NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Cải cách hành chính là một nhu cầu cấp bách để phát triển kinh tế xã hội và để hội nhập - GS Vũ Tất Thắng , Kiều bào Nhật Bản

Cải cách hành chính là một nhu cầu cấp bách để phát triển kinh tế xã hội và để hội nhập .Nó cấp bách vì chúng ta đang hội nhập vào EFTA và WTO. Vì nếu thiếu một hành lang pháp lý thông thoáng thì các công ty trong nước sẽ không thể cạnh tranh trong làn sóng tự do hoá trong khu vực (EFTA) và toàn cầu hoá (WTO) trên thế giới.

Thủ tục rườm rà gây tổn thất đáng kể cho nước nhà

Ta thấy thủ tục rườm rà làm mất thì giờ của nhân dân và cán bộ công chức: Ta thử cộng lại thì giờ tiêu hao của dân chúng và cán bộ công chức vì những thủ tục này, thì sẽ thấy tổn thất đáng kể. Thời gian ấy lẽ ra phải dùng vào các việc có tính cách sản xuất, thì người dân lại phải bỏ công việc để làm thủ tục hành chính, gây tổn thất không ít.

Nhân dân phải đi lại các cơ quan nhiều lần phải tốn phí giao thông. Ta thử cộng lại phí giao thông và thì giờ lãng phí trong các thủ tục hành chính thì sẽ có tổn thất tổng gộp gây ra bởi thủ tục hành chính rườm rà và lỗi thời.

Nên chăng chúng ta nghiên cứu thay đổi các thủ tục lỗi thời

Tôi nói lỗi thời vì một số thủ tục thông dụng trong thời kỳ bao cấp, nay không hợp thời nữa vẫn được tiếp tục tạo thành rào cản không cần thiết cho nhân dân và doanh nhân.

Việc quản lý hộ khẩu phát sinh trong thời kỳ bao cấp khi tất cả vật tư và sản phẩm đều phải cung cấp theo tem phiếu. Nay chúng ta đã đổi mới được hơn mười năm, chế độ cung cấp theo tem phiếu không còn nữa. Vậy chúng ta quản lý hộ khẩu vào mục đích gì? Hiện nay, tại một số đô thị lớn, mục đích chính của việc quản lý hộ khẩu là nhằm điều chỉnh dân số để tránh tình trạng quá tải do mật độ dân số đô thị quá cao. Ủy Ban Nhân Dân một số đô thị lớn đòi hỏi phải có hộ khẩu trong thủ tục đăng ký nhà đất.

Tôi thông cảm với Ủy Ban Nhân Dân các đô thị lớn về nhu cầu điều chỉnh dân số này. Tuy nhiên nhà trức trách phải tìm những biện pháp khác hơn là hạn chế quyền tự do cư trú của nhân dân.

Ở Nhật Bản, sau thế chiến thứ hai, trong tình trạng thiếu lương thực trầm trọng, chính phủ nước này cũng quản lý sổ hộ tịch (tương đương với sổ hộ khẩu của ta). Phải có sổ hộ tịch thì mới được cấp sổ mua gạo (Okome Tsucho). Chế độ này y như chế độ tem phiếu trong thời bao cấp ở nước ta. Tuy nhiên chỉ 5 – 10 năm sau (Thập niên 50 Thế Kỷ 20) khi kinh tế ổn định và tình hình cung cấp lương thực được cải thiện, chính phủ Nhật Bản đã bãi bỏ việc cấp sổ mua gạo, và từ đó họ chuyển trọng tâm quản lý cư dân sang việc quản lý địa chỉ cư trú.

Gần đây, truyền hình huyện Vân Đồn có đăng thông báo tuyển sinh cho trường trung học phổ thông của Huyện, đòi hỏi học sinh phải có hộ khẩu tại Vân Đồn mới được nộp đơn. Như vậy nếu bố mẹ học sinh có nhu cầu làm việc tại Vân Đồn sẽ phải chuyển hộ khẩu thì con cái mới có điều kiện học hành! Nếu chúng ta chuyển qua quản lý địa chỉ cư trú và chỉ đòi hỏi giấy chứng nhận cư trú khi xin nhập học thì đỡ phiền hà cho dân chúng rất nhiều.

Cần tạo văn hoá hành chính lịch sự và bình đẳng

Ngoài ra, sự trì trệ trong thủ tục hành chính còn làm mất lòng tin của nhân dân. Ở Nhật Bản chẳng hạn, công chức và người dân làm các thủ tục hành chính trong tình thân thiện lịch sự, cởi mở và bình đẳng. Việc này rất bình thường vì công chức thực sự là công bộc của nhân dân, họ lãnh lương từ tiền thuế do dân đóng góp. Công chức có nhiệm vụ là phục vụ nhân dân. Còn ở nước ta, việc bình thường này lại ít khi xẩy ra vì cơ chế xin - cho. Hầu như bất cứ điều gì cũng phải “xin”. Điều này dẫn đến tệ nạn một số cán bộ thoái hoá đòi “đầu tiên” rồi mới “cho”, nếu không họ sẽ kéo dài thủ tục vô thời hạn!

