+ Untitled Document
        NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Cơ chế huy động Việt kiều trong việc phát triển khoa học kĩ thuật - GS TS Nguyễn Văn Tuấn , Kiều bào Úc

Vì những dao động lịch sử, Việt Nam ngày nay có một cộng đồng người Việt sống xa quê hương. Hình như chưa bao giờ trong lịch sử nước ta có một tập thể người Việt sống xa quê hương đông đảo như hiện nay. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài là một lực lượng trí thức lớn, là một thế mạnh của Việt Nam, một thế mạnh mà các nước trong vùng khi tham gia WTO không có được. Theo vài ước tính, con số người Việt hiện đang sống và làm việc ở nước ngoài đã lên đến 3 triệu, và trong số này có khoảng nửa triệu người với trình độ đại học trở lên hiện đang làm việc trong nhiều lĩnh vực “mũi nhọn” mà Việt Nam đang cần. Nhiều người là các doanh nhân thành công, là những chuyên gia tài chính quốc tế tài ba, là những nhà khoa học lừng danh từng có đóng góp quan trọng cho nước sở tại. Hầu như trong bất cứ lĩnh vực công nghệ tiên tiến nào đều có tên tuổi của các nhà khoa học gốc Việt. Vấn đề đặt ra là làm sao thu dụng nguồn chất xám này để góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong môi trường mới của WTO.

Những người Việt sống xa quê thường đặt câu hỏi là trong thời gian hòa bình này chúng ta có thể làm gì để cùng nhau hợp lực xóa bỏ những “kẻ thù” nguy hiểm trên, làm sao để giúp cho đất nước giàu hơn, hùng mạnh hơn, và xã hội công bằng hơn. Nếu sự phát triển kinh tế và khoa học của Đài Loan và Hàn Quốc ngày nay có sự đóng góp to lớn từ những người Đài Loan và Hàn Quốc ở nước ngoài, thì người Việt ở nước ngoài vẫn có thể đóng góp để đưa Việt Nam phát triển nhanh hơn.

Ngày nay, ở nước ta, giới lãnh đạo nhà nước cũng đã nhận thức được tiềm năng kinh tế và tri thức của Việt kiều, đánh giá cao vai trò của người Việt ở nước ngoài trong thời gian kinh tế Việt Nam còn khó khăn, và đang kêu gọi, khuyến khích Việt kiều đóng góp vào công cuộc hiện đại hóa đất nước trong tương lai. Nhà nước, và bắt đầu có những chính sách khuyến khích Việt kiều về tham gia vào việc phát triển khoa học và kinh tế nước nhà.

Có thể nói đại đa số Việt kiều ở nước ngoài, dù có vài khác biệt về chính kiến với nhau, ai cũng đau đáu nhìn về quê nhà, và mong muốn “làm một cái gì đó” đưa góp phần đưa Việt Nam vào hàng ngũ các nước đã phát triển, và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Nhưng cho đến nay, sự có mặt của Việt kiều trong các hoạt động khoa học kĩ thuật (và ngay cả kinh doanh) còn quá khiêm tốn. Đã có vài hiệp hội doanh nhân và khoa học Việt kiều được hình thành. Nhưng hiệu quả của các chính sách thu hút Việt kiều vẫn còn quá khiêm tốn. Tình trạng khiêm tốn này chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của Việt kiều. Tiềm năng này có thật và đã được minh chứng qua những thành công ngoạn mục của người Việt ở nước ngoài trong thương trường cũng như khoa học kĩ thuật.

Câu hỏi đặt ra là tại sao: Tại sao qua nhiều năm được khuyến khích và kêu gọi mà sự hiện diện của Việt kiều trong các lĩnh vực khoa học kĩ thuật và giáo dục còn quá ít. Mổ xẻ câu hỏi này cho đến nơi đến chốn chắc cần phải có một hội nghị chuyên đề và nhiều nghiên cứu nghiêm chỉnh. Ở đây, người viết chỉ muốn nêu lên hai vấn đề thực tế để góp phần trả lời cho câu hỏi trên: đó là vấn đề cơ chế và tình trạng thiếu đại diện của Việt kiều ở trong nước.

