NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Thành phố khoa học - công nghệ ở Ấn Ðộ

Theo định hướng phát triển và Quy hoạch thì Khu Công nghệ cao TP.HCM sẽ là trái tim của Khu Đô thị khoa học nằm về phía Đông Bắc của Thành phố Hồ Chí Minh. Để bạn đọc hình dung phần nào giá trị của một Thành phố Khoa học Công nghệ của TP.HCM trong tương lai, chúng tôi xin được phép giới thiệu với Quý bạn đọc Thành phố Bangalore là một trong những trung tâm Khoa học - công nghệ của Ấn Ðộ. Do có đội ngũ các nhà khoa học hùng hậu thứ ba thế giới, nhiều lĩnh vực khoa học-công nghệ Ấn Ðộ đạt tầm cao. Cuộc cách mạng Khoa học - công nghệ được thúc đẩy cùng những thành quả của nó đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của nước này.

Có đi, có lại

Ấn Ðộ đang là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất thế giới, với 9,6% năm tài chính (NTC) 2006-2007, 8,5% năm 2007-2008. Sự trỗi dậy đáng ngạc nhiên của Ấn Ðộ có phần đóng góp không nhỏ của Khoa học - công nghệ. Từ năm 1958, Chính phủ Ấn Ðộ bắt đầu triển khai các chính sách về Khoa học - công nghệ nuôi dưỡng, thúc đẩy và duy trì những hạt giống khoa học trong nước nhằm đem lại ích lợi cho người dân. Ứng dụng tri thức khoa học nhằm biến đổi triệt để về chất của lực lượng sản xuất, biến khoa học kỹ thuật thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tạo biến đổi mang tính cách mạng của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền sản xuất xã hội, thay đổi tính chất và phân công lao động xã hội.

Với những chính sách và định hướng khoa học - công nghệ đúng đắn, hợp lý, Ấn Ðộ có những bước đột phá trong khoa học - công nghệ. Công nghệ thông tin (IT), trong đó công nghệ phần mềm có tốc độ phát triển nhanh bất ngờ. Những tiến bộ Khoa học - công nghệ hạt nhân và ứng dụng của nó nâng cao vị thế đất nước Ấn Ðộ. Gần đây, Ấn Ðộ cũng đã ghi dấu ấn nổi bật trong lĩnh vực Công nghệ vũ trụ, nano, nghiên cứu biển, thăm dò tài nguyên, sinh học, dược phẩm, nông nghiệp, cơ khí chế tạo. Ngân sách cho nghiên cứu Khoa học - công nghệ hằng năm tăng 16%.

Chính phủ đầu tư, hỗ trợ nghiên cứu cơ bản cho 1.280 dự án, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng của 200 phòng thí nghiệm và 220 trường đại học, xây dựng thêm 20 Trung tâm nghiên cứu mới. Khoảng 85% ngân sách phát triển Khoa học - công nghệ được Chính phủ cấp kinh phí trực tiếp hoặc gián tiếp. Tổng chi phí cho nghiên cứu và phát triển (R&D) ở Ấn Ðộ đạt 36 tỷ USD/năm. Trong đó riêng ngân sách chi cho nghiên cứu Khoa học - công nghệ khoảng 2% GDP (gần 20 tỷ USD). Ấn Ðộ tập trung tiềm lực Khoa học - công nghệ vào những mũi nhọn chiến lược, đưa Khoa học - công nghệ trực tiếp tham gia quá trình sản xuất. Thành quả phát triển Khoa học - công nghệ đáng tự hào của Ấn Ðộ còn là kinh nghiệm cho nhiều nước đang phát triển.

Khoa học - công nghệ đã và đang thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển, bảo đảm an ninh quốc phòng, an ninh lương thực và an ninh năng lượng của Ấn Ðộ. Tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, thúc giục mọi người phải nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa, tổ chức, làm thay đổi thói quen, tập tục. Ngược lại, kinh tế-xã hội phát triển tạo ra cơ sở vật chất, tăng cường đội ngũ nhà khoa học, nghiên cứu các lĩnh vực rộng lớn, không chỉ khoa học tự nhiên, kỹ thuật và Công nghệ, mà còn cả các ngành khoa học xã hội: kinh tế học, quản lý sản xuất, quản lý xã hội, xã hội học, tâm lý học xã hội, mỹ học sản xuất, dự báo tiến bộ xã hội. Khoa học - công nghệ đang giúp Ấn Ðộ thực hiện mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 và thành một trong những cường quốc kinh tế.

Cường quốc phần mềm

Chúng tôi đến thăm Tập đoàn Infosys và Wipro, tiêu biểu trong lĩnh vực khoa học - công nghệ của Ấn Ðộ. Chỉ với thời gian ngắn, hai cơ sở này đã vươn lên thành những tập đoàn nổi tiếng.

