NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Việt Nam phải lên kế hoạch cất cánh cho chính mình

Những chẩn đoán

Trước một viễn cảnh tự cất cánh bên cạnh con rồng hàng xóm Trung Hoa, Việt Nam cần phải vạch ra một kế hoạch cho chính mình nếu muốn biến ước mơ thành hiện thực. Những lợi thế, khả năng và những vấn đề phức tạp trong lộ trình đó được tạp chí Kinh tế Viễn đông khái quát trong số ra cuối cùng của năm 2006.

Cho dù bạn đang ngồi trong một quán cà phê ven đường tại một thành phố lớn hay dạo bộ ở một vùng nông thôn Việt Nam - nơi sinh sống của 70% dân số nước này - thì ấn tượng xuyên suốt đều là sự tăng trưởng và phát triển. Đất nước này đã chọn con đường đầy phiêu lưu là cho phép đầu tư trực tiếp nước ngoài tràn vào và kiểm soát xuất khẩu, do đó đã thúc đẩy được kinh tế trong nước ở hai giai đoạn bứt phá tăng trưởng quan trọng: giai đoạn 1991-1997 và từ 2000 đến nay.

Chiến lược này cùng với chi tiêu mạnh mẽ của chính phủ dành cho cơ sở hạ tầng đã mang lại những kết quả hết sức tốt đẹp trong 20 năm đổi mới vừa qua. Việt Nam hiện đang chứng kiến làn sóng đầu tư chưa từng thấy kể từ năm 1997. Vào năm 2004 và 2005 tăng trưởng trong đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) so với năm trước đó đạt mức 41% và 50%. Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn cam kết cho tới hết năm 2006) hiện đạt mức gần 60 tỷ đôla Mỹ, trong khi đó tổng vốn thực hiện cho tới cuối năm 2005 là khoảng 35 tỷ đô la.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm năm qua đã đạt mức trung bình 7.5%. Đây là mức cao nhất trong các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN, nhưng so với khu vực Đông Á thì lại xếp sau Trung Quốc. Thu nhập bình quân đầu người hiện đạt 640 đô la Mỹ. Nghèo đói tuyệt đối đang giảm, trong khi đó, khoảng cách trong thu nhập lại gia tăng. Giá đất ở trung tâm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đang ở mức cao nhất Đông Á. Du lịch nước ngoài đã vượt xa du lịch trong nước, và nhu cầu đối với các hàng hoá tiêu dùng thì vô kể, đặc biệt với những chuyến đi mua sắm nước ngoài của người giàu. Đóng góp của cả hai ngành chế tạo và dịch vụ trong GDP đã tăng lên đến mức trên 70%, và mỗi ngành này đều có mức đóng góp cao hơn ngành nông nghiệp vốn được trông đợi là sẽ giảm xuống còn 20% vào năm 2020.

Tương đồng nhưng vẫn khác biệt

Điều cốt yếu trong chiến lược thành công của Việt Nam là cải cách kinh tế đặt lên hàng đầu, sau đó là cải cách hành chính, và cuối cùng mới là cải cách chính trị.

Cũng giống như những người đồng nhiệm Trung Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam tin tưởng rằng những thành tích về kinh tế sẽ là trụ cột quan trọng cho tính hợp pháp của mình, cho phép Đảng dẹp đi những mối quan ngại về thiếu vắng cải cách chính trị. Bằng cách vẫn giữ cho Đảng Cộng sản Việt Nam có trách nhiệm và khởi động những thay đổi dân chủ tự do, sự ổn định chính trị đạt được nhờ đó đã tạo ra một môi trường dễ dự báo cho các hoạt động kinh doanh trong và ngoài nước. Tuy nhiên, chiến lược không cân xứng này đã tạo ra những thay đổi cơ bản về kinh tế xã hội mà hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa cần phải lí giải và biện minh.

