NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Bản báo cáo của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF nói gì về thực trạng kinh tế Việt Nam ?

Bản báo cáo thường niên dài 51 trang của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF ( International Monetary Fund ) - một tổ chức tài chính quốc tế với 184 thành viên quốc gia - được công bố vào tháng 11 năm 2006 về tình hình kinh tế Việt Nam đáng dành sự chú ý cho những ai quan tâm đến thực trạng của một nền kinh tế được xem là phát triển nhanh nhất là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư quốc tế trong vùng Châu Á Thái Bình Dương chỉ sau Trung Quốc. Đây là bản tường trình với các con số thống kê đầy đủ và đáng tin cậy.

Các con số thống kê từ tỉ lệ tăng trưởng GDP trong 5 năm qua, cơ cấu của các ngành kỹ nghệ quan trọng trong nền kinh tế như dịch vụ, công nghiệp và xây dựng, nông nghiệp, đến các con số như tốc độ đô thị hoá và chuyển dịch cơ cấu dân số từ nông thôn sang thành thị đều được thống kê đầy đủ.

Ngoài ra, các con số như tổng số nợ hiện tại mà Việt Nam đang mắc nợ nước ngoài, tỉ lệ tăng trưởng tín dụng tài chính, tỉ lệ tăng trưởng của khối nợ quốc nội cũng được thống kê chi tiết. Điều đặc biệt là đây là bản tường trình với các con số thông kê thuần tuý và không có phần nhận định và phân tích.

Trong bài viết này, người viết sẽ giới hạn và trích dẫn không quá nhiều các con số thống kê từ bản tường trình này và từ đó rút ra những nhận định về thực trạng của nền kinh tế Việt Nam và ý nghĩa thực sự đằng sau các con số thống kê vốn không biết nói nhưng trung thực - và đây là một việc không hề dễ dàng.

Những con số phát triển ấn tượng và hấp dẫn

Kinh tế Việt Nam tăng trưởng khởi sắc và khá cao từ năm 2001 – 2005 với tỉ lệ tăng trưởng GDP cho năm 2005 là 8.4% sau khi điều chỉnh lạm phát. Tổng GDP của VN năm 2005 là 53 tỉ Mỹ kim với 83 triệu dân – GDP đầu người 636 Mỹ kim. Lạm phát được kiềm chế và duy trì dưới hai con số trong giai đoạn này. Nếu so sánh với giai đoạn 1985-1990 - khi Việt Nam phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện và nền kinh tế liên tục giảm sút và lạm phát phi mã lên đến 450% vào năm 1989 thì những con số tăng trưởng trong 5 năm qua là khả quan.

Các báo chí không ngừng ca ngợi các thành quả kinh tế to lớn mà Việt Nam đã đạt được trong những năm qua và nghĩ đến một viễn cảnh với Việt Nam là một con rồng kinh tế của Á châu trong tương lai không xa. Câu hỏi được đặt ra là liệu Việt Nam có thể hoá rồng trong một tương lai gần không ?

Trong quá trình hiện đại hoá nền kinh tế, nhiều quốc gia trên thế giới từ Mỹ, Nhật Bản, các quốc gia Âu Châu đến Trung Quốc hay các nền kinh tế phát triển gần đây như Nam Hàn, Đài Loan, Singapore…cơ cấu sản xuất của những nền kinh tế đang phát triển chuyển dịch từ nông nhiệp sang công nghiệp và dịch vụ với dịch vụ ngày càng chiếm phần quan trọng - trên phương diện gia tăng lực lượng lao động lẫn giá trị đóng góp cho nền kinh tế.

Khi nền kinh tế phát triển ở mức độ càng cao tỉ lệ lao động làm việc trong các ngành nghề dịch vụ càng lớn và đóng góp của ngành này vào GDP tăng theo. Bên cạnh đó tốc độ đô thị hoá diễn ra phải tăng đều để tiếp nhận và đáp ứng về chổ ở làm việc và sinh sống cho những công nhân lao động rời bỏ nông thôn tìm việc làm và cơ hội cho một tương lai tốt đẹp hơn tại các trung tâm đô thị, bán đô thị.

