NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đi về đâu - Chuyên viên cao cấp Vũ Quang Việt , Kiều bào Mỹ

Cảnh báo của tác giả về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng vào Việt Nam : "Mọi suy nghĩ ở Việt Nam cần phải tập trung vào bảo đảm ổn định, chấm dứt từ từ lạm phát, chứ không thể tiếp tục theo đuổi con đường tăng GDP một cách ấn tượng với các đầu tư phí phạm, trong khi đa số dân chúng có lương không đủ sống. "

Sau khi cứu Bear Stearns, Fed đã phải dồn dập cứu Fannie Mae và Fredie Mac tuần trước, và hiện nay là Lehman, Merrill Lynch, hai công ty tài chính lớn số 4 và số 3 của Mỹ, và công ty AIG, một công ty bảo hiểm lớn nhất Mỹ. Số tiền bỏ ra để cứu nguy vượt hẳn số tiền bỏ ra cứu Bear Stearns. Tình hình nghiêm trọng đã đưa chỉ số chứng khoán vào hôm thứ hai 15/9 xuống hơn 500 điểm, giảm 4,4%.

Fannie Mae và Fredie Mac : hai đại gia cho vay và bảo hiểm nợ mua nhà

Việc cứu Fannie Mae và Fredie Mac là cuộc cứu nạn thuộc loại lớn nhất của nhà nước Mỹ sau thế chiến thứ hai. Hai công ty tư nhân Fannie Mae và Fredie Mac, chủ yếu cho vay và bảo hiểm vay nhà đất, mà hiện nay số nợ của họ đã lên tới trên 5.000 tỷ đô la, lớn hơn một phần ba GDP của Mỹ, và bằng nửa tổng số nợ địa ốc của cả nước. Hai công ty này nguyên là công ty nhà nước được lập ra để bảo hiểm các khoản nợ vay nhà của gia đình nghèo và trung lưu, nhưng sau này được các nhà chính trị nhằm mục đích kiếm phiếu đã cho phép mở rộng, rồi tư nhân hóa, nhưng vẫn được coi là có nhà nước đứng sau lưng trợ giúp. Vì được hiểu ngầm là nhà nước bảo trợ nên hai công ty bành trướng mạnh vào thị trường các loại nợ “rác”, không cần bảo chứng đủ tin cậy, mục đích là làm lợi nhuận nhanh. Các nhà chính trị ủng hộ chúng được tiếng là giúp dân nghèo và trung lưu có nhà cửa, và cũng nhận được tiền ủng hộ ứng cử từ hai công ty trên. Tín dụng thừa thãi, giá nhà lên cao, và bất