Dĩ nhiên, câu nói đùa của người Trung Quốc “đèn hiệu bên trái nhưng rẽ bên phải” nhìn chung vẫn được áp dụng cho cả hai nước. Cả hai đều vẫn đang phải gánh chịu những yếu kém của một khu vực nhà nước mà hầu hết đều do ngân sách nhà nước, một phần đóng góp to lớn của nhà nước vào GDP, hỗ trợ. Nhà nước vẫn điều khiển các hoạt động kinh tế và nếu như những hoạt động kinh tế đó làm ảnh hưởng tới quyền lực chính trị tối cao của Đảng thì điều không tránh khỏi là tốc độ tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm lại. Ngoài ra, cả hai nước đều phải hứng chịu tệ tham nhũng.

Công thức chủ yếu cho sự thành công mà Việt Nam và Trung Quốc có được trong đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là giá nhân công rẻ cũng như thị trường nội địa rộng lớn luôn sẵn sàng cho sự xâm nhập từ bên ngoài. Sức mạnh của những lợi thế cạnh tranh này, nhất là khi đem so sánh Việt Nam và Trung Quốc với những thành viên ban đầu của ASEAN (như Brunei, Indonesia, Malaysia, the Philippines, Singapore and Thái Lan), lại phần nào trở nên mờ nhạt hơn khi chúng ta so sánh Việt Nam chỉ với Trung Quốc thôi. Dù thế nào thì hai nước này cũng là những nền kinh tế cạnh tranh. Tuy không sản xuất những mặt hàng hoàn toàn trùng lặp, nhưng cơ cấu chi phí trong sản xuất hàng hoá của họ là tương tự nhau, trong đó Trung Quốc có lợi thế hơn do thị trường rộng hơn, và do đó dẫn đến chi phí sản xuất thấp hơn cho các nhà sản xuất Trung Quốc.

Việt Nam để thành công được trong thời đại trỗi dậy của Trung Quốc, cần phải phân biệt mình với Trung Quốc, dù cho sự noi theo Trung Quốc trong quá khứ cũng đã mang lại cho nước này vị thế con rồng đang phát triển như hiện nay. Việt Nam sẽ phải vạch ra kế hoạch “cất cánh” cho chính mình. Câu hỏi là : Liệu có làm được ?

Một kế hoạch cất cánh cho Việt Nam

Thứ nhất, quản lý ở Việt Nam - cả về chính trị và kinh tế, cần phải linh hoạt và minh bạch hơn nhiều so với Trung Quốc. Bởi chắc chắn rằng, các nước lớn thường khó kiểm soát hơn các nước nhỏ. Vì thế, Việt Nam, với tư cách là một quốc gia tương đối nhỏ, không thể có lí do để không làm tốt điều này. Đơn giản là: Quản lý tốt sẽ thu hút đầu tư.

Giống như Trung Quốc, Việt Nam bị cản trở bởi nhiều năm quan liêu xã hội chủ nghĩa. Theo như những thăm dò của chính phủ, viên chức nhà nước đang được trả lương thấp hơn so với mức sống trung bình. Đặc biệt, chính phủ cần phải hết sức quan tâm tới việc đảm bảo giải ngân nhanh chóng các nguồn đầu tư nước ngoài đã cam kết, hiện đang ở mức gấp đôi so với lượng vốn thực hiện.

Thứ hai, Việt Nam cần đảm bảo rằng những lợi thế tương đối trong một nền kinh tế thị trường nằm ở những lĩnh vực cụ thể mà không nhằm vào các thị trường một cách ồ ạt giống như cách mà lợi thế tương đối của Trung Quốc hướng tới. Chế biến nông sản là một ví dụ điển hình. Rất nhiều sản phẩm nông sản của Việt Nam có sự khác biệt căn bản so với những sản phẩm của Trung Quốc. Nông nghiệp dù đang hoạt động rất tốt, và có vẻ như sẽ được lợi từ việc Việt Nam gia nhập WTO, lại đang suy giảm. Tăng trưởng trong khu vực nông và ngư nghiệp chỉ đạt 4% trong vòng năm năm qua, so với mức tăng 7% của dịch vụ và trên 10% của công nghiệp và xây dựng.