Đây là quy trình bất biến và phải xảy ra trong quá trình hiện đại hoá và mở rộng nền sản xuất trong một nền kinh tế thị trường đang phát triển - mà Việt Nam không là trường hợp ngoại lệ. Hay nói cách khác rằng một khi hiện tượng này không xảy ra hoặc xảy ra một cách chậm chạp, quá trình hiện đại hoá bị tắc nghẽn và chậm lại là không thể tránh khỏi.

Tuy nhiên phải hiểu rằng “đẩy” dân từ nông thôn ra thành thị không phải là động thái cần thiết để thúc đẩy quá trình hiện đại hoá và đô thị hoá mà quan trọng là nền kinh tế - đặc biệt là các trung tâm đô thị và bán đô thị - phải tạo ra đủ việc làm để thu hút các lao động về thành thị hoặc vùng lân cận từ nông thôn từ đó thúc đẩy quá trình đô thị hoá và chuyển dịch cơ cấu sản xuất của nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.

Theo bản thống kê của IMF, dân số Việt Nam sinh sống ở nông thôn vào năm 2001 chiếm 75.3% dân số cả nước, đến năm 2005 tỉ lệ dân số gắn liền với đời sống nông nghiệp truyền thống là 73%. Với tốc độ chuyển dịch chưa đến 1%/năm và với xu hướng này, Việt Nam phải mất ít nhất 20-30 năm để có được cơ cấu tỉ lệ dân số sinh sống ở thành thị và nông thôn xuống còn 50%, nếu không có những kế sách phát triển đô thị phù hợp và đẩy mạnh tăng trưởng các ngành nghề dịch vụ nhằm tạo ra nhiều việc làm và mang lại giá trị kinh tế cao cho nền kinh tế.

Giá trị đóng góp vào GDP từ nông nghiệp, đánh bắt thuỷ sản, lâm nghiệp là 21% vào năm 2005 nhưng số lao động lại chiếm đến 57% trên tống lực lượng lao động của cả nền kinh tế, theo báo cáo của IMF. Một lực lượng lao động rất lớn bị “nhốt” ở nông thôn hoặc nền kinh tế không phát triển đủ mạnh và tạo ra đủ cơ hội việc làm mới để có thể “giải phóng” lực lượng lao động khổng lồ này ra khỏi nông thôn.

Một điều đáng chú ý là trong tổng số lao động làm việc ngoài khu vực quốc doanh, có đến hơn 62% lao động hoạt động trong nông nghiệp hoặc đánh cá hoặc làm nghề rừng (24,038 triệu/38,582 triệu). Có nghĩa là cứ 3 người làm việc ngoài khu vực quốc doanh, có đến 2 người là nông dân. Khu vực quốc doanh – dù được rót đến 50% vốn đầu tư hằng năm và nắm trong tay đến 70% tài sản cố định của nền kinh tế - chiếm 10% lao động trên tổng số lao động cả nước (4,127 triệu/42,709 triệu).

Hay nói khác đi cứ mỗi 10 lao động Việt Nam có 1 lao động làm việc trong khu vực quốc doanh, và trong số 9 lao động còn lại có đến 6 người là nông dân chăm chỉ “cày sâu cuốc bẩm”.

Xuất khẩu là một trong những đầu tàu phát triển kinh tế

Nhìn vào sự thành công với xuất khẩu làm động lực phát triển từ các quốc gia phát triển và có tốc độ tăng trưởng kinh tế ở châu Á và trong khu vực như Nhật, Nam Hàn, Singapore, Trung Quốc…các nhà hoạch định chính sách kinh tế Việt Nam đã chọn xuất khẩu là một trong những đầu tàu phát triển (engine of economic growth) với mong muốn giải quyết các khó khăn trong phát triển kinh tế. Và việc Việt Nam tham gia tổ chức thương mại toàn cầu WTO khẳng định lựa chọn này.

