên hệ với Hoa Kỳ, và gia tăng liên hệ với Cộng Đồng Âu Châu , là thiết yếu đối với khu vực Đông Á, về kinh tế lẫn chính trị. Khối Hợp Tác Kinh Tế Á Châu Thái Bình Dương (Asia - Pacific Economic Cooperation - APEC) tiếp tục đóng vai trò quan trọng cho cả Đông Á lẫn Hoa Kỳ vì đây là diễn đàn đa phuơng duy nhất nối kết hai khối kinh tế Á Âu. Một phương cách tự nhiên để liên đới với Đông Á là sau khi thiết lập được một thỏa hiệp tự do mậu dịch cấp vùng, khối này sẽ thắt chặt các mối liên hệ kinh tế với Hoa Kỳ. Có thể qua sự hình thành của một thỏa hiệp tự do mậu dịch cho Vùng Mậu Dịch Tự Do Đông Á-Bắc Mỹ (hoặc một FTA cho vùng Á Châu Thái Bình Dương).

Trong khi một số quốc gia Đông Á đồng ý thành lập các thỏa hiệp tự do mậu dịch đối với Hoa Kỳ, thì cũng có các nước tỏ vẻ dè dặt về một thoả thuận toàn diện với chính quyền Hoa Thịnh Đốn. Có những câu hỏi sâu xa rằng không biết Hoa Kỳ có sẵn sàng chấp thuận thành lập một thỏa hiệp tự do mậu dịch với toàn vùng Đông Á hay không, gồm luôn cả Trung Quốc ? Không biết Đạo luật Khuyến Khích Mậu Dịch Hoa Kỳ (U.S. Trade Promotion Authority) có sẽ được tái lập hay không ( đã mãn hạn từ tháng Sáu 2007 ) để khỏi bị quá trễ ?

Dù rằng sự liên kết giữa Đông Á và Âu Châu chưa được thảo luận sâu rộng, Uỷ Hội Âu Châu đã thương thuyết với Nam Hàn, Khối ASEAN và Ấn Độ về những FTA của "thời đại mới". Chỉ khi nào Nhật Bản và Trung Quốc nhập cuộc thảo luận, thì mới sẽ tạo được một căn bản vững chắc cho một thỏa hiệp tự do mậu dịch Đông Á - Âu Châu.

Việc thống nhất các thỏa hiệp FTA vùng Đông Á là ước muốn rõ ràng, theo đó là chương trình kết hợp đương nhiên kế tiếp với Hoa Kỳ và Âu Châu. Điều quan trọng cho các nền kinh tế Đông Á là giúp cho các thỏa hiệp FTA song phương và đa phương đang có hiện nay thân thiện hơn về nhiều hướng bằng cách phát huy những gì đã thực hiện trong bao năm qua và áp dụng một số biện pháp sáng tạo, thì tiến trình nói trên sẽ được thực hiện dễ dàng hơn.

Các thí dụ cụ thể bao gồm việc sử dụng các diễn đàn như APEC để tăng cường mậu dịch và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, đơn phương giảm thuế cho các quốc gia được hưởng quy chế tối huệ quốc (most-favored nations), phối hợp việc ấn định lịch trình phải hoàn tất thỏa hiệp FTA, loại trừ những gì ngoại lệ, áp dụng những quy định của WTO vào những thỏa hiệp cấp vùng, đơn giản hoá các quy luật gốc sản xụất, xem việc thống nhất là then chốt trong các chương trình nghị sự, các quốc gia thuộc FTA thông qua những tiêu chuẩn thống nhấ về giá trị thặng dư.

Các thỏa hiệp tự do mậu dịch mang lại các lợi ích lẫn phí tổn, nhưng thiết kế những thỏa hiệp này để tạo ra những lợi ích tối đa đương nhiên sẽ là chiến lược được ưa chuộng nhất. Hầu hết các nền kinh tế Đông Á hiện nay đang theo đuổi việc thực hiện các thỏa thỏa hiệp tự do mậu dịch. Họ phác họa các văn kiện theo phương cách nào có thể thúc đẩy việc cải tổ các cơ chế nội địa, với bảo đảm sao cho phù hợp với các quy luật của Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới WTO. Đó là một đường lối thực tiễn.

Một FTA được thiết kế đúng đắn sẽ tạo được nhiều lợi ích năng động qua mậu dịch và đầu tư rộng lớn hơn giữa những nước thành viên, qua việc tự do hoá cũng như làm cho mọi sự được tiến hành dễ dàng thuận lợi trong lãnh vực trao đổi hàng hoá và dịch vụ và đầu tư, qua việc cải tổ cơ chế nội địa. Một khi việc cải tổ cơ chế được tiến hành sâu rộng trên nhiều lãnh vực kể trên, một quốc gia sẽ có điều kiện dễ dàng để mở rộng thị trường cho các quốc gia không phải là thành viên qua tổ chức WTO, hay các thỏa hiệp FTA khác.

Dù rằng Vòng Doha của tổ chức WTO có thành công hay không, xu hướng toàn cầu tiến tới các thỏa hiệp tự do mậu dịch vẫn tiếp tục diễn ra. Đó là lý do tại sao có nhu cầu khẩn thiết thành lập các FTA, nhất là các thỏa hiệp mậu dịch cấp vùng. Đó là những viên đá đặt nền móng tiến đến việc tự do hoá rộng lớn hơn, và cuối cùng sẽ dẫn đến việc hợp nhất toàn cầu. Vì mục tiêu này, Đông Á cần thiết lập những kế hoạch thực tiễn nhất, tốt nhất để thành lập các thỏa hiệp tự do mậu dịch để tạo lợi ích tối đa và phí tổn tối thiểu.

Khu vực Đông Á cũng phải phối hợp điều hành sao cho sự nảy nở của các thỏa hiệp tự do mậu dịch vận hành như một phương tiện giúp các quốc gia giảm bớt việc bảo vệ kinh tế nội địa, gia tăng mậu dịch và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Vì mục tiêu này, các thỏa hiệp tự do mậu dịch cần gây áp lực buộc các quốc gia tuân hành những cải tổ cơ cấu chính trị và kinh tế sâu rộng để cho phép các cơ sở kỹ nghệ nội địa thích ứng với những cạnh tranh to lớn từ hải ngoại.

Masahiro Kawai và Ganeshan Wignaraja

Nguyễn Quốc Khải ( dịch )