Có hai ngành công nghiệp chế tạo mà Việt Nam cần phải phát triển để vượt qua Trung Quốc. Trong ngành công nghiệp điện và điện tử, mác hàng “Made in China" (Sản xuất tại Trung Quốc) vẫn đặt ra sự nghi vấn trong suy nghĩ của nhiều nhà tiêu dùng trên toàn thế giới, bởi rất nhiều trong số đó cho là hàng của Trung Quốc kém về chất lượng.

Việt Nam cần phải tận dụng điều này bằng cách nỗ lực để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng tốt, từ mức trung bình đến mức cao. Công ty điện tử Canon của Nhật Bản có vẻ như tin tưởng nhất vào điều này khi họ đã tăng gần gấp đôi đầu tư vào Việt Nam trong những năm gần đây. Vào tháng 11/2006, Intel đã tuyên bố kế hoạch tăng đầu tư vào Việt Nam lên mức 1 tỷ đô la, trong khi cam kết của họ hồi tháng 2/2006 là 300 triệu đô. Nhà sản xuất chip điện tử này sẽ xây dựng một nhà máy gần Thành phố Hồ Chí Minh, dự kiến năm 2009 sẽ đi vào sản xuất. Trong khi rất ít người hi vọng Việt Nam sẽ tạo ra những nhảy vọt về thứ bậc dựa trên động lực từ bên trong, có thể có lí khi rất nhiều tập đoàn đa quốc gia sẽ sẵn sàng đề nghị giúp đỡ Việt Nam, đặc biệt nếu như Việt Nam đóng vai trò như một điểm tránh rủi ro tập trung cho họ (vì các tập đoàn hiện đang tập trung đầu tư vào Trung Quốc).

Ngay lập tức sau động thái của Intel, Bill Gates đã quyết định đến Việt Nam để tận mắt chứng kiến những cơ hội mà nước này mang lại, và lần này là ngành công nghiệp phần mềm. Đây là ngành công nghiệp gia tăng giá trị cao thứ hai mà Việt Nam có lợi thế tương đối.

Việc sử dụng bảng chữ cái Latinh trong tiếng Việt đã tạo ra lợi thế so với bảng chữ cái dựa trên kí tự của Trung Quốc trong việc đáp ứng những đòi hỏi của ngành công nghiệp phần mềm. Nhiều công ty Việt Nam đang tiến hành nhập khẩu linh kiện và kí các hợp đồng phụ với các công ty phần mềm nước ngoài. Trong khi chưa phải là một người khổng lồ toàn cầu, xu hướng những người Việt Nam, đặc biệt là những người trẻ tuổi nhanh chóng tiếp thu công nghệ mới và hiện đại, sẽ thúc đẩy thị trường công nghệ thông tin và viễn thông ở Việt Nam, và dần dần tăng khả năng của các công ty Việt Nam trong việc cung cấp cho thị trường thế giới.

Trong cuộc đua với Trung Quốc, một điều đáng lưu ý đối với Việt Nam có lẽ không phải là cạnh tranh trực tiếp với những tỉnh đại lục của Trung Quốc, mà là với các tỉnh ven biển hiện đang thu hút lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn đầu tư trong nước rất lớn cho các ngành công nghiệp xuất khẩu. Không nhất thiết là phải giành mạng lưới sản xuất từ miền Nam và duyên hải Trung Quốc về Việt Nam, mà các nhà hoạch định ở Việt Nam có lẽ cần tìm hiểu xem làm sao để thiết lập những mạng lưới như vậy trên chính các tỉnh thành của mình.

Để làm được điều này, đẩy mạnh trong giáo dục và đào tạo, đồng thời tham vấn các nhà đầu tư để đáp ứng nhu cầu của thị trường là thiết yếu cho sự thành công. Tỷ lệ biết chữ ở Việt Nam vẫn thường được đề cập đến với mức trên 90% thế nhưng chất lượng giáo dục, thậm chí là giáo dục căn bản lại quá kém.

