NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Đưa Internet về nông thôn : Thông tin cho nông dân

Đưa Internet về nông thôn, công nghệ thông tin về với nông dân, với các dự định, khó khăn... Trao đổi với ông Nguyễn Mậu Lân, trưởng Ban Phát triển Bưu chính - Viễn thông (BCVT) nông thôn, thuộc Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (VNPT).

Mục đích chương trình đưa Internet về nông thôn, thưa ông ?

Hiện tại, đã có hơn 300 điểm trên tổng số 6.776 điểm Bưu điện Văn hóa xã (BĐVHX) có truy cập Internet. Tuy nhiên, nhiều người đặt câu hỏi: Nhìn chung, nông thôn nước ta còn nghèo, đời sống còn tự cung tự cấp, nông dân làm ăn nhỏ lẻ thì nối mạng Internet làm gì?

Ở đây, mục đích của chúng tôi là hướng tới những đối tượng học sinh, thanh niên nông thôn, những người ham muốn khám phá những cái mới để chỉ sau một thời gian, sẽ có một thế hệ ''nông dân điện tử'' (e-Farmer) ra đời. Họ sẽ biết khai thác những thế mạnh của Internet để áp dụng vào sản xuất và cuộc sống.

Đây cũng là sự phát triển tất yếu, bởi nông nghiệp nước ta đang tiến tới sản xuất hàng hóa, nghĩa là để bán, mà yếu tố quyết định thành bại, thắng thua trong kinh doanh là thông tin. Internet giải quyết được vấn đề này. Trên thực tế, cũng đã có nhiều loại nông sản nhờ được quảng bá trên Internet mà bán được nhiều hơn, như bưởi Năm Roi, thanh long Bình Thuận,...

Tại hội nghị thượng đỉnh về công nghệ thông tin và viễn thông châu Á - châu Đại dương 2003, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm cũng đã nhấn mạnh mục tiêu của Chính phủ là đến năm 2005, sẽ có hơn 20 triệu thanh niên nông thôn được tiếp cận với Internet.

VNPT đã có hỗ trợ gì trong việc đưa Internet về nông thôn ?

Từ năm 2003, cước truy cập Internet tại các điểm Bưu điện Văn hóa xã giảm xuống với giá ưu đãi: 3.000đ/giờ ( trước đây là 12.000đ/giờ ). Trong số 7.000 điểm Bưu điện Văn hóa xã, VNPT có chủ trương trang bị máy tính tới 2.000 điểm trên phạm vi cả nước. Đến hết năm nay, VNPT sẽ đưa Internet xuống không chỉ các bưu cục cấp I, mà cả các bưu cục cấp II, cấp III trên cả nước.

Dự kiến, đến năm 2005, sẽ hỗ trợ thêm 2.000 điểm, nâng tổng số lên 4.000 điểm được trang bị máy tính. Việc lựa chọn các điểm Bưu điện Văn hóa xã này do Bưu điện tỉnh, thành phố quy định.

Hiện tại, việc đưa Internet về nông thôn đang gặp khó khăn gì ?

Người nông dân Việt Nam vốn chỉ quen với cái cày, cái cuốc, ruộng lúa, nương khoai, lần đầu tiên tiếp xúc với máy tính chắc chắn sẽ có nhiều bỡ ngỡ, lạ lẫm. Họ lại không biết tiếng Anh nên việc khai thác thông tin sẽ rất khó khăn, trong khi các website Việt Nam còn nghèo nàn, thông tin người Việt Nam cần chưa có, thông tin trên Internet họ lại không cần.

Tôi cho rằng người dân còn thờ ơ, xa lạ với Internet không phải vì họ không biết sử dụng mà vì họ chưa thấy cái họ cần ở trên Internet. Tôi đã thấy ở nhiều vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa bà con có thể hoãn mua một con bò để sắm cái tivi màu để xem bởi đó là nhu cầu giải trí thiết yếu. Với Internet cũng vậy, nếu cảm thấy cần thiết, người dân sẵn sàng sử dụng.