Mục tiêu gia nhập WTO của Việt Nam không ngoài gia tăng sự thâm nhập các thị trường tiêu thụ trên thế giới đặc biệt là các thị trường lớn có sức tiêu thụ mạnh như Mỹ, Âu châu, Nhật Bản qua đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ mà phần chính dựa vào giá cả nhân công rẻ và dồi dào. Để có một nhận định đúng đắn, chúng ta hãy nhìn xem Việt Nam xuất khẩu những gì, cơ cấu xuất khẩu ra sao và giá trị các mặt hàng ấy thế nào.

Kỹ nghệ xuất khẩu Việt Nam năm 2005 xuất khẩu một lượng hàng hoá dịch vụ trị giá 25 tỉ Mỹ kim trong đó không kể các sản phẩm dầu khí. Nếu tính luôn xuất khẩu dầu khí tổng giá trị xuất khẩu là 32,4 tỉ Mỹ kim. Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới nhưng trị giá kinh tế mặt hàng gạo chỉ chiếm 4% trên tổng số xuất khẩu của Việt Nam khi gộp chung giá trị của các sản phẩm dầu khí vào.

Trong 3 mặt hàng chiến lược chiếm tỉ trọng giá trị cao nhất – ngoài khu vực dầu khí - gồm có hàng may mặc, giày da, và thuỷ sản với tỉ trọng lần lượt 15%, 9.4% và 8.4%. Ba ngành kỹ nghệ này thu hút hàng triệu lao động của nền kinh tế nhưng trị giá gia tăng mà các ngành kỹ nghệ này mang lại vẫn còn thấp, vẫn dựa vào lợi thế sức lao động là chính.

Hơn nữa nguồn nguyên liệu cho may mặc và giầy da hầu hết phải nhập khẩu từ nước ngoài rồi gia công thành phẩm thay vì tự cung cấp tự sản xuất như kỹ nghệ may mặc da giầy của Trung Quốc – và đây là một trong những lý do tại sao giá trị gia tăng trên tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm tỉ lệ vào khoảng 25% và chỉ giá trị kinh tế này được tính vào GDP.

Trong khi trị giá hàng may mặc chiếm 15%, hàng điện tử và linh kiện điện tử - một mặt hàng chiến lược có giá trị gia tăng cao đặc biệt là ở các nước đang phát triển - chỉ chiếm 4.4% trên tổng số kim ngạch xuất khẩu Việt Nam. Và đây là một trong những yếu kém nghiêm trọng về cơ cấu sản xuất và ưu tiên phân bố lực lượng lao động và tài nguyên của nền kinh tế Việt Nam vào ngành kỹ nghệ “dùng sức” này.

Khác với Việt Nam, Trung Quốc đã đặt ưu tiên cho kỹ nghệ điện tử - máy tính điện toán và từng bước chiếm lĩnh thị trường toàn cầu về công nghệ lắp ráp trong khi đó Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội xây dựng và phát triển một ngành kỹ nghệ vô cùng quan trọng và thiết yếu cho nền tảng phát triển của nền kinh tế nội địa .

Quá trình phát triển của một ngành kỹ nghệ và vòng xoay của sự ra đời một sản phẩm hay dịch vụ hầu hết được bắt đầu bằng sự ra đời ở các nền kinh tế phát triển cao – nơi tập trung các đầu não nghiên cứu và phát triển sản phẩm - và dịch chuyển dần sang các nền kinh tế phát triển tầm trung rồi đến các nước đang phát triển.

Thay vì phát triển kỹ nghệ điện tử và máy tính làm nền tảng, Việt Nam đặt chú trọng và ưu tiên vào phát triển kỹ nghệ xe hơi mà thực ra chủ yếu là lắp ráp và sản xuất các phụ tùng hổ trợ có kỹ thuật và giá trị kinh tế thấp – một lựa chọn sai lầm về chiến lược – trong khi kỹ nghệ điện tử và chế tạo vật liệu là không thể thiếu và tách rời khi phát triển ngành kỹ nghệ xe hơi.