Còn chần chừ gì nữa?

Trong kế hoạch cất cánh của mình, Việt Nam có những lợi thế rất riêng so với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà cả trong lĩnh vực ngoại giao. Tuy nhiên, để đôi cánh được vững vàng, giới lãnh đạo Việt Nam cũng phải có được một tầm nhìn xa trông rộng để có thể điều chỉnh được những khó khăn trên lộ trình không thẳng tắp.

Nhanh, nhanh lên!

Cũng cần phải nói rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam - với sự cố vấn của các quan chức kinh tế, đối ngoại và quốc phòng - hiện không có được sự phản ứng nhanh nhạy và tích cực trước những động thái của Trung Quốc nhằm hội nhập Việt Nam và phần còn lại của Đông Nam Á vào các tỉnh Tây Nam của Trung Quốc. Trong khi cũng có những thoả thuận ở cấp chính trị cao nhất thì những hoạt động của phía Việt Nam để hiện thực hoá sáng kiến "Một vòng tròn, hai hành lang" lại diễn ra chậm chạp. Đây là cơ hội lớn để thúc đẩy tăng trưởng ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, nhưng bộ máy chính phủ lại hoạt động thiếu sự phối hợp lẫn nhau.

Việt Nam cũng cần phải nhanh chóng tái cơ cấu và tái tổ chức lại khu vực nhà nước của nền kinh tế. Ở hầu hết các nước, khu vực tư nhân thường phản ứng trước những yêu cầu của thị trường một cách hiệu quả và nhanh chóng hơn so với các doanh nghiệp nhà nước. Việc đạt được điều này sớm hơn Trung Quốc sẽ đặt Việt Nam vào một vị trí thuận lợi.

Tuy nhiên, cũng cần phải nói lại rằng, tôi cũng thấy bi quan về điều này, bởi người Trung Quốc đã cho thấy họ đang ngày càng sẵn sàng bắt đầu thay đổi nhanh chóng và chạy đua để đạt được mục tiêu do một số nhà lãnh đạo lớn đặt ra, với tốc độ nhanh hơn Việt Nam.

Nhiều năm sau khi tuyên bố cải cách các doanh nghiệp nhà nước, dấu hiệu của sự cải cách đó cũng không mấy rõ ràng. Tia sáng ở phía chân trời rằng sẽ cổ phần hoá và cuối cùng là trở thành một công ty công vẫn còn là một triển vọng hết sức cuốn hút cho rất nhiều doanh nghiệp nhà nước lớn, khi nhiều doanh nghiệp từ năm ngoái đến nay đã niêm yết trên thị trường chứng khoán. Hi vọng là những lợi ích như thế có thể thuyết phục được các giám đốc công ty nhà nước cố gắng để niêm yết công ty trên thị trường chứng khoán và tự mình hướng tới nguyên tắc thị trường, chứ không phải là sự trì trệ quan liêu. Đồng thời về mặt giao dịch chứng khoán, rõ ràng là nhà nước cũng phải tăng cường vai trò giám sát của mình.

Nhưng có lẽ yếu tố quan trọng nhất trong kế hoạch cất cánh của Việt Nam là yêu cầu đối với việc đánh thức lòng nhiệt tình và trách nhiệm của công dân đối với việc lãnh đạo đất nước. Một sự lãnh đạo thiếu thống nhất ở Việt Nam có vẻ như là căn nguyên đằng sau tiến độ chậm chạp của cải cách trong nhiều lĩnh vực, từ doanh nghiệp nhà nước, ý thức hệ, cho đến cải cách hành chính, bao gồm cả cải cách hệ thống bổ nhiệm và thăng chức trong chính phủ. Kể cả một thứ kiểu như chính sách nhằm nhanh chóng thăng cấp cho người tài được đưa ra với tên gọi là hệ thống luân chuyển công chức cũng bị Ban Chấp hành Trung ương 9 (nhiệm kì 2001-2006) phê phán gay gắt vì đã có giọng điệu bè phái.

