NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Nâng cao tầm nhìn phát triển khu công nghiệp ở nước ta trong giai đoạn mới - GS TS Trần Ngọc Hiên

Trong mấy thập kỷ gần đây, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất (gọi chung là khu công nghiệp) đã trở thành một hướng phát triển quan trọng trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở cả nước. Tuy vậy, trình độ và chất lượng phát triển khu công nghiệp lại phụ thuộc vào bối cảnh phát triển khoa học công nghệ và kinh tế chính trị khu vực và thế giới từng giai đoạn khác nhau. Ngoài ra còn phụ thuộc một cách quyết định vào điều kiện bên trong, nhất là nhân tố lãnh đạo quản lý, vĩ mô.

Trong tình hình hiện nay, những điều kiện bên ngoài thay đổi khá nhanh chóng, đang đòi hỏi điều kiện bên trong đổi mới hơn nữa, nhất là nâng cao tầm nhìn về vai trò và điều kiện phát triển khu công nghiệp có hiệu quả hơn, chất lượng cao hơn, phù hợp với yêu cầu phát triển theo con đường rút ngắn mà thời đại đã mang lại cơ hội lớn cho nước ta.

Sau 15 năm phát triển khu công nghiệp, nước ta đã có 130 khu công nghiệp, Khu Chế Xuất, trong đó 75 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, còn 55 khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản.

Thực tiễn phát triển khu công nghiệp với những thành công và chưa thành công trong 15 năm qua, cũng như những yếu cầu thực hiện các mục tiêu trong thời gian tới, đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý nhìn lại tư duy và phương pháp, nâng cao tầm nhìn về xây dựng và thực hiện chính sách trong thời kỳ mới.

Nhận rõ xu hướng biến đổi về kinh tế chính trị thế giới và định hướng mới trong phát triển khu công nghiệp.

Tình hình kinh tế chính trị thế giới và cả khu vực đang có nhiều thay đổi, có những biến đổi bất ngờ, nên cách nhìn chung chung truyền thống về thời cơ và thách thức đang trở nên lỗi thời. Sức cạnh tranh của một quốc gia trước hết bắt nguồn từ một tầm nhìn biện chứng, nhận rõ những xu hướng tất yếu, đằng sau sự vận động hai mặt thuận nghịch của thực tiễn.

Sự phát triển khu công nghiệp cũng vậy. Đằng sau những thành công (như đã thu hút trên 4.400 dự án đầu tư gồm 2.202 dự án đầu tư nước ngoài và 2.314 dự án đầu tư trong nước, với tổng số vốn đầu tư khoảng 17 tỷ USD và trên 100 nghìn tỷ đồng đầu tư trong nước, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 đã đạt 14 tỷ USD, xuất khẩu đạt 6 tỷ USD, nhập khẩu 8 tỷ USD, nộp ngân sách tăng và đạt 650 triệu USD, thu hút 740 ngàn lao động trực tiếp), lại đi đôi với những hạn chế, sai lầm trong công tác quy hoạch, trong thẩm định dự án và đánh giá kết quả hoạt động, những vấn đề xã hội và môi trường nổi lên. Bệnh thành tích chạy theo phát triển số lượng ở các cấp đã che lấp tầm nhìn những vấn đề mang tính qui luật phát triển kinh tế nói chung và phát triển khu công nghiệp nói riêng trong những năm đầu thế kỷ 21, làm cho nước ta ngày càng tụt hậu xa hơn so với khu vực thế giới, mà mức độ tụt hậu này đang là một sức ép không nhỏ trước Đại hội X của Đảng. Vì vậy cần nhận rõ những xu hướng, những tính qui luật của con đường phát triển để chủ động hơn trong hoạt động thực tiễn.

Trước hết cần làm rõ những xu hướng phát triển đằng sau những biến đổi thuận nghịch của kinh tế chính trị thế giới (có quan hệ trực tiếp tới phát triển khu công nghiệp).