Và để hổ trợ cho ngành kỹ nghệ xe hơi nội địa, Việt Nam đã đánh thuế nặng vào xe hơi nhập khẩu với “tỉ lệ trừng phạt” biến Việt Nam thành một trong những quốc gia có giá xe hơi đắt nhất thế giới. Chính sách này mang lại thiệt hại cho toàn bộ nền kinh tế - ngoài trừ các công ty trực tiếp sản xuất lắp ráp xe hơi và các tổ chức hoặc cá nhân có đặc quyền đặc lợi - khi phải gánh chịu các chi phí vận chuyển trong hoạt động sản xuất kinh doanh cao. Và mức thuế càng cao chi phí này càng bị đẩy lên cao.

Hầu hết các công ty tư nhân có quy mô vừa và nhỏ về vốn và việc áp thuế trừng phạt đã đẩy cơ cấu chi phí (cost structure) lên cao, làm tăng cao giá thành sản phẩm và giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường. Các công ty thay vì rót tiền vốn vào mở rộng sản xuất, áp dụng kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất lao động và khả năng cạnh tranh thì họ phải chi tiêu vào những chiếc xe hơi có giá cao gấp 3 lần so với các thị trường phát triển như Mỹ – trong khi xe hơi là phương tiện căn bản và cần thiết trong kinh doanh sản xuất. Và mặc dù được hưởng sự bảo trợ rất lớn, ngành xe hơi chưa góp mặt trong các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Nợ trong và ngoài nước của Việt Nam

Chính phủ Việt Nam đã vay một lượng tiền vốn lớn với mức độ tăng nhanh từ thị trường nội địa trong 2002-2005. Chỉ riêng trong một năm 2004-2005 tỉ lệ này tăng 33%. Đây là khoản nợ đến từ công dân Việt Nam và một khi chính phủ - qua việc bán công khố phiếu – thu hút mạnh nguồn vốn này, sự cạnh tranh về tiền vốn trong nền kinh tế sẽ cao hơn và hệ quả là đẩy lãi xuất trên thị trường tài chính lên cao, mà giới kinh tế tài chính gọi hiện tượng này là “crowding out”.

Theo báo cáo của IMF, tổng số nợ trong và ngoài nước của Việt Nam đã lên đến 44% của GDP tính đến năm 2005 trong đó nợ nước ngoài chiếm 26.6% của GDP – trong khi Trung Quốc có số nợ nước ngoài chưa đến 13% của GDP (Trích nguồn World Bank) và có số dự trữ ngoại tệ hơn 1000 tỉ Mỹ kim tính đến cuối năm 2006.

So sánh với Hoa Kỳ - một nền kinh tế phát triển dựa vào tiêu thụ ( consumer spending ) với tỉ trọng chiếm 2/3 của GDP và nợ tín dụng ở nhiều dạng khác nhau - liên tục bị thâm thủng mậu dịch và ngân sách ở mức đáng ngại trong mấy năm qua cũng chỉ có tổng số nợ chiếm 36% của GDP .

Nhìn vào các con số tăng trưởng nợ của Việt Nam trong 4 năm qua, tỉ lệ tăng tổng nợ trên GDP là rất đáng lo ngại và tỉ lệ này dao động trong khoảng 3% - 7%. Nếu tốc độ tăng nợ duy trì chỉ ở mức 3% /năm, tổng số nợ của VN vào năm 2010 sẽ vượt 50% của GDP - một gánh nặng tài chính khổng lồ cho một nền kinh tế vừa nhỏ về quy mô vừa thiếu năng động nhưng tràn ngập tham nhũng.

