NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Phát Thải Khí Độc Vào Môi Trường - Exposing Toxic Gas To Environment - TS Mai Thanh Truyết , Kiều bào Mỹ

Theo tin tức báo chí ở Việt Nam ngày 09/07/2006, khu công nghiệp ở Đà Nẵng phát thải nhiều khí độc vào môi trường như khí Monoxid Carbon , Nitric Oxid , và khói chì vượt quá định mức cho phép từ 2 đến 65 ngàn lần. Hôm nay PV xin trao đổi với TS Mai Thanh Truyết về vấn đề nầy.

Trước hết xin Ông cho thính giả biết sự độc hại của khí thải Monoxid Carbon, Nitric Acid và khói chì đối với công nhân nhà máy và môi trường như thế nào ?

Ba hóa chất vừa kể trên là ba kẻ thù chính của con người, hậu quả của quá trình phát triển công nghiệp, nhất là công nghệ luyện kim. Tin tức từ khu công nghiệp Đà Nẵng chỉ là một điển hình trong phát triển chung của VN. Theo Cơ quan An toàn Sức khỏe trong Công nghiệp cũng như các định mức độc tố của Bộ Y tế Hoa Kỳ, monoxid carbon là một khí có ái lực (affinity) đối với hồng huyêt cầu gấp 210 so với oxy. Do đó, khi có sự hiện diện của Monoxid Carbon trong máu, khả năng hấp thụ oxy của hồng huyết cầu giảm nhanh và oxy không thể được dẫn truyền đi khắp nơi để nuôi cơ thể. Nếu nồng độ của Monoxid Carbon trong không khí đạt đến 400 phần triệu, người công nhân hít phải không khí bị nhiễm độc nầy trong vòng một giờ đầu tiên thì chưa bị ảnh hưởng, nhưng trong giờ thứ hai trở đi, tình trạng ngất xỉu có thể xảy ra. Nghĩa là trong giờ đầu tiên, con người chưa bị ảnh hưởng nhiều vì Monoxid Carbon đang còn trong giai đoạn kết hợp với hồng huyết cầu. Nhưng sau đó, vì thiếu oxy cho cơ thể cho nên người công nhân sẽ thở mạnh, ngắn, hơi thở đứt quảng khi lượng Monoxid Carbon trong máu lên đến 20 đến 30%. Từ 30 đến 50%, thần kinh sẽ bị giao động, chóng mặt, thị giác không còn hoạt động được nữa và sẽ đưa đến hôn mê. Nếu bị tiếp nhiễm trên 50% Monoxid Carbon, có thể bị tử vong sau đó.

Còn về nitric oxids. Đây là một khí độc, gây khó chịu cho da và mắt trước tiên khi bị tiếp nhiễm. Thông thường, nitric oxids xuất hiện dưới dạng khí khi acid nitric tác dụng lên chất hữu cơ như gỗ, mạc cưa, hay acid nitric đun nóng, hoặc các chất hữu cơ có chứa nitrogen bị đốt cháy. Trong các lò luyện kim, hay hàn xì, nitrogen và oxy trong không khí gây ra phản ứng để tạo ra Nitric Oxid. Đặc tính của Nitric Oxid là hòa tan trong nước để tạo thành acid nitric hay acid nitrous. Đây là phản ứng trong cơ thể khi hấp thụ nitric oxids qua đường khí quản. Các acid tạo thành làm cho cổ họng và cuống phổi bị khô vì mất nước. Các acid vừa mới tạo thành sẽ bị trung hòa bằng cách kết hợp với các mô trong cơ thể. Và chất sau nầy sẽ làm cho các động mạch nở lớn làm giảm áp suất của máu gây chứng nhức đầu chóng mặt. Nếu nồng độ tiếp nhiễm từ 60 đến 150 phần triệu, người công nhân sẽ bị khô mũi và cổ họng, ho và đau ngực. Nếu sau đó được hít thở không khí sạch, thì sẽ được hồi phục trong vòng một giờ. Nếu bị tiếp nhiễm liên tục trong 24 giờ, hơi thở sẽ bị đứt quảng, mất ngũ, có thể bị chứng cyanosis ( máu xanh ở móng tay như trong trường hợp trẻ sơ sinh bị nhiễm nitrate ) và sau cùng có thể đi đến tử vong.

Sau cùng đối với khói chì, kim loại nầy đã được Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ xếp vào loại gây ra ung thư cho con người. Phổi và thận là hai cơ quan trực tiếp bị ảnh hưởng. Nhiễm độc hơi chì là một mối ưu tư hàng đầu trong tất cả loại nhiễm độc trong công nghiệp. Chì đi vào cơ thể qua đường khí quản, thực quản hay qua các mô da dưới dạng bụi, khói, hay khí ẩm. Thông thường con người bị tiếp nhiễm nhiều nhất dưới dạng chì hữu cơ. Khi chì đi vào cơ thể, một phần sẽ không bị hấp thụ và được tống khứ ra ngoài bằng đường đại tiện. Phần còn lại sẽ đóng trong túi mật. Chì xâm nhập qua đường khí quản độc hại hơn chì qua đường thực quản. Khi bị tiếp nhiễm chì bám vào tế bào máu, làm cho tế bào bị vỡ ra gây chứng thiếu máu (anemia). Và điểm đến sau cùng của chì trong cơ thể là thận, gan, hệ thống thần kinh và tế bào máu.