Năm 1991, Ấn Ðộ đưa ra chương trình phát triển Công nghệ thông tin (IT), tập trung phát triển Công nghệ Phần mền , tin học - sinh học, vi điện tử, công nghệ na-nô và quang tử. Nguồn lao động Công nghệ thông tin (IT) dồi dào, giá rẻ, trình độ cao, có uy tín với thế giới và thành thạo tiếng Anh đã nhanh chóng nắm bắt và phát triển Công nghệ thông tin (IT). Phần mền sản xuất tại Ấn Ðộ có thể tiết kiệm từ 30% đến 40% chi phí. Những công ty hàng đầu của Mỹ và châu Âu như Boeing, Daimler Chrysler, DuPont, General Electric, General Motors, Intel, IBM, Microsoft, Siemens, Unilever... đã xây dựng hàng loạt nghiên cứu và phát triển (R&D) ở Ấn Ðộ. Góp phần đưa nước này trở thành một trong những địa danh có các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) lớn nhất thế giới.

Bangalore được coi là "Thung lũng Silicon của Ấn Ðộ" với sự góp mặt của hơn 200 công ty đa quốc gia, đóng góp 36% tổng sản lượng Phần mền của Ấn Ðộ, sản xuất Phần mền tăng trưởng ổn định trong hơn 15 năm qua, tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Trong năm tài chính (NTC) 2005-2006 Phần mền đạt 23 tỷ USD, tăng 34,54% so với năm trước; trong NTC 2006-2007 tăng trưởng 30,7% với tổng giá trị 39,6 tỷ USD. Ấn Ðộ đã trở thành cường quốc Phần mền, là khối nam châm khổng lồ thu hút thế giới trong lĩnh vực Công nghệ Phần mền và dịch vụ Công nghệ thông tin (IT). Hơn 100 nước đang nhập khẩu Phần mền của Ấn Ðộ. Thành tựu Công nghệ Phần mền có được từ chính sách đúng đắn kết hợp với nguồn nhân lực biết tiếng Anh, trình độ toán học và phong cách tư duy trừu tượng.

Hạt nhân hòa bình

Năm 1953, Chính phủ Ấn Ðộ đưa ra Chương trình năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình. Năm 1959, Ấn Ðộ có nhà máy điện nguyên tử, là quốc gia châu Á đầu tiên khai thác được nguồn năng lượng này. Ngày nay, Ấn Ðộ đạt trình độ tiên tiến trong lĩnh vực Công nghệ hạt nhân, gồm cả việc tạo ra vật liệu nguồn. Công nghệ hạt nhân phục vụ nhu cầu cuộc sống và sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Ấn Ðộ đã thực hiện chương trình chiến lược, sản xuất điện hạt nhân và coi nguồn năng lượng này đóng một vai trò chủ đạo trong vấn đề an ninh năng lượng.

Ấn Ðộ đang vận hành 15 nhà máy điện hạt nhân, tổng công suất 4.120 MW. Bảy nhà máy điện hạt nhân khác đang xây dựng với công suất 3.420 MW. Các lò phản ứng hạt nhân của Ấn Ðộ công suất tối đa 540 MW. Từ năm 2017, Ấn Ðộ xây dựng nhà máy điện hạt nhân lớn công suất tới 2.000 MW. Năm 2020, tổng công suất các nhà máy điện hạt nhân của Ấn Ðộ khoảng 20 nghìn MW. Năm 2050, điện hạt nhân sẽ chiếm khoảng 35% tổng công suất phát điện của Ấn Ðộ. Thực hiện Chương trình năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình, Ấn Ðộ còn tạo ra những đồng vị phóng xạ phục vụ nông nghiệp, y tế, công nghiệp và nghiên cứu khoa học. Nước này làm chủ Công nghệ hạt nhân từ việc tạo nguồn năng lượng bằng phản ứng hạt nhân đến quản lý rác thải phóng xạ. Các lò phản ứng và máy gia tốc hạt được chính các nhà khoa học hạt nhân Ấn Ðộ tự thiết kế và xây dựng.

Vào không gian

Thăm Cơ quan Nghiên cứu không gian Ấn Ðộ (ISRO), được xem các chuyên gia Ấn Ðộ đang lắp ráp vệ tinh thế hệ thứ tư, nặng hơn 1,5 tấn - loại vệ tinh lớn nhất của nước này.