Kết Luận

Vay nợ để phát triển là con đường mà các nước đang phát triển buộc phải đi khi cần một nguồn tiến vốn tư bản lớn để mở rộng nền sản xuất, xây dựng và tổ chức các ngành kỹ nghệ quan trọng làm đòn bẩy phát triển cho cả nền kinh tế, nhưng bài học phát triển không thiếu các quốc gia vì lãnh đạo vô trách nhiệm hoặc quản trị kém (mismanagement) hoặc tham nhũng đã bị các món nợ khổng lồ kéo lùi như Philippine, Argentina, Cambodia, Sri Lanka, Pakistan...

Nợ luôn là con dao hai lưỡi bởi biết sử dụng nó một cách hữu hiệu và có trách nhiệm nó sẽ là đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế nhưng xem đó như là “của trời cho” bằng cách cắt xén tham nhũng khi có thể và sử dụng kém hiệu quả sẽ đưa đến hậu quả nặng nề cho các thế hệ tương lai của đất nước. Các biện pháp như xin giảm nợ, khất nợ chỉ làm xấu hình ảnh uy tín quốc gia và làm thay đổi xấu đi đánh giá trên thị trường tài chính bởi các nhà đầu tư hoặc chủ nợ. Tổng số nợ của Việt Nam hiện nay đang ở mức gần “đụng trần” mà một nền kinh tế nhỏ và kém hiệu quả như Việt Nam cho phép.

Những ngành kỹ nghệ mà Việt Nam đang ưu tiên phát triển dù tạo ra việc làm cho thị trường lao động nội địa và giúp tăng kim ngạch xuất khẩu, các ngành kỹ nghệ này không phải là nền tảng giúp nền kinh tế VN phát triển lâu dài và bền vững để tiến đến một Việt Nam thịnh vượng trong tương lai.

Các con số tăng trưởng GDP hằng năm – dù có ấn tượng bao nhiêu đi chăng nữa – tăng trưởng phải mang yếu tố tạo động lực và đòn bẩy cho nền kinh tế. Động lực và đòn bẩy của phát triển kinh tế không nằm ở những thùng dầu hút lên từ đáy biển thềm lục địa Việt Nam, không núp trong áo quần giầy dép mà lao động Việt Nam cật lực tạo ra.

Con bài át chủ của vấn đề phát triển chính là trí tuệ là chất xám của 84 triệu dân Việt Nam và hơn 3 triệu người Việt hải ngoại. Động lực và đòn bẩy phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay dựa trên sức lao động là chính yếu mà các số liệu thống kê của IMF đã thể hiện. Và Việt Nam chỉ có thể mơ đến một ngày hoá cọp hoá rồng khi cả trí tuệ lẫn sức lực của người Việt được sử dụng và phát huy tối đa.

Bài học kinh tế phát triển trong lịch sử phát triển của nhân loại là chưa có một quốc gia nào thành công trong việc hiện đại hoá nền kinh tế và thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu khi chỉ dựa vào sức lao động bởi vì sức lao động không bao giờ là đòn bẩy. Ngược lại, trí tuệ chính là đòn bẩy - điều mà Việt Nam không chú trọng trong suốt 20 năm qua.

Quỹ tiền tệ quốc tế IMF ( International Monetary Fund )

Quỹ tiền tệ quốc tế ( tiếng Anh : International Monetary Fund, viết tắt IMF ) là một tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán, cũng như hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ tài chính khi có yêu cầu. Trụ sở chính của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đặt ở Washington, D.C., thủ đô của Hoa Kỳ.

Tổ chức và mục đích

Quỹ tiền tệ quốc tế IMF được mô tả như "Một tổ chức của 185 quốc gia", làm việc nuôi dưỡng tập đoàn tiền tệ toàn cầu, thiết lập tài chính an toàn, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế, đẩy mạnh việc làm và tăng trưởng kinh tế cao, và giảm bớt đói nghèo. Với ngoại lệ của Bắc Triều Tiên, Cuba, Liechtenstein, Andorra, Monaco, Tuvalu và Nauru, tất cả các nước thành viên của Liên Hiệp Quốc tham gia trực tiếp vào Quỹ tiền tệ quốc tế IMF hoặc được đại diện cho bởi những nước thành viên khác.