Như vậy, muốn có nhiều người dân mua máy tính, nhiều người truy cập Internet thì phụ thuộc nhiều vào nội dung thông tin của Internet chứ không phải là trình độ và khả năng tài chính của người nông dân.

Nếu phát triển công nghệ thông tin ở nông thôn mà chỉ đơn giản là mua mấy cái máy tính về nối mạng thì đó không phải là con đường phát triển Internet ở nước ta và lúc đó, dẫu có hàng nghìn điểm truy cập Internet công cộng cũng chẳng mang lại lợi ích gì cho người dân!

Như vậy, trọng tâm sẽ là tập trung cho công nghệ nội dung, với những kho thông tin tiếng Việt thích hợp cho chuyện sản xuất, kinh doanh và đời sống nông dân...?

Vừa qua, VNPT đã ký quyết định giao cho Công ty Phần mềm và Truyền thông VASC (trực tiếp do VNnet) cung cấp thông tin trên các trang web phục vụ nông thôn và nông dân Việt Nam. Hiện tại, VASC cũng đang lập dự án xây dựng trang thông tin. Bên cạnh đó, Công ty Điện toán và Truyền số liệu VDC sẽ có nhiệm vụ đấu nối mạng này.

Năm 2004, VNPT cũng đã trình dự án đưa Internet về 2.000 điểm Bưu điện Văn hóa xã. Dự kiến, trong quý IV năm nay, Chính phủ sẽ phê duyệt. Đồng thời, khi mạng thông tin phục vụ riêng cho nhà nông được hình thành ( dự định cũng trong năm 2004 ), sẽ tiếp tục thực hiện các chính sách cụ thể để đẩy mạnh việc đưa Internet về với nông thôn.

Đề xuất của ông về chính sách cụ thể là gì ?

Thứ nhất, phải tạo hành lang pháp lý để thương mại điện tử ra đời. Thương mại điện tử sẽ là cú huých mạnh cho việc phát triển Internet. Thương mại điện tử giúp mọi người mua bán, trao đổi sản phẩm mà không cần trực tiếp gặp nhau, nhưng nếu không có luật, nông dân không tin tưởng thì không phát triển được Internet.

Thứ hai, phải xây dựng thành chương trình Chính phủ điện tử (e-Government) để cung cấp những thông tin và dịch vụ công qua Internet và các phương tiện điện tử, như thông tin về pháp luật, công chứng, đăng ký kinh doanh,... giúp người dân không phải đi gõ cửa nhiều cơ quan như trước.

Đặc biệt là những vấn đề ''nhạy cảm'' như đất đai với rất nhiều vụ kiện tụng tranh chấp xảy ra hàng ngày ở nhiều vùng nông thôn, nếu người dân tìm thấy những thông tin cần thiết qua mạng Internet thì họ sẵn sàng truy cập và sử dụng. Nhưng cũng như thương mại điện tử, Chính phủ điện tử không thể thành hiện thực nếu không có một hành lang pháp lý cho nó. Vì vậy, cần có luật thông tin quốc gia, trong đó, quy định rõ ràng trách nhiệm về an toàn và bảo mật thông tin, tính hợp pháp của thông tin và văn bản; vai trò của chữ ký điện tử và con dấu điện tử.

Muốn xây dựng Chính phủ điện tử thì phải xây dựng một nền hành chính chuẩn mực với các quy định thể chế hành chính rõ ràng, nhận thức cũng như ý thức thực hiện các quy chế này của cán bộ viên chức phải thực sự nghiêm túc.

Nói cách khác, muốn phát triển Internet ở nông thôn thì cần có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp.

Đinh Hằng

"Nối liền" vùng sâu, vùng xa bằng internet

Năm 2008 cũng là năm mà chủ trương đưa Internet, viễn thông và công nghệ thông tin về nông thôn, vùng sâu, vùng xa được thực hiện quyết liệt hơn nữa. Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Nam Thắng khẳng định.

Nông dân sẽ làm chủ Internet

Nối liền người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa trên mọi miền đất nước bằng Internet và các dịch vụ viễn thông là cách để người dân vươn lên, tiếp cận, học hỏi và không thua kém so với các khu vực trung tâm thành phố.