Thách thức lớn nhất đối với hệ thống là sự phân bổ quyền lực khá đều và sự manh mún của chính quyền. Hầu hết mọi lĩnh vực chính sách công đều có một số người phụ trách giải quyết, và việc bổ nhiệm các bộ trưởng thường phải qua hơn 10 cấp chính quyền trước khi được chính thức thông qua.

Những Thủ tướng trước đây, trong đó có cựu Thủ tướng Phan Văn Khải đã than phiền rằng thậm chí ông không có quyền tự do bổ nhiệm và cách chức các bộ trưởng nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về hoạt động của chính phủ. Chủ nghĩa bè phái dựa trên những lợi ích thay đổi chứ không phải dựa trên ý thức hệ hay niềm tin và sự trung thành nhất định đã chia rẽ lãnh đạo Việt Nam. Một Việt Nam hoà bình, theo con đường xã hội chủ nghĩa vẫn chưa tạo ra được một vị lãnh tụ đầy lôi cuốn, có khả năng tập hợp tất cả dưới lá cờ của mình như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng làm. Nếu được như Chủ tịch Hồ Chí Minh tức là có một tầm nhìn; thế mà hiện nay việc xây dựng tầm nhìn này đang rơi vào một cuộc tranh cãi giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, giữa an ninh và ảnh hưởng, và tầm nhìn đó vì thế càng trở nên yếu kém. Điều tiếp theo xảy ra sẽ là một xu hướng khá mạnh mẽ của sự thoả hiệp và đạt tới đồng thuận.

Vì thế, Đảng Cộng sản nắm nhiều quyền lực hơn trong xã hội, nhưng trong nội bộ Đảng thì quyền lực lại manh mún. Tham nhũng dần dần đã trở thành biện pháp hiệu quả duy nhất của các phe phái chính trị để tăng thêm quyền lực, nhưng biện pháp này được sử dụng ngày càng nhiều thì quyền lực của bất kì vị lãnh đạo nào đối với toàn bộ những người xung quanh và cấp dưới ngày càng giảm đi. Như vậy cuộc đấu tranh chống quan liêu và tham nhũng ở Việt Nam là một cuộc chiến vốn có từ lâu, chứ không phải là bắt đầu từ sau khi đổi mới năm 1986.

Một chẩn đoán tích cực

Tuy nhiên dự đoán về Việt Nam dường như vẫn có nhiều điều tốt hơn là những điều không mong muốn, với một số vấn đề nảy sinh. Chừng nào mà tình hình kinh tế vẫn khả quan và vẫn có công ăn việc làm thì xã hội sẽ ổn định và do đó tính hợp pháp sẽ tăng lên.

Trong các mối quan hệ ngành, nhà nước vẫn tiếp tục lập trường tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bằng cách không cho phép đình công. Thu nhập tính theo đầu người sẽ tiếp tục tăng, kéo theo cầu tiêu dùng tăng. GDP sẽ tăng khoảng 8% mỗi năm, và trong 10 năm tới sẽ gấp đôi mức hiện tại.

Đương nhiên không loại trừ khả năng là tâm lý tự thoả mãn sẽ ngăn cản bước tiến của Việt Nam. Nếu như vậy thì Việt Nam đang không làm gì nhiều để nâng cao chính mình mà thay vào đó lại tỏ ra đầy tự hào với những thành tựu hiện có và trở nên một chủ thể khó có thể chấp nhận được của một thế giới toàn cầu hoá.

Quan điểm tự thoả mãn này trước đây đã từng tồn tại vào giữa những năm 1990, ngay trước cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, và đã khiến Việt Nam phải cân nhắc lại các chính sách FDI và chính sách kinh tế vĩ mô trong nước. Liệu sự tự mãn như thế này sẽ lại nổi lên một lần nữa? Điều đó có thể xảy ra nếu làn sóng đầu tư hiện nay tăng mạnh và Việt Nam thành công quá sức tưởng tượng trong vòng 3 hoặc 4 năm tới. Và trong bối cảnh đó thì khẩu hiệu thường thấy sẽ là “Thế giới cần Việt Nam”.