Trước đó ( ngày 28-4 ), Ấn Ðộ đã phóng thành công tên lửa đẩy PSLV mang theo mười vệ tinh lên quỹ đạo, đánh dấu bước ngoặt trong chương trình nghiên cứu không gian và khai thác vũ trụ được tiến hành trong 45 năm qua. Các vệ tinh trên lần lượt được đưa vào quỹ đạo định trước, đây được coi là một thành công hiếm có trong lĩnh vực nghiên cứu, khai thác vũ trụ.

Cơ quan Nghiên cứu không gian Ấn Ðộ (ISRO) tiếp tục thực hiện kế hoạch nghiên cứu và chinh phục không gian. Tàu Chandrayaan-1, được phóng quan sát Mặt trăng vào đầu năm nay; phóng tàu không gian thám hiểm Mặt trăng thứ hai Chandrayaan-2 vào năm 2011; thám hiểm các tiểu hành tinh và sao Chổi vào năm 2015; Sao Hỏa vào năm 2019. ISRO sẽ đưa nhà du hành đầu tiên lên không gian vào năm 2014 với chi phí khoảng 2,2 tỷ USD và tàu có người lái tới Mặt trăng vào năm 2020. Như vậy Ấn Ðộ là nước thứ tư trên thế giới có kế hoạch đưa người vào vũ trụ bằng tên lửa và tàu của chính mình thiết kế và chế tạo.

Ấn Ðộ liên tục phát triển các tàu vận tải mới và phóng vào không gian nhiều vệ tinh đáp ứng các nhiệm vụ trọng yếu của đất nước và thực hiện thương mại vũ trụ, đưa vệ tinh của nước ngoài vào quỹ đạo ( thương mại vũ trụ ). Năm 1994, Ấn Ðộ đã phóng thành công tên lửa PSLV đưa vệ tinh IRS-P2 nặng 800 kg lên quỹ đạo. Hàng loạt tên lửa có khả năng mang những vệ tinh lớn hơn vào không gian đã và đang được nghiên cứu chế tạo. Ấn Ðộ đã chế tạo được loại tên lửa GSLV có khả năng đưa vệ tinh nặng hai tấn vào không gian. Nhiều vệ tinh của Ấn Ðộ đang bay trên quỹ đạo địa tĩnh, phục vụ nhiều mục đích khác nhau.

Với sự đầu tư phát triển Công nghệ vũ trụ, Ấn Ðộ là một trong ba nước có vệ tinh cảm biến tầm xa. Các lợi ích của Công nghệ vũ trụ của Ấn Ðộ đã được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học, thông tin liên lạc, giáo dục, y tế, môi trường, quân sự, quản lý tài nguyên, dự báo thời tiết. Sinh học với cuộc sống Ấn Ðộ coi Công nghệ Sinh học là lĩnh vực chiến lược, được ưu tiên đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D), với mục đích ứng dụng nhanh thực hiện chủ chương "Công nghệ Sinh học giúp xóa đói giảm nghèo, tiến bước hội nhập".

Trong bốn năm gần đây Công nghệ Sinh học Ấn Ðộ có tốc độ tăng trưởng 35%/năm. Công nghệ Sinh học đang hướng tới mục tiêu đạt tổng thu nhập năm tỷ USD vào cuối năm 2010 và tạo ra một triệu việc làm. Ấn Ðộ đang chiếm vị trí quan trọng trong thị trường Công nghệ sinh học toàn cầu.

Ðể bảo đảm an ninh lương thực cho dân số tăng tới khoảng 1,5 tỷ người vào năm 2050, trong bối cảnh đất canh tác nông nghiệp bị thu hẹp cùng với những rủi ro do thiên tai, Công nghệ SH là giải pháp hiệu quả thực hiện an ninh lương thực, giúp tăng sản lượng và chất lượng lương thực với chi phí thấp nhất. Ấn Ðộ tăng đầu tư cho Sinh học - nông nghiệp và tập trung nghiên cứu cây trồng biến đổi gien.

Ngành Công nghệ Sinh học - y tế của Ấn Ðộ phát triển nhanh.

Các nhà khoa học Ấn Ðộ, đã và đang phát triển những phương pháp điều trị mới theo hướng giảm tối đa chi phí điều trị và tiền thuốc cho người bệnh. Số lượng các công ty hoạt động trong lĩnh vực Sinh học - y tế tăng nhanh, cung cấp dược phẩm giá rẻ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Ấn Ðộ đứng trong đội ngũ các nước có ngành công nghiệp dược phẩm hàng đầu thế giới. Ấn Ðộ đứng thứ hai thế giới về sản xuất vắc-xin cho trẻ em và xuất khẩu tới hơn 100 nước. Ngành công nghiệp dược phẩm đạt sáu tỷ USD trong tổng số 550 tỷ USD của thị trường dược phẩm toàn cầu. Hiện có khoảng 280 công ty Công nghệ Sinh học có trụ sở ở Ấn Ðộ. Công nghệ Sinh học tạo ra những lợi ích kinh tế lớn, đang thu hút nhiều tài năng trẻ Ấn Ðộ và nước ngoài.