Vào năm 1930, khi hoạt động kinh tế ở những nước công nghiệp chính thu hẹp, nhiều nước bắt đầu áp dụng tư tưởng trọng thương, cố gắng bảo vệ nền kinh tế của họ bằng việc hạn chế nhập khẩu. Để khỏi giảm dự trữ vàng, ngoại hối, một vài nước cắt giảm nhập khẩu, một số nước phá giá đồng tiền của họ, và một số nước áp đạt các hạn chế đối với tài khoản ngoại tệ của công dân. Những biện pháp này có hại đối với chính bản thân các nước đó vì như lý thuyết lợi thế so sánh tương đối của Ricardo đã chỉ rõ mọi nước đều trở nên có lợi nhờ thương mại không bị hạn chế. Lưu ý là, theo lý thuyết tự do mậu dịch đó, nếu tính cả phân phối, sẽ có những ngành bị thiệt hại trong khi các ngành khác được lợi. Thương mại thế giới đã sa sút nghiêm trọng, khi việc làm và mức sống ở nhiều nước suy giảm.

Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đã đi vào hoạt động ngày 27 tháng 12 năm 1945, khi đó có 29 nước đầu tiên ký kết nó là những điều khoản của hiệp ước. Mục đích của luật Quỹ tiền tệ quốc tế IMF ngày nay là giống với luật chính thức năm 1944. Ngày 1 tháng 3 năm 1947 Quỹ tiền tệ quốc tế IMF bắt đầu hoạt động và tiến hành cho vay khoản đầu tiên ngày 8 tháng 5 năm 1947.

Từ cuối đại chiến thế giới thứ 2 cho đến cuối năm 1972, thế giới tư bản đã đạt được sự tăng trưởng thu nhập thực tế nhanh chưa từng thấy. ( Sau đó sự hội nhập của Trung Quốc vào hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy đáng kể sự tăng trưởng của cả hệ thống. ) Trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, lợi ích thu được từ tăng trưởng đã không được chia đều cho tất cả, song hầu hết các nước tư bản đều trở nên thịnh vượng hơn, trái ngược hoàn toàn với những điều kiện trong khoảng thời gian trước của những nước tư bản trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới.

Trong những thập kỷ sau chiến tranh thế giới hai, kinh tế thế giới và hệ thống tiền tệ có thay đổi lớn làm tăng nhanh tầm quan trọng và thích hợp trong việc đáp ứng mục tiêu của IMF, nhưng điều đó cũng có nghĩa là yêu cầu Quỹ tiền tệ quốc tế IMF thích ứng và hoàn thiện cải tổ. Những tiến bộ nhanh chóng trong kỹ thuật công nghệ và thông tin liên lạc đã góp phần làm tăng hội nhập quốc tế của các thị trường, làm cho các nền kinh tế quốc dân gắn kết với nhau chặt chẽ hơn. Xu hướng bây giờ mở rộng nhanh chóng hơn số quốc gia trong Quỹ tiền tệ quốc tế IMF.

Ảnh hưởng của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF trong kinh tế toàn cầu được gia tăng nhờ sự tham gia đông hơn của các quốc gia thành viên. Hiện Quỹ tiền tệ quốc tế IMF có 184 thành viên, nhiều hơn bốn lần so với con số 44 thành viên khi nó được thành lập.

Nguồn vốn của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF là do các nước đóng góp, các nước thành viên có cổ phần lớn trong Quỹ tiền tệ quốc tế IMF là Mỹ ( 17,46% ), Nhật Bản ( 6,26% ), Đức ( 6,11% ), Anh ( 5,05% ) và Pháp ( 5,05% ).

Tổng vốn của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF là 30 tỷ Dollar Mỹ ( vào năm 1999 ).