Phía nhà nước, dù đã có chính sách chung và thường xuyên kêu gọi sự đóng góp của Việt kiều, nhưng vẫn còn thiếu một cơ chế cụ thể và khả thi. Do đó, lời kêu gọi và chính sách chỉ tồn tại trên mặt chữ, trên báo chí hay hệ thống truyền thông, chứ chưa được thể hiện qua hành động thực tế. Nhà nước tuyên bố xem Việt kiều là một bộ phận không thể tách rời trong đại gia đình Việt Nam, nhưng thực tế thì Việt kiều, kể cả những Việt kiều từng có nhiều đóng góp cho quê hương, vẫn phải xin visa để về thăm quê. Nhà nước tuyên bố sẽ trọng dụng các giáo sư và chuyên gia Việt kiều, nhưng khi thành lập ban cố vấn xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế thì hoàn toàn không có một Việt kiều nào!

Và nhất là chuyện “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” vẫn còn quá phổ biến ở trong nước. Vẫn còn những câu chuyện đau lòng theo kiểu “cấp trên nói một đằng, cấp dưới làm một nẽo” làm nãn lòng, thậm chí tan hoang gia sản của vài Việt kiều từng về làm kinh doanh ở Việt Nam. Nhiều nhà khoa học Việt kiều muốn đóng góp cho sự nghiệp phát triển khoa học nước nhà, nhưng họ vẫn chỉ là những người “cưỡi ngựa xem hoa”, vẫn chỉ là những “cố vấn” không có quyền, vẫn đứng bên lề, vì những thủ tục hành chính cồng kềnh và cơ chế tổ chức phức tạp mà họ chỉ biết lắc đầu ngao ngán. Trong khi đó các đồng nghiệp người Mĩ, người Pháp, người Úc của họ thì được săn đón niềm nở. Người viết bài này có lần trao đổi với một giáo sư người Úc và ông thắc mắc “không hiểu tại sao họ [ý nói đồng nghiệp trong nước] lại cần đến tôi, trong khi có vài giáo sư người Việt ở bên này mà tôi biết có khả năng chuyên môn cao hơn tôi lại không được đếm xỉa đến”. Hình như một số trong giới lãnh đạo Việt Nam vẫn tồn tại một suy nghĩ rằng chuyên gia người nước ngoài là tài giỏi hơn chuyên gia Việt kiều.

Ngoài ra, chính quyền tại một số địa phương, nhất là các tỉnh, vẫn chưa có cái nhìn chính xác về Việt kiều. Thật vật, ngoại trừ các thành phố lớn có chính sách thông thoáng thu hút Việt kiều, nhiều tỉnh vẫn còn rất bảo thủ và tồn tại quan điểm về Việt kiều như thời bao cấp. Đó là sự mang nặng thành kiến về động cơ rời Việt Nam của Việt kiều trong mấy thập niên trước đây; thậm chí một số quan chức vẫn xem Việt kiều như là những người “phản động”. Và, hệ quả là mỗi khi Việt kiều nghĩ đến đầu tư hay chuyển giao công nghệ, họ ít khi nào dám nghĩ đến chuyện về quê (tỉnh).

Tại sao ở nước ngoài, một số không nhỏ người Việt Nam tỏ ra thành công trong bất cứ lĩnh vực nào (kể cả khoa học, kĩ thuật, kinh tế, và giáo dục) và có những đóng góp quan trọng cho nước sở tại, mà lại không giúp gì được cho quê nhà? Cố nhiên, thành công của người Việt ở nước ngoài là do một phần nội lực của người Việt, nhưng cũng không thể chối bỏ rằng những thành công đó được xây dựng trên cơ sở vật chất của nước sở tại mà cha ông họ đã dày công xây đắp và để lại. Các nước sở tại đã tử tế, tỏ lòng hiếu khách với người Việt, tạo cơ hội công bằng, thậm chí giúp đỡ cho chúng ta theo học những ngành tiên tiến nhất. Có lẽ đó chính là những yếu tố giúp người Việt nhanh chóng ổn định cuộc sống và thành công ở nước ngoài. Nếu các nước đón nhận người Việt định cư có thể làm như thế thì tại sao nước ta không có (hay tạo ra) cơ chế giúp đỡ những người con nước Việt ở nước ngoài muốn góp một phần vào phát triển xứ sở? Đứng về mặt đường lối, mấy năm gần đây Nhà nước đã có nhiều chính sách đúng đắn nhằm huy động nguồn trí thức từ nước ngoài, nhưng trong thực tế việc thực thi các chính sách đó vẫn còn nhiều bất cập, thậm chí còn xảy ra tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” ở vài địa phương.