Tại cuộc đối thoại trực tuyến với nhân dân, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Nam Thắng cho biết, bộ Thông tin và Truyền thông đã có 2 quyết định: QĐ 41/2006 và 09/2007 công bố các vùng được hưởng dịch vụ viễn thông công ích, bao gồm: 180 huyện và 583 xã. Và người dân ở các xã, huyện này được hưởng quyền lợi của nhà nước về việc sử dụng các dịch vụ điện thoại cố định và Internet.

Để phổ cập Internet tới đông đảo người dân, bộ Thông tin và Truyền thông đưa ra các chính sách cụ thể : Cho các Doanh Nghiệp viễn thông vay vốn để phát triển hạ tầng mạng lưới, phục vụ việc cung cấp dịch vụ viễn thông công ích, và hỗ trợ duy trì mạng lưới để các DN cung cấp dịch vụ thoại và Internet.

Đối với người dân ở những vùng này, khi sử dụng dịch vụ điện thoại, hoặc dịch vụ Internet, thì sẽ được hỗ trợ 3 khoản: một là chi phí lắp đặt ban đầu, tùy theo khu vực 1-2-3 trong số 180 huyện và 583 xã đấy. Ví dụ, khi lắp điện thoại cố định : thì người dân ở khu vực 1 sẽ được hỗ trợ 100.000, khu vực 2 được 140.000, khu vực 3 được 200.000. Bên cạnh đó, cũng có cơ chế hỗ trợ tiền duy trì thuê bao hàng tháng cho các hộ dân. Với việc sử dụnh dịch vụ Internet thì người dân cũng được hỗ trợ modem, máy điện thoại.

Những chính sách cụ thể

Thứ trưởng Lê Nam Thắng cũng đề ra các biện pháp cụ thể nhằm quyết liệt đưa các dịch vụ Internet, viễn thông và CNTT đến tận tay người dân các vùng xa, vùng sâu:

Đầu tiên là giải pháp về vốn đầu tư để mở rộng và nâng cấp mạng lưới : quỹ viễn thông công ích, hoặc sử dụng nguồn vốn ODA. Hiện tại, có hơn 200 vùng được sử dụng dịch vụ viễn thông công ích - là những nơi có mật độ điện thoại dưới 5 thuê bao/100 dân.

Thứ hai là các giải pháp về kế hoạch: Cần phải xác định ngay các Doanh Nghiệp sẽ đầu tư vào đâu? Đầu tư cho ai? Bộ Thông tin và Truyền thông đã trình Chính phủ chương trình viễn thông công ích đến năm 2010 ( cụ thể là các dịch vụ viễn thông và Internet công ích ) trên phạm vi toàn quốc.

Các giải pháp công nghệ đóng vai trò quan trọng đối với riêng vùng nông thôn, bởi không giống như ở thành thị, có thể sử dụng tất cả giải pháp từ hữu tuyến đến vô tuyến, trong khi đó, ở nông thôn nên chọn các công nghệ không dây như VSAT-IP, vệ tinh...

Quan trọng nhất vẫn phải là các giải pháp về giá cước. Nếu giá cước cao thì người dân nông thôn sẽ không thể sử dụng được. Bộ Thông tin và Truyền thông đã yêu cầu các DN cung cấp dịch vụ có chính sách riêng hỗ trợ giá cước cho người dân. Ví dụ, DN triển khai dịch vụ, hỗ trợ cước lắp đặt ban đầu, cước thuê bao tháng, tiền mua sắm thiết bị. Tùy từng vùng, DN sẽ có giải pháp khác nhau.

Đặc trưng của nông thôn là các người dùng ít có cơ hội sử dụng máy tính, điện thoại riêng tại hộ gia đình, nên bộ Thông tin và Truyền thông chú trọng hơn tới việc cung cấp các dịch vụ viễn thông, Internet công cộng tại đây. Nên giải pháp thứ năm bộ Thông tin và Truyền thông đưa ra là tăng cường năng lực hoạt động của các điểm cung cấp dịch vụ : Điểm bưu điện văn hóa xã, điểm phục vụ công cộng và đại lý dịch vụ viễn thông.