1. Xu hướng chuyển mạnh từ trình độ kinh tế thị trường dựa trên công nghiệp cơ khí lên trình độ kinh tế thị trường dựa trên tri thức.

Xu hướng này đang làm thay đổi trình độ phát triển của các quốc gia, do đó làm thay đổi vị thế quốc gia. Ai sớm đi vào kinh tế tri thức, nước đó sớm nâng cao sức cạnh tranh quốc gia và sớm cải thiện vị thế quốc gia.

Đối với nước đang phát triển như Việt Nam, xu hướng chuyển mạnh lên kinh tế tri thức đang làm thay đổi chất lượng các khu công nghiệp so với trước.Vì vậy phát triển khu công nghiệp trên cơ sở vận dụng kinh tế tri thức là một đòi hỏi có tính qui luật. Kinh tế tri thức sẽ đem lại một lực lượng sản xuất mới ngang tầm thời đại, trước hết ở các khu công nghiệp. Đây là một khía cạnh của tầm nhìn mới đối với phát triển khu công nghiệp, có ý nghĩa chiến lược hơn các mục tiêu khác như tỷ lệ tăng trưởng, xuất khẩu, nộp Ngân sách, v.v…

Nước ta hiện vẫn chưa ra khỏi tình trạng nước kém phát triển, nên muốn tiến cùng thời đại thì phải có chiến lược làm cho sự phát triển các khu công nghiệp đồng nghĩa với phát triển các vùng kinh tế tri thức. Từ các vùng này mà có chính sách thúc đẩy sự lan tỏa kinh tế tri thức ra khắp nền kinh tế quốc dân, làm cho quá trình hiện đại hóa trở thành quá trình chủ đạo trong những năm trước mắt. Đã đến lúc cần thu hẹp phạm vi công nghiệp hóa và mở rộng không gian hiện đại hóa. Đó là con đường thực tế để nước ta phát triển theo hướng rút ngắn lên trình độ hiện đại văn minh. Theo tầm nhìn mới này thì không phải như trong “lý luận màu xám” thường nghe nói, mà triển vọng là ở “cây đời xanh tươi” từ đổi mới sự phát triển khu công nghiệp, bắt đầu tư đổi mới cách xem xét thẩm định các dự án, theo dõi quản lý các quá trình thực hiện dự án và đánh giá kết quả hoạt động của các dự án trong khu công nghiệp.

Điều bất cập là, hiện nay Bộ Kế hoạch – Đầu tư và các Ban quản lý khu công nghiệp còn coi trọng các yêu cầu khác hơn là coi trọng trình độ lực lượng sản xuất của kinh tế tri thức, chưa đủ sức hay chưa có đánh giá đúng các dự án, nên phần lớn các dự án được thông qua thường là dự án mới, chứ không phải dự án có công nghệ hiện đại, tiên tiến.

Cho đến nay, trình độ khoa học, công nghệ, nói riêng là trình độ lực lượng sản xuất nước ta còn lạc hậu nhiều năm so với các nước trong khu vực (mà cách đây 20 – 30 năm họ cũng không hơn ra). Nếu không sớm đổi mới tầm nhìn và quyết tâm vượt lên thì không lâu nữa, nhiều khu công nghiệp sẽ có nguy cơ trở thành “bãi rác công nghệ” của các nước.

2. Xu hướng phát triển bền vững đang trở thành xu hướng chủ đạo của thời đại hiện nay và đòi hỏi định hướng mới trong phát triển khu công nghiệp.

Dựa trên những khả năng của tiến trình phát triển kinh tế tri thức nên phát triển bền vững với yêu cầu phát triển đồng thuận giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, đang trở thành hướng chủ đạo được ghi trong các văn bản các tổ chức Liên hiệp quốc, xu hướng đó đang tác động mạnh trong cạnh tranh thương mại và đầu tư.

Hiện nay, ở phạm vi quốc gia và quốc tế, xu hướng phát triển bền vững mở rộng đến đâu thì khuynh hướng kinh doanh truyền thống vì lợi nhuận của chủ đầu tư, coi thường vấn đề xã hội, môi trường bị thu hẹp đến đấy.