Dân số Việt kiều được ước tính là khoảng 3 triệu người, tức còn lớn hơn một tỉnh thành ở Việt Nam. Tổng số tiền mà Việt kiều gửi về Việt Nam hàng năm lên đến con số 3 tỉ đô-la. Dù qui mô về dân số và đóng góp cho quê hương như thế, Việt kiều vẫn chưa có một tiếng nói chính thức ở các nghị trường trong nước. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ủy ban Người Việt Nam ở Nước Ngoài tuy có Việt kiều là thành viên, nhưng trong thực tế vẫn không phải là đại diện cho Việt kiều. Chính vì tình trạng thiếu đại diện này mà nhiều khi tâm tư, nguyện vọng, và yêu sách của Việt kiều ít khi nào đến tai mắt chính phủ. Vì không có một kênh giao lưu chính thức, mối liên hệ giữa kiều bào và chính phủ vẫn còn một khoảng cách vô hình, và không ít hiểu lầm và trở ngại cho đôi bên. Hệ quả là nhiều khi chính sách của chính phủ không đi sát với tình hình thực tế, hay có khi phát biểu của các quan chức chính phủ về Việt kiều rất chung chung, gượng ép, có khi … khôi hài.

Thật ra, không nhất thiết Việt kiều phải về Việt Nam, vì trong nhiều ngành nghề, Việt kiều vẫn có thể đóng góp cho quê hương dù ở ngoại quốc. Trong thời đại viễn thông và internet ngày nay, nơi chốn làm việc không còn là một vấn đề lớn nữa. Nhưng vấn đề là làm sao tập trung và nối kết được trí thức Việt kiều và các cơ quan nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân. Hiện nay, có thể nói, các sứ quán Việt Nam ở nước ngoài dù có cố gắng nhưng vẫn chưa phải là cầu nối thân mật giữa Việt kiều và Việt Nam. Trong thực tế, mối liên hệ giữa Việt kiều và các sứ quán vẫn còn một khoảng cách dè dặt đáng kể, cho nên việc huy động nguồn lực Việt kiều vẫn chưa được thực hiện có hệ thống.

Cũng như tại các nước họ định cư, rất nhiều Việt kiều muốn có một tiếng nói độc lập với chính quyền ở trong nước. Sự độc lập này đảm bảo tính khách quan và dân chủ trong mối quan hệ giữa Việt kiều và chính quyền.

Ở thời điểm này, có thể nói nhà nước và Việt kiều đã gặp nhau tại một giao điểm: ước nguyện làm cho Việt Nam phát triển nhanh chóng và ổn định. Nhưng vấn đề còn lại là làm sao biến chính sách và ước nguyện thành hiện thực, tạo điều kiện cho Việt kiều tham gia vào công cuộc kĩ nghệ hóa đất nước. Chính sách và những lời nói hoa mĩ chưa đủ, mà cần phải có một cơ chế thông thoáng và cụ thể, một sự đổi mới về tư duy, và đại diện độc lập của Việt kiều trong Quốc hội là nền tảng cho những bước đi cụ thể kế tiếp. Nhìn qua kinh nghiệm phát triển của Đài Loan và Hàn quốc trước đây, hay kinh nghiệm của Trung Quốc ngày nay, ai cũng thấy giới trí thức kiều bào của họ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng một bệ phóng cho phát triển kinh tế và khoa học. Nếu kinh nghiệm từ các nước đó là một yếu tố để chúng ta suy đoán thì Việt Nam hoàn toàn có khả năng phát triển như họ, và có thể phát triển nhanh hơn, vì Việt Nam có một lực lượng trí thức Việt kiều lớn và mạnh không những rành luật chơi mới mà còn từng tham gia vào sân chơi mới mà nước ta đang sắp vào cuộc.

Một máy tính với hai con chíp vận hành hữu hiệu hơn và nhanh hơn máy tính với một con chíp. Hiện nay, có thể nói ví von rằng Việt Nam chúng ta có hai bộ óc, nhưng chỉ mới sử dụng một bộ óc. Nhà nước cần có chính sách cụ thể và cơ chế thông thoáng thu dụng Việt kiều, kể cả Việt kiều thế hệ thứ hai, để họ có cơ hội phục vụ cho quê hương, để tiềm năng của dân tộc có cơ hội được thể hiện đầy đủ và làm bệ phóng cho phát triển trong thời cơ mới.