Nghị định 55 mới "đẩy" Internet đến gần người dân hơn

Internet cũng là một môi trường ảo nhưng cũng giống như cuộc sống thực, có đầy đủ hoạt động như học tập, nghiên cứu, chia sẻ, giao lưu tình cảm...với những mặt tích cực và tiêu cực. Bộ Thông tin và Truyền thông xác định, quản lý Internet không phải ngăn cản sự phát triển mà là tạo điều kiện cho Internet phát triển, cung cấp nhiều tiện ích, dịch vụ, thông tin có ích cho người sử dụng, đồng thời hạn chế các mặt tiêu cực ảnh hưởng đến người dùng, nhất là đối với thanh thiếu niên và trẻ em.

Thứ trưởng Lê Nam Thắng cho biết, khi xây dựng nghị định mới thay thế nghị định 55 ( Nghị định 55/2001/NĐCP ngày 23/8/2001 của Chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet), Bộ Thông tin và Truyền thông chú trọng đến những điểm Nghị định 55 còn thiếu, điều chỉnh các hoạt động liên quan đến lĩnh vực nội dung thông tin.

Điểm nổi bật là nghị định mới khuyến khích trao đổi, chia sẻ thông tin trên Internet.

"Chúng tôi cũng đã phân loại thông tin, website trên Internet thành các loại hình chính: Đối với thông tin không bị cấm : áp dụng cơ chế hậu kiểm; đối với các trang thông tin có tác động lớn, ảnh hưởng lớn đến xã hội: nhà nước cần có biện pháp quản lý khả thi, phù hợp và chặt chẽ", ông Thắng cho biết.

Bên cạnh nghị định 55 mới, Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đang dự định sẽ xây dựng 1 nghị định mới về quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực Internet trong quý I năm 2008, đưa ra các chế tài để tạo điều kiện ngăn ngừa và hạn chế những hành vi và nội dung xấu trên Internet. Tuy nhiên, Thứ trưởng Lê Nam Thắng khẳng định, để ngăn ngừa được việc lợi dụng Internet vào những mục đích xấu, vi phạm an ninh quốc gia, thuần phong mỹ tục thì phải triển khai đồng bộ các giải pháp chứ không chỉ quá chú trọng vào một giải pháp nào.

Đầu tiên và quan trọng nhất vấn đề giáo dục, nâng cao nhận thức của gia đình, xã hội và toàn thể cộng đồng đối với vai trò của Internet. Để người dân, đặc biệt là thanh thiếu niên hiểu được nên sử dụng Internet như thế nào mang lại nhiều lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Thứ hai là làm sao phải gắn việc cung cấp và sử dụng Internet với nhau, giữa doanh nghiệp, đại lý và người dùng, để doanh nghiệp và đại lý có trách nhiệm hỗ trợ, hướng dẫn và kiểm tra người dùng trong việc ngăn chặn các nội dung xấu.

Các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ cũng luôn luôn phải thường trực song hành, nhằm kịp thời loại bỏ khỏi môi trường mạng VN những trang web chứa nội dung xấu gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, thuần phong mỹ tục...

Ngoài ra là các chế tài xử phạt hành chính, các biện pháp thanh tra kiểm tra để xử phạt, thậm chí áp dụng các biện pháp hình sự đối với những vi phạm nặng trên môi trường Internet như các vụ lừa đảo qua mạng, tuyên truyền văn hoá phẩm đồi truỵ...

Thứ trưởng Lê Nam Thắng cho rằng, cần tiến hành các biện pháp đồng bộ để làm trong sạch lành mạnh môi trường Internet và thúc đẩy Internet phát triển mạnh mẽ tại VN.

Trí Hiếu

Phổ cập tin học và Internet cho 3.000 người dân nông thôn

"Thắp sáng miền trí tuệ” là chủ đề của một chiến dịch phổ cập tin học và Internet sẽ được Thành Đoàn Hà Nội thực hiện trong hai tháng 7 và 8-2006 trong khuôn khổ các hoạt động của “Mùa hè thanh niên tình nguyện”.