Xu hướng phát triển bền vững đang làm thay đổi định hướng phát triển kinh tế - xã hội. Đây là một tầm nhìn mới quan trọng đối với nước ta và trước hết phải vận dụng vào phát triển khu công nghiệp. Bởi vì phát triển bền vững phải dựa trên điều kiện cần và đủ là kinh tế tri thức. Hai mặt đó cần hội tụ ở sự phát triển khu công nghiệp. Quán triệt định hướng phát triển bền vững hiện đang là một vấn đề cấp bách ở nước ta do những bức xúc về các vấn đề xã hội, môi trường và cả về chất lượng, hiệu quả kém trong tăng trưởng kinh tế. Những tiêu cực trong ngành xây dựng, trong giao thông vận tải, các vụ chiếm đoạt đất đai ở nhiều địa phương… cho thấy tình trạng hoang dại biểu hiện của tích lũy nguyên thủy và những hiểm nguy tiềm ẩn trong các lĩnh vực ấy.

Vì vậy, từ những năm 2006 trở đi phải kiên quyết chuyển mạnh sang hướng phát triển bền vững, nếu không sẽ quá muộn. Với bước tiến gia nhập WTO và việc kiểm tra các nguồn vốn vay quốc tế, chúng ta đang đứng trước sức ép rất lớn, đòi hỏi phải có một bước đột phá để chuyển nguy thành an, lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế và quản lý.

3. Đô thị hóa và những vấn đề xã hội trong phát triển khu công nghiệp.

Sự phát triển các khu công nghiệp thường kéo theo các vấn đề đô thị hóa và vấn đề xã hội và môi trường với quy mô khác nhau. Xử lý các vấn đề đó như thế nào sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển các khu công nghiệp.

Sau một thời gian đi vào hoạt động, ở các khu công nghiệp vùng lân cận dần dần tích tụ nhiều vấn đề xã hội và môi trường, nhưng các nhà quản lý chậm nhận biết

Không phải ngẫu nhiên, ở nước ta vốn xa lạ với hiện tượng “đình công, bãi công” thì nay lại nổi lên các vụ đình công ngày càng nhiều. Theo số liệu báo chí, từ 1987 đến nay đã diễn ra 930 cuộc đình công. Các doanh nghiệp có vốn FDI là nơi có nhiều vụ đình công nhất. Những cuộc đình công qui mô lớn xảy ra ở một số doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai là những nơi có khu công nghiệp tập trung (*). Những người nghiên cứu khảo sát các cuộc đình công nói rằng: cứ nhìn những bữa cơm của công nhân, đến xem nơi ở của họ thì sẽ hiểu nguyên nhân các cuộc đình công. Ở một số doanh nghiệp FDI, công nhân Việt Nam còn bị chèn ép, xúc phạm, thậm chí đánh đập ngay trên đất nước mình

Tình hình ấy cho thấy rằng:

Quan hệ chủ thợ trong các doanh nghiệp ấy đang là loại quan hệ lạc hậu nhất thuộc thế kỷ 19 lại đang tác động trong một “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nước ta mở cửa, hội nhập, nhưng lại chưa tiếp cận được quan hệ thương mại đầu tư cuối thế kỷ 20. Sự yếu kém này do đâu?

Giữa những qui định pháp luật về khu vực này với thực thi pháp luật có một khoảng cách khá lớn. Phải chăng cần đạt mục đích thu hút đầu tư cho tăng trưởng kinh tế, còn các vấn đề xã hội và môi trường thì giải quyết sau (?)

Các cuộc đình công của công nhân tăng về số lượng và qui mô cũng hé lộ ra “gót chân Asin” của các tổ chức công đoàn chưa thích nghi với quan hệ thị trường, nhất là xử lý mối quan hệ chủ - thợ trong các doanh nghiệp FDI. Mới chỉ có một số ít công đoàn cơ sở có vai trò trong việc “hạ nhiệt” và bình ổn tình hình.

