NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Hội nhập : vừa là một điều kiện cấp thiết, vừa là một thách đố to lớn

Nước Việt Nam trong hơn sáu thập niên vừa qua , ngoài sự quan hệ với các nước theo CNXH và thường là những nước nghèo và lạc hậu, hoàn toàn tự cô lập hay bị cô lập khỏi tất cả các nước dân chủ tiến bộ khác trên thế giới, nhất là những nước có nền văn hóa cao, nền kinh tế phát triển và nắm giữ hầu hết các kỷ thuật tân tiến, như các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, v.v… Ðó chính là những năm tháng trói buộc sự tiến bộ của đất nước, khiến cho cả một dân tộc phải tụt hậu, thua kém xa ngay đối với các tiểu quốc lân bang trong vùng, như Thái Lan , Malaysia , Ðài Loan , Nam Hàn , Singapore.

Nhưng ngày nay, sau những bước đi dò dẫm, rụt rè do dự, nghi ngờ và sợ hãi - kể từ năm 1986, Việt Nam đã can đảm làm một cú đột phá khá ngoạn mục : Ðó là đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các nước trên thế giới, chứ không phân biệt khuynh hướng hay màu sắc chính trị, và có lẽ nay mai cả với tòa thánh Vatican nữa; mở cửa biên giới chào đón tất cả mọi nhà đầu tư trên khắp thế giới nói chung và các nhà đầu tư thuộc các nước tiến bộ Bắc Mỹ cũng như các nước thuộc Liên Hiệp Âu Châu (EU) nói riêng. Ðó là một bước đi can đảm, nhưng đồng thời cũng là một bước đi tối cần thiết, vì đã quá muộn mằn. Bởi lẽ, cũng chính bước đi đó người Nhật Bản đã từng làm trước chúng ta hơn hai thế kỷ rồi !

Nhưng thái độ thông thoáng và mở cửa đó lại đòi hỏi một thái độ quan trọng khác : Sự hội nhập. Vì nếu một khi người ta đã mời khách vào nhà rồi, thì không thể để khách ngồi một mình ở phòng khách hay để khách muốn làm gì thì làm, còn chủ nhà lại cứ đi làm công việc riêng của mình. Trái lại chủ nhà phải ngồi tiếp khách, nói chuyện với khách, tìm hiểu và đối thoại với khách. Cũng vậy, một khi chúng ta đã có quan hệ thân hữu với các nước, các dân tộc trên thế giới như thế, chúng ta cần phải có thái độ biết chấp nhận họ, kể cả trong những khác biệt, và sống hòa hợp với họ, hầu có thể biến họ thành đối tác thân thiện và đồng minh của chúng ta. Vậy thái độ hội nhập là :

1. Một điều kiện cấp thiết.

Vâng, mỗi dân tộc trên thế giới đều có một bản sắc riêng, một nền văn hóa riêng, một truyền thống dân tộc riêng và rất có thể có một quan điểm chính trị (chế độ) riêng. Nhưng nếu chúng ta cùng muốn tham gia vào công cuộc toàn cầu hóa của thế giới hôm nay, hầu cho dân tộc chúng ta có thể theo kịp được đà văn minh tiến bộ của nhân loại, chứ không bị tụt hậu, thì chúng ta cũng đòi hỏi phải có những thái độ tương ứng cần thiết trong các cuộc giao lưu và quan hệ song phương hay đa phương với các các đối tác, với các dân tộc khác, và rất có thể đó là những đối tác và những dân tộc không cùng chung văn hóa, không cùng chung chính kiến với chúng ta. Nói cách khác, chúng ta không thể cư xử một cách cố chấp bảo thủ được, nhưng chúng ta cần phải thông thoáng, sẵn sàng cắt bỏ những thói quen, những quan niệm hay luật lệ rào cản, đi ngược lại trào lưu văn minh, tự do và dân chủ của đại đa số các dân tộc, nhất là của các dân tộc tân tiến trên thế giới. Vã lại, trong thời kỳ « bế môn tỏa cảng », trong thời kỳ sống khép kín sau biên giới của mình, chúng ta muốn sống, muốn cư xử sao thì tùy ý, nhưng ngày nay, thời đại của toàn cầu hóa, khi mà thế giới đã được thu nhỏ lại và các biên giới của các nước hầu như đã bị xóa bỏ (cụ thể như tại các nước thuộc Liên Hiệp Âu Châu, và phần nào tại các nước thuộc khối ASEAN), dù muốn hay không chúng ta bắt buộc cũng phải hội nhập vào cuộc sống của « thế giới đại đồng » thực tiễn, chứ không thể là một hòn đảo lẻ loi được. Và điều kiện giúp chúng ta thực hiện được sự hội nhập thực sự vào với cuộc sống chung của các dân tộc là sự tôn trọng các quyền con người, như : Quyền được sống ; quyền tự do chọn chỗ ; quyền được bảo đảm an ninh, được chọn lựa nghề nghiệp; quyền được tự do sống theo lương tâm; quyền được tự do chọn lựa và công khai sống theo một tôn giáo; được tự do ngôn luận; được tự do chọn lựa các nhà lãnh đạo, v.v…