Ở Hoa Kỳ có khi nào mức độc hạị đã từng lên quá cao như ở Đà Nẵng không? Người ta làm sao để xử lý những loại khí độc hại đó ?

Hoa Kỳ qua Cơ quan Bảo vệ Môi trường và Cơ quan An toàn Sức khỏe trong công nghiệp đã có quy định rõ ràng các giới hạn cho phép phát thải tối đa vào không khí của từng hóa chất độc hại. Đối với Monoxid Carbon và NOx thì nồng độ phát thải không quá 50 phần triệu còn đối với chì phải dưới 200 ug/m3. Trong lịch sử công nghệ Hoa Kỳ, chúng tôi chưa thấy tài liệu hay tai nạn nghề nghiệp nào trong các tạp chí An toàn sức khỏe. Vã lại, một trong những quy định bắt buộc của Hoa Kỳ là trước khi cấp giấy phép xây dựng một nhà máy, nhà đầu tư cần phải nộp hai văn bản quan trọng. ngoài quy trình sản xuất ra. Đó là: nghiên cứu tác động môi trường và việc thiết lập hệ thống xử lý phế thải rắn, lỏng và khí của nhà máy. Do đó trường hợp như đã xảy ra ở Đà Nẵng đã không xảy ra cho Hoa Kỳ hay các quốc gia có phát triển cao.

Để xử lý những khí độc trên, các nhà máy trước khi phát thải vào không khí, đã lấp đặt những hệ thống xử lý như màng lọc có chứa hóa chất xử lý tùy theo công nghệ sản xuất, xử dụng hệ thống lọc bằng than hoạt tính qua tính chất hấp thu của than v.v..

Chính phủ Mỹ hay Âu châu làm gì để kiểm soát mức khí thải, các công ty vi phạm phải chịu hình phạt như thế nào ?

Như đã giải thích ở phần trên là trước khi thành lập một cơ sở sản xuất các cơ quan trách nhiệm kiểm soát rất kỹ hệ thống xử lý của cơ sở trước hết. Và ngay sau khi nghiệm thu để cho cơ sở bắt đầu đi vào hoạt động, những đợt kiểm tra xảy ra rất thường xuyên và có định kỳ ngắn hạn trong thời gian đầu. Thêm nữa, vẫn có những đợt kiểm tra đột xuất, nghĩa là không thông báo trước cho cơ sở sản xuất. Tuy nhiên dù kiểm soát chặt chẽ thế nào đi nữa cũng vẫn xảy ra vi phạm. Và khi một cơ sở bị lập thủ tục vi phạm, chính cơ sở đó phải thiếp lập một dự án sửa chữa (corrective action) vi phạm trong một thời gian ngắn nhất do cơ quan Cơ quan An toàn Sức khỏe trong công nghiệp quy định. Nếu quá hạn quy định cơ sở phải chịu hình phạt bằng hiện kim rất nặng, trung bình 25 ngàn Mỹ kim cho một ngày vi phạm.

Ông có đề nghị giải pháp nào cho tình trạng nầy ở VN hay không?

Vì VN không có kế hoạch phát triển chung và đồng bộ. Việc phát triển công nghệ ở VN thường do cá nhân và địa phương đảm trách, do đó có nhiều bất cập và hệ lụy xảy ra sau một thời gian khai thác một cơ sở công nghiệp. Một trong những hệ lụy lớn là sự ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng lên sức khỏe của người công nhân.

Do đó, các cơ sở sản xuất công nghiệp nặng và tạo ra nhiều khí thải độc hại như công nghệ luyện kim cần phải được xây dựng ở những nơi xa thành phố, thưa dân cư. Hệ thống xử lý phế thải phải được lấp đặt theo quy định trong nghiên cứu tác động môi trường ghi trong Bộ luật Môi trường của VN từ năm 1993. Tiếc thay điều đó không được thực hiện nghiêm chỉnh cho nên tình trạng như khu công nghiệp Đà Nẵng, tuy là cá biệt nhưng cũng có thể được diễn dịch ra tình trạng chung cho cả nước. Và sau cùng VN cần phải áp dụng những quy trình tiên tiến, sạch, xử dụng ít nguyên liệu để đạt được hiệu năng tối đa trong sản xuất.

Làm được ba điều trên, thiết nghĩ VN sẽ đi một bước dài trong phát triển trước tiến trình toàn cầu hóa trên thế giới.