Ở cấp quản lý vĩ mô, chúng ta chưa tiếp cận được đòi hỏi của xu hướng phát triển bền vững, vốn là nội dung thực tế của định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế. Tôi chưa thấy có những nghiên cứu, những năng lực cho việc thực hiện qui luật phát triển đồng thuận giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Đó là cơ sở để giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích hài hòa giữa các đối tác trong đầu tư.

Vai trò của các đô thị gắn với khu công nghiệp nhằm hướng tới, giải quyết những vấn đề xã hội cho khu công nghiệp (nhà ở, dịch vụ, việc làm cho gia đình công nhân) và môi trường, nhằm tạo khuôn mặt một nền văn minh mới đang hình thành từ sự phát triển khu công nghiệp.

Tiếp tục đổi mới công tác tổ chức quản lý các khu công nghiệp ?

Xây dựng các khu công nghiệp và quản lý nó vẫn là vấn đề mới mẻ đối với Nhà nước ta, dù đã trải qua thực tiễn 15 năm phát triển khu công nghiệp với nhiều cố gắng đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý. Nhiều vấn đề đã được phát hiện, kể cả một số vấn đề có tính chất chiến lược, đã nêu lên nhiều lần nhưng chưa giải quyết được. Nguồn gốc vấn đề vẫn là thiếu một tầm nhìn phù hợp với bối cảnh trong nước, và thiếu một năng lực tổ chức, quản lý có tính chuyên nghiệp.

Hiện nay, nâng cao hiệu quả của hệ thống khu công nghiệp trong cả nước là một yêu cầu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ 2006 trở đi. Vì vậy, vấn đề tiếp tục đổi mới công tác tổ chức và quản lý hệ thống KCN dựa trên tầm nhìn mới và định hướng mới phát triển khu công nghiệp trở nên cấp bách. Trong phạm vi một nghiên cứu nhỏ, xin nêu ra mấy vấn đề chủ yếu sau đây:

Nhận thức đúng vị trí, vai trò của hệ thống khu công nghiệp trong phát triển theo con đường rút ngắn.

Trong thời đại hiện nay, để tồn tại và phát triển bền vững, nước ta nhất định phải đi theo con đường phát triển rút ngắn. Phát triển có hiệu quả cả kinh tế, xã hội, môi trường các khu công nghiệp là một nội dung quan trọng của con đường rút ngắn ấy.

Trong lịch sử, Lênin là người đầu tiên phát hiện ra con đường phát triển rút ngắn hợp qui luật (sau những thất bại của chính sách cộng sản thời chiến) với các chính sách kinh tế mới (NEP), chính sách kinh tế tư bản nhà nước và tô nhượng. Tuy vậy, các chính sách đó đã kết thúc sau khi Lênin mất. Cả Mác, Ăngghen và Lênin đều nhấn mạnh phải làm sao nắm bắt được các thành tựu tiên tiến về phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, giáo dục của chủ nghĩa tư bản như một trong điều kiện chủ yếu để xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã không làm được nên suy thoái dần

Trong thời đại ngày nay, yêu cầu đó được thực hiện thông qua hợp tác đầu tư, mà hình thức tổ chức có hiệu quả nhất và chất lượng cao là hệ thống khu công nghiệp. Vị trí, vai trò của hệ thống khu công nghiệp không phải chỉ có tăng trưởng GDP, mà là đòn bẩy để nước ta nâng cao trình độ lực lượng sản xuất và phương thức tổ chức quản lý nền kinh tế thị trường hiện đại. Nói cụ thể hơn thì vai trò khu công nghiệp không nên chỉ phát triển đầu tư và thương mại, mà còn nâng cao trình độ khoa học công nghệ, trình độ quản lý, đào tạo nguồn nhân lực hiện đại của đất nước.