Chúng ta biết rằng, đứng trước những tiến bộ khoa học và kỷ thuật nhảy vọt của nhân loại hôm nay, vâng, đó là thời đại của « Internet », của Công nghệ thông tin mà nhờ đó người ta có thể nhìn thấy cách chính xác và cập nhật nhanh các sự cố vừa xảy ra bất cứ nơi nào trên thế giới, thì mọi tuyên truyền bưng bít không đúng với sự thật, sẽ dễ dàng bị lật tẩy và vì thế chỉ tổ làm trò cười cho thiên hạ mà thôi. Nói tóm lại, sự hội nhập là một điều kiện không những cấp thiết mà còn tất yếu nữa, nếu chúng ta muốn tham gia vào công cuộc toàn cầu hóa và qua đó chúng ta sẽ có được nhiều lợi điểm cho công cuộc đổi mới và thăng tiến đất nước chúng ta. Tuy nhiên, thái độ hội nhập đó không chỉ là một điều kiện, nhưng còn là :

2. Một thách đố to lớn

Vâng, trong khi tham gia vào công cuộc toàn cầu hóa, chúng ta cần phải có thái độ hội nhập vào cuộc sống chung của nhân loại : Hội nhập vào nền văn hóa nhân loại, hội nhập vào nền kinh tế thị trường, hội nhập vào công pháp quốc tế, v.v…Vì thế, hiện nay qua các phương tiện truyền thông, cũng như trong các cuộc tọa đàm, hội thảo người ta đang đề cập đến những thách đố to lớn mà Việt Nam đang phải đối mặt : Ðó là sự thiếu hụt vốn liếng, thiếu hụt nhân lực, cơ sở hạ tầng quá thô sơ, nhưng ít ai đề cập đến một thách đố khác còn to lớn và quan trọng hơn : Sự bảo tồn bản sắc dân tộc trước các đe dọa từ mọi phía!

Chúng ta biết rằng hội nhập có nghĩa là chấp nhận và sống hòa đồng và thân thiện với mọi dân tộc như thể « tứ hải giai huynh đệ » - bốn biển anh em một nhà. Nhưng sống hòa hợp hay hòa đồng với các dân tộc khác, không có nghĩa sống hòa tan hay đồng hóa với các dân tộc ấy. Và đó là một bổn phận bắt buộc, chứ không phải một sự lựa chọn tùy ý, nếu chúng ta còn nặng tình với dân tộc. Ở đây, một câu chuyện ngụ ngôn có lẽ sẽ giúp chúng ta hiểu rõ thêm vấn đề hơn : « Người ta kể rằng có một người muối khổng lồ đã sống lâu năm bên bờ đại dương. Một hôm ông ta tự bảo mình : Tôi sống ích kỷ và lẻ loi một mình như thế này là không tốt, không tốt cho đại dương bao la kia và không tốt cả cho tôi nữa, tôi phải hòa mình vào với dại dương bao la kia mới được. Thế là trước tiên ông ta nhúng một bàn tay vào biển, tiếp đến cả hai tay và rồi hai chân, sau cùng ông ta bơi xuống biển luôn và người ta còn thấy cái đầu của ông còn trồi lên trên măt nước. Nhưng sau đó, khi ông ta hoàn toàn lặn sâu cả đầu xuống khỏi mặt nước, thì từ lúc đó không một ai còn thấy được ông bao giờ nữa, vì ông ta đã bị hoàn toàn hòa tan vào biển cả rồi ».