Khoa học - công nghệ phát triển do chính sách và con người. Ấn Ðộ đã đề ra nhiều chính sách phát triển đúng đắn kết hợp chặt chẽ với đào tạo nguồn nhân lực trong hệ thống trường đào tạo khoa học - công nghệ nổi tiếng. Nhiều ngành đào tạo ở Ấn Ðộ đạt đẳng cấp quốc tế như y khoa, du lịch, kinh tế, nông nghiệp, nghệ thuật, đặc biệt là đào tạo Công nghệ thông tin (IT). Hiện có khoảng 25 nghìn sinh viên các nước đang theo học ở những trường đại học ở Ấn Ðộ. Ấn Ðộ đang là một nơi lý tưởng để thực tập và tích lũy tri thức và kinh nghiệm. Hằng năm, khoảng 100 nghìn thanh niên Ấn Ðộ du học. Nhiều người Ấn Ðộ trở thành những nhà khoa học nổi tiếng thế giới ở nhiều lĩnh vực. Ấn Ðộ cũng đã thu hút hàng chục nghìn nhà khoa học và chuyên gia hàng đầu người Ấn Ðộ trở về quê hương làm việc, phụng sự Tổ quốc.

Bùi Văn

Thung lũng Silicon Ấn Ðộ

Bangalore, trung tâm công nghệ thông tin và công nghiệp phần mềm của Ấn Ðộ được cả thế giới nhắc đến với một cái tên "Thung lũng Silicon" thứ hai trên thế giới ( sau Thung lũng Silicon ở Mỹ ). Khoảng 250 công ty đa quốc gia công nghệ cao và 1.500 công ty phần mềm đóng đô ở Bangalore.

Với điều kiện làm việc và mức lương hấp dẫn, thành phố đã thu hút một lượng lớn tài năng Ấn Ðộ. Thành phố công nghệ này đóng góp khoảng 36% trong tổng xuất khẩu phần mềm của Ấn Ðộ.

Thành phố Bangalore có hơn bảy triệu dân vẫn là trung tâm công nghệ hàng đầu của đất nước Ấn Ðộ. Từ những năm 1990, khi chính phủ Ấn Ðộ tự do hóa nền kinh tế và khuyến khích phát triển ngành dịch vụ công nghệ thông tin, thành phố thành lập các khu vực đặc biệt như "Thành phố Ðiện tử" (Electronic City), nơi tập trung các hãng công nghệ cao.

Hàng loạt tập đoàn công nghệ của Mỹ như IBM, Intel, Dell, Cisco, Sun Microsystems và Oracle tìm đến đây tạo cơ hội hợp tác nghiên cứu và phát triển kinh doanh. Hàng trăm nghìn kỹ sư người Ấn Ðộ đang làm việc cho những trung tâm nghiên cứu và phát triển của những tập đoàn toàn cầu lớn. Chỉ riêng Trung tâm Công nghệ của General Electric ở thành phố này quy tụ đến hơn 2.000 kỹ sư, một phần tư trong số đó có học vị tiến sĩ. Chương trình Phát triển Liên hợp Quốc (UNDP) đã xếp Bangalore vào một trong bốn trung tâm công nghệ tốt nhất thế giới.

Ða số các kỹ sư tài năng của Ấn Ðộ chọn làm việc ở Bangalore thay vì phải sang làm thuê ở các quốc gia châu Âu và Hoa Kỳ như vào những thập niên trước. Ngày càng nhiều những tài năng của Ấn Ðộ ở khắp nơi trên thế giới trở về thành phố này làm việc. Người nước ngoài cũng kéo đến đây đặt văn phòng. Ðây là nơi có nguồn nhân lực rất dồi dào và có thu nhập bình quân cao nhất ở Ấn Ðộ hiện nay. Ðội ngũ lao động kỹ thuật cao ở thành phố này đóng góp khá nhiều cho sự khởi sắc của nền kinh tế đất nước.

Bangalore được ghi nhận là thành phố dẫn đầu thế giới về đổi mới công nghệ, vượt trên cả nhiều thành phố của Mỹ, Nhật Bản và Ðông-Nam Á. Nơi đây trở thành ngôi nhà của nhiều công ty đa quốc gia và công ty Ấn Ðộ. Thành phố này thật sự thành công trong việc xây dựng hình ảnh một đất nước Ấn Ðộ với thị trường dịch vụ công nghệ thông tin tăng trưởng với tốc độ 30%/một năm.

Quang Hiếu