Xây dựng quy hoạch hệ thống khu công nghiệp theo định hướng phát triển bền vững

Sau 15 năm phát triển khu công nghiệp, nhưng nước ta vẫn chưa có được một quy hoạch phát triển khu công nghiệp, vì cả nền kinh tế quốc dân cũng chưa xây dựng quy hoạch phát triển hợp lý dù đã có văn bản quy hoạch.

Trong thời gian qua sự phát triển khu công nghiệp hầu như đều do các địa phương đua nhau xây dựng khu công nghiệp với những chức năng tương tự giống nhau. Vì vậy các khu công nghiệp phát triển riêng lẻ, phải đầu tư cho tất cả các hạng mục công trình (kể cả cụm dân cư).

Tình hình đó đem lại thực trạng rất nhiều khu công nghiệp không hoạt động hay hoạt động kém hiệu quả, nó phản ánh trình độ và tầm nhìn của cả Trung ương và địa phương chưa phù hợp.

Thực tiễn phát triển kinh tế thị trường hiện đại chỉ ra rằng: kinh tế thị trường phát triển theo vùng, dựa trên lợi thế so sánh, chứ không phải phát triển theo địa phương hành chính. khu công nghiệp ra đời trong vùng kinh tế nhằm chuyển lợi thế so sánh của vùng thành lợi thế cạnh tranh trong thương mại và đầu tư của cả nước. Các trung tâm khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực cần gắn liền với đòi hỏi phát triển vùng và khu công nghiệp.

Đã đến lúc cấp quản lý vĩ mô nên mời các chuyên gia liên ngành đánh giá lại chất lượng làm quy hoạch, từ đó sửa đổi, xây dựng quy hoạch hợp lý dựa trên tầm nhìn mới về kinh tế thị trường và khu công nghiệp.

Đánh giá lại và đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý kế hoạch đầu tư.

Công tác tổ chức và cơ chế quản lý không theo kịp yêu cầu phát triển khu công nghiệp là một nhân tố chủ yếu tạo ra thực trạng kinh tế và xã hội trong các khu công nghiệp hiện nay, gây nên những thua thiệt về phía Việt Nam và thiếu sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài tầm cỡ lớn.

Nhược điểm lớn nhất trong lĩnh vực tổ chức, quản lý khu công nghiệp và nền kinh tế là thiếu tính chuyên nghiệp của bộ máy và người đứng đầu, do công tác tổ chức cán bộ bất cập kéo dài trong khi vận động nền kinh tế - xã hội không thể chờ đợi họ. Vì vậy, trong quá trình đầu tư kể cả tiếp nhận đầu tư nước ngoài, từ thẩm định dự án, quản lý dự án, giám sát đầu tư ở nước ta vẫn chưa ra khỏi tình trạng lạc hậu. Chúng ta chưa quen hay chưa muốn thuê các công ty quản lý dự án chuyên nghiệp nước ngoài, cũng chưa có ý định thành lập các công ty chuyên làm nghề quản lý dự án và áp dụng hình thức đấu thầu quản lý dự án.Tại sao các bộ, ngành có dự án đầu tư xây dựng lại nhất thiết làm nhiệm vụ quản lý dự án? Câu trả lời đã rõ qua các vụ tiêu cực nổi cộm gần đây.

Vấn đề giám sát, thanh tra về đầu tư càng lúng túng và chậm chạp. Như Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cho biết, đến cuối năm 2002, Bộ mới tổ chức Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư, cuối năm 2003 mới thành lập Thanh tra kế hoạch đầu tư, còn công tác giám sát cộng đồng thì vẫn chỉ là văn bản.

Trong tình hình hiện nay, khi nạn tham nhũng khá nặng nề, khi tổng số nợ đã tới con số 20 tỷ USD vốn viện trợ đầu tư phát triển và mỗi năm nước ta phải có 2 tỷ USD trả nợ nước ngoài (theo Bộ Tài chính) thì vấn đề cải cách về tổ chức và cơ chế quản lý đầu tư có ý nghĩa quan trọng và rất cấp bách.