Nhưng điều có thể giúp chúng ta khi sống hòa hợp với các dân tộc mà không bị hòa tan hay bị đồng hóa với họ, chính là bản sắc dân tộc Việt Nam của chúng ta. Chúng ta biết rằng sở dĩ dân tộc Do-thái suốt trong hai ngàn năm trời bị lưu đày khắp nơi trên thế giới, nhưng họ vẫn còn tồn tại và sống còn một cách kiên cường cho tới ngày khai sinh nhà nước Ít-ra-en vào năm 1948 tại chính quê hương Pa-lét-ti-na của họ xưa kia, chính là nhờ họ luôn vẫn giữ được bản sắc dân tộc của họ, cũng như tinh thần ái quốc sâu xa của họ, được biểu lộ cụ thể trong cuộc sống hằng ngày của họ, như : Suốt hai ngàn năm, kể từ khi bị bắt đi lưu đày cho tới năm 1948, tất cả mọi người Do-thái khi gặp nhau đều chúc cho nhau « Schalom = bình an » và hẹn « sang năm gặp nhau tại Giêu-ru-sa-lem ».

Còn bản sắc cao quí của dân tộc Việt nam là gì ? Ðó là con rồng cháu tiên; là bốn ngàn năm lịch sử hào hùng, đến nỗi một ngàn năm đô hộ giặc Tàu và tám mươi năm đô hộ giặc Tây, dân tộc chúng ta vẫn không bị lai căng hay bị đồng hóa; là nền văn hóa Việt Tộc; là tình tự dân tộc; là mắm tôm, cà ghém; là những bài hát ca trù, tiếng hát quan họ Bắc Ninh, câu hò Nghệ Tĩnh, bài ca giọng cổ Miền Nam; là chiếc nón bài thơ xứ Huế, là tiếng mẹ ngọt ngào ru con; là sông Lam núi Hồng, là Cửu Long Giang, là Hồng Hà; là đạo hiếu đối với tổ tiên; là tâm hồn tín ngưỡng « quân tử sự Thiên : người hiền đức kính sợ Trời »; là các đạo lý do cha ông truyền lại; là tinh thần trọng nghĩa dụng tài, là lòng khoan dung, là tinh thần quật cường bất khuất, tính tự trọng, lòng hiếu khách, v.v… tất cả đã kết tinh nên hồn Việt, tạo thành bản sắc dân tộc Việt Nam đặc thù, chứ không thể bị lẫn lộn với bất cứ dân nào khác.

Vì thế, một thách đố to lớn đối tất cả mọi người con dân nước Việt - dù ở trong hay ngoài nước - là trong khi tìm hội nhập, tìm sống hòa đồng với thế giới, kết thân với các dân tộc khác, chúng ta vẫn phải gìn giữ bảo tồn thế nào cho bản sắc dân tộc, cho đạo lý dân tộc, cho nền văn hóa dân tộc, cho tiếng Việt không bị biến sắc hay hòa tan vào lòng đại dương nhân loại. Tiếp đến, chúng ta cần phải học hỏi những cái hay, những điều tích cực của người, nhưng tuyệt đối chúng ta không được phép « cốp-py » bất cứ những gì của người. Học hỏi có nghĩa là thu tập, lựa chọn, gạn lọc, thêm bớt và đồng hóa thành của riêng mình, chứ không phải nhắm mắt bắt chước hay làm theo. Ðược như thế, những tiến bộ chúng ta đã, đang và sẽ đạt được là hoàn toàn của chúng ta, của dân tộc chúng ta, và chúng ta mới có thể tự hào là người Việt Nam, là con rồng cháu tiên !

Nguyễn Hữu Thy