Hoạt động phổ cập tin học và Internet đã được Thành Đoàn Hà Nội triển khai từ mùa hè năm 2004 nhưng sau mỗi đợt đều có tình trạng các xã “tái mù” rất nhanh. Nguyên nhân không phải do kiến thức của các Tình nguyện viên (TNV) kém mà chủ yếu vì Tình nguyện viên chưa biết cách tổ chức một lớp học phổ cập và phương pháp truyền đạt không hiệu quả.

Rút kinh nghiệm, năm nay Thành Đoàn Hà Nội đã phối hợp với Trung tâm Lập trình viên quốc tế Aprotrain-Aptech tổ chức chương trình tập huấn cho các Tình nguyện viên. Với kinh nghiệm trong công tác đào tạo công nghệ thông tin, Aprotrain-Aptech đã xây dựng chương trình tập huấn gồm 2 phần : phổ cập những kiến thức chung về tin học, Web 2.0 và các ứng dụng trên Internet.

Chương trình không chỉ cung cấp kiến thức bổ trợ cho các TNV mà còn trang bị các kỹ năng truyền đạt và tổ chức một lớp học có hiệu quả. Gần 50 nhóm trưởng nhóm Tình nguyện viên phổ cập tin học và Internet hè 2006 đã được tập huấn. Sau đó, các nhóm trưởng này sẽ truyền đạt lại cho 300 Tình nguyện viên trong nhóm.

Mục tiêu của chiến dịch “Thắp sáng miền trí tuệ” là phổ cập kiến thức tin học và Internet cho trên 3.000 người dân ở mọi lứa tuổi từ học sinh tiểu học đến trung học, thanh niên, cán bộ xã thuộc 15 xã ngoại thành Hà Nội và một số xã các tỉnh lân cận.

Để khuyến khích phong trào, Trung tâm Lập trình viên quốc tế Aprotrain-Aptech cũng thông báo sẽ trao tặng 15 suất học bổng, mỗi suất trị giá 300 USD cho những bạn Tình nguyện viên phổ cập tin học có thành tích xuất sắc trong mùa hè năm nay.

Dự án “Phát triển Internet phục vụ cộng đồng nông thôn“

Ngày 14/8, tại Công văn số 4493/VPCP-QHQT, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã đồng ý cơ chế thực hiện dự án "Phát triển Internet phục vụ cộng đồng nông thôn" sử dụng vốn vay ưu đãi của Chính phủ Nhật Bản.

Theo đó, Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan điều phối toàn dự án, chủ trì tổ chức Ban Điều phối dự án có đại diện của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triên nông thôn, Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình và các doanh nghiệp thực hiện xây dựng mạng tham gia.

Về cơ chế tài chính, tùy theo nội dung của dự án, sẽ có hai hình thức Nhà nước cho vay và cấp phát ngân sách.

Cụ thể, Nhà nước cho vay lại để thực hiện các nội dung công việc nội dung số 1 ( xây dựng mạng ) do Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan chủ quản tiểu dự án.

Ngân sách sẽ cấp phát toàn bộ cho các nội dung số 2 ( xây dựng các điểm truy cập ), số 3 ( mạng thông tin công cộng và hệ thống Grid ), số 6 ( cổng truy cập của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình ), số 7 (cổng truy cập của Bộ Thông tin và Truyền thông), số 8 (phát triển nguồn nhân lực và các dịch vụ tư vấn, khai thác), Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan chủ quản các tiểu dự án; nội dung số 4 (cổng truy cập của Bộ Y tế), Bộ Y tế là cơ quan chủ quản tiểu dự án; nội dung số 5 ( cổng truy cập của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chủ quản tiểu dự án.

Các cơ quan chủ quản lựa chọn chủ đầu tư, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi các tiểu dự án và chịu trách nhiệm bảo dưỡng, nâng cấp, vận hành hệ thống của mình sau khi đầu tư.