Nên chăng chúng ta phải tái giáo dục cán bộ theo như lời bác Hồ đã dạy là phải phục vụ nhân dân. Người dân đến các cơ quan hành chính không phải để xin mà họ đến để nhận các dịch vụ từ quyền công dân. Cán bộ lĩnh lương từ tiền thuế do nhân dân đóng góp phải cung cấp các dịch vụ hành chính tronng tình thân thiện lịch sự và bình đẳng. Điều này là thường thức ở bất kỳ một nước tiến bộ nào.

Hiện nay, phương châm của nhà nước là công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Theo thiển ý, hiện đại hoá bao hàm sự bình thường hoá quan hệ ứng xử giữa nhân dân và cán bộ.

Phương pháp tuyển chọn công chức của Nhật Bản

Để tìm hiểu xem ở các nước tiến bộ, người ta tổ chức nhân sự thế nào, người viết xin đơn cử trường hợp Nhật Bản và giới thiệu sơ lược phương pháp tuyển công chức công khai và công bằng của Nhật Bản.

Trong cơ cấu tổ chức của chính phủ Nhật Bản có viện nhân sự là cơ quan quản lý việc tuyển chọn công chức và quy định chế độ lương bổng cho công chức. Mỗi năm, các bộ và cơ quan ngang bộ phải báo cáo với viện nhân sự về nhu cầu nhân sự mới, cụ thể là cần bao nhiêu công chức cao cấp, bao nhiêu công chức trung cấp. Viện nhân sự tổng gộp nhu cầu của các bộ và cơ quan ngang bộ rồi quyết định số công chức cần tuyển chọn cho cả năm. Ngân sách của Nhật Bản bắt đầu ngày 1 tháng 4 hàng năm; niên học cũng vậy. Vì thế kỳ thi tuyển công chức được tổ chức vào tháng 10 hàng năm. Người được tuyển chọn sẽ bắt đầu làm việc vào tháng tư năm sau

Hàng năm viện nhân sự và chính quyền địa phương tổ chức các kỳ thi tuyển công chức cao cấp và trung cấp. Ngoài giới hạn về tuổi tác: dưới 26 tuổi, thí sinh không cần có bằng cấp nào cả. Tuy nhiên đề thi cho công chức cao cấp có trình độ đại học và đề thi cho công chức trung cấp có trình độ trung học phổ thông. Trình độ đề thi khá cao nên các thí không đủ thực lực thì không dám dự thi. Khi trúng tuyển, thí sinh có quyền nêu nguyện vọng muốn vào làm trong bộ nào; họ chỉ đạt nguyện vọng của mình nếu có điểm cao. Người Nhật cấm kỵ việc anh em, chị em hay bố con, mẹ con cùng làm trong một bộ.

Trong các công ty cũng vậy. Xin nêu một ví dụ: Khi công ty Honda cổ phần hoá, nghĩa là chuyển từ công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn sang công ty cổ phần, ông Honda Soichiro, người sáng lập công ty đã chuyển em trai mình, một kỹ sư giỏi sang một công ty khác vì ông nghĩ rằng việc em trai ông làm trong công ty Honda sẽ làm giảm sĩ khí của công nhân viên Honda! Tóm lại, chỉ một chế độ đãi ngộ thích đáng chí công vô tư thì mới tụ tập được nhân tài.

Về lương bổng, hàng năm bộ tài chính lấy thống kê về lương bổng trong nước rồi tính ra bình quân lương bổng. Mức lương khởi đầu cho công chức cao cấp, được định bởi mức lương trung bình của các kỹ sư hay nhân viên viên mới tốt nghiệp đại học, trong các công ty thuộc bộ môn tư nhân, cộng thêm một hằng số tương đối. Mức lương cho công chức trung cấp cũng được định bởi mức lương trung bình của các công nhân viên thuộc bộ môn tư nhân mới tốt nghiệp trung học phổ thông (lớp 12) cộng thêm một hằng số. Việc tăng lương hàng năm cũng làm theo phương pháp này.

Mục đích của viện nhân sự Nhật Bản là định mức đãi ngộ trên trung bình để thu hút nhân tài.

Ngoài ra, chế độ lương hưu cho công chức Nhật Bản cũng tương đối cao hơn chế độ lương hưu trong bộ môn tư nhân.

Nhờ vậy Nhật Bản luôn có một đội ngũ cán bộ công chức rất ưu tú. Họ là đầu tầu cho phát triển kinh tế xã hội ở nước họ.

Khi mới về Hà Nội công tác từ cuối năm 1992, người viết rất ngạc nhiên khi biết vài trường hợp như bố làm vụ trưởng mà con gái lại làm nhân viên thư ký. Như vậy thì làm sao mà giữ được kỷ cương nữa!

Nên chăng chúng ta cần nghiên cứu, áp dụng linh hoạt vào chế độ tuyển dụng cán bộ công chức nước ta, từ những gì mà nước ngoài đã áp dụng và thành công.