Tôi không chắc là những quan chức của Việt Nam cảm nhận được đầy đủ sự cạnh tranh lâu dài mạnh mẽ của phương Bắc, bởi vì các cơ hội cho cải cách và thành công trong 20 năm qua đã khiến cho họ cảm thấy rằng điều cần làm nhất là tiếp tục các chính sách kinh tế hiện tại và các nhà đầu tư sẽ vào. Thực tế đương nhiên lại hoàn toàn khác.

Một kịch bản khác là Việt Nam sẽ đạt tới mức cao hơn trong bảng xếp hạng so với hiện nay. Cũng có một vài lí do để tin rằng điều này cũng có khả năng xảy ra, nhưng chỉ là cải thiện một vài thứ bậc. Tuy nhiên, tiềm năng lại rất đáng kể.

Như đã đề cập, thanh niên Việt Nam đang nắm bắt máy tính rất nhanh và cũng có nhiều tiềm năng để phát triển ngành công nghệ thông tin và viễn thông, đặc biệt là ngành công nghiệp phần mềm. Chính phủ có tầm nhìn đối với việc cố gắng đưa đất nước vào danh sách 15 nước sản xuất phần mềm tốt nhất trên thế giới vào năm 2015. Có lẽ tầm nhìn này không nhất thiết chỉ giới hạn trong ngành công nghệ thông tin và viễn thông. Những ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao khác mà Việt Nam cần khởi động, phát triển và đạt được những kết quả đáng khích lệ bao gồm: các dịch vụ cao cấp trong du lịch, phát triển thành một trung tâm tài chính cho Trung Quốc và Đông Dương, đặt ra một thách thức to lớn đối với Thái Lan và Singapore.

Thêm vào đó, Việt Nam có lẽ là nước duy nhất ở Đông Nam Á quan hệ với các nước Đông Âu nhiều hơn các nước khác, do các mối quan hệ lịch sử với các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong khu vực. Điều này có thể cho phép Việt Nam thắt chặt mối quan hệ đối tác với các nước Đông Nam Á khác như là Singapore, những nước rất muốn có mối quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn với Đông Âu

Một vấn đề gây lo lắng đặc biệt hiện nay là làm cách nào để Việt Nam có thể đứng vững trước sự cạnh tranh của Trung Quốc. Chắc chắn là Việt Nam sẽ bị Trung Quốc áp đảo trong nhiều lĩnh vực, nhưng cũng sẽ có khả năng tự bảo vệ mình trong những lĩnh vực mà nước này có lợi thế không dựa trên hiệu quả. Việt Nam hiện đang chứng kiến một thời kỳ phát triển nhanh chóng bởi vì các chính sách của họ đã được cải thiện so với cách đây 3 năm và nhiều nhà đầu tư nước ngoài tìm cách đa dạng hoá với việc đầu tư vào những nước khác ngoài Trung Quốc.

Điều không tránh khỏi là sự tự mãn cũng sẽ quay trở lại, nhưng Việt Nam cũng đã học được một số bài học, và dường như ít khả năng là các lãnh đạo của đất nước này sẽ trở nên thoả mãn với chính mình hơn trước kia khi chứng kiến thành công về kinh tế. Nhận thức rằng đất nước không thể dậm chân tại chỗ mà phải thích nghi và điều chỉnh sẽ được nâng lên ở Việt Nam. Tuy nhiên, các vấn đề hệ tư tưởng và chính trị sẽ tiếp tục không thể khắc phục được chừng nào mà nó còn tồn tại chắc chắn trong sự lo ngại về những điều chưa biết. Điều này có thể dẫn tới việc Việt Nam sẽ phải theo dõi chặt chẽ kế hoạch phát triển của các nước khác (ví dụ như Trung Quốc).

David Koh

David Koh hiện là điều phối viên của chương trình Nghiên cứu Chính trị và Chiến lược khu vực tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore

Phương Thảo (biên dịch)