Phó Thủ tướng giao Bộ trưởng các Bộ: Thông tin và Truyền thông, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định và phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, chuẩn bị vốn đối ứng cho từng tiểu dự án.

Không chỉ là chuyện máy tính và Internet

Dù không thiếu chủ chương, chính sách, nhưng việc ứng dụng Công Nghệ thông tin và truyền thông tại khu vực nông thông đa phần vẫn loay hoay ở mức độ “mô hình”, “thí điểm”.

Bài toán công nghệ : Không khó

Với sự lớn mạnh trong lĩnh vực Công Nghệ thông tin và truyền thông trong những năm gần đây, sẽ không quá khó để giải bài toán công nghệ nhằm chọn ra những giải pháp phù hợp đáp ứng mục tiêu đưa thông tin khoa học đến với nông dân. Tại Hội thảo Hợp tác và phát triển Công Nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam 2008 vừa tổ chức tại TP Cần Thơ, các đại diện của Bộ Thông tin và Truyền thông, Nông nghiệp và Phát triên nông thôn đã cho thấy sự quan tâm rất lớn trong việc cải thiện chính sách, đẩy mạnh đầu tư hạ tầng công nghệ, nhân lực...

Đáng ghi nhận là việc vận hành cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Phát triên nông thôn bước đầu đã có những hiệu quả nhất định. Nhiều địa phương như Đồng Nai, Thái Nguyên, Tiền Giang,... cũng chứng minh được hiệu quả thực tế từ việc triển khai các mô hình ứng dụng Công Nghệ thông tin và truyền thông để cung cấp thông tin khoa học phục vụ sản xuất, đời sống của cư dân nông thôn. Tuy nhiên, nếu như cổng thông tin điện tử của cơ quan bộ phần lớn tập trung vào công tác chỉ đạo, điều hành thì ở các địa phương, hầu hết chỉ dừng lại ở mức “mô hình”, “thí điểm”.

Năm 2004, lần đầu tiên, người dân ở 2 địa phương Cần Thơ, Hậu Giang chứng kiến từng đoàn xe đưa sinh viên CNTT mang theo lỉnh kỉnh máy móc về phổ cập tin học cho thanh niên nông thôn. Đến năm 2007, chương trình này còn được mở rộng sang nhiều địa phương trong khu vực như: Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang,... Bên cạnh đó, hàng loạt các chương trình phổ cập Internet cho nông dân, máy tính giá rẻ cho nông dân,... cũng được triển khai tại nhiều địa phương trên cả nước.

Máy tính và Internet : Cần nhưng chưa đủ

Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, chuyện phổ cập tin học và Internet cho nông dân không quá khó. Thậm chí, cả việc tạo điều kiện để nông dân sở hữu máy vi tính cũng có thể thực hiện được. Song, nông dân cần gì từ Internet để phục vụ sản xuất và đời sống vẫn là câu hỏi chưa có lời đáp. Là người trực tiếp phụ trách cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Phát triên nông thôn, ông Nguyễn Viết Chiến – GĐ Trung tâm Tin học & Thống kê ( Bộ Nông nghiệp và Phát triên nông thôn ) – thẳng thắn thừa nhận: “Đến giờ này chúng tôi vẫn đang tìm hiểu xem nông dân đang cần những thông tin gì...”.

Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL đã công bố kết quả điều tra năm 2007 tại 26 xã thuộc 13 tỉnh, thành ĐBSCL. Theo đó, kênh tiếp nhận thông tin chính của nông dân vẫn là qua tivi hoặc qua… truyền miệng, kế đến là loa phóng thanh của xã hoặc radio (xem bảng số liệu thống kê). Kết quả này có thể không phải đúng với tất cả địa phương trên cả nước. Nhưng nó cũng cho thấy, trước khi nông dân có thể sử dụng thành thạo các công cụ hiện đại này, thì việc nâng chất thông tin trên các phương tiện truyền thống, đặc biệt là phát huy hiệu quả hoạt động của cán bộ cấp cơ sở, vẫn đóng vai trò quan trọng để đưa nhanh khoa học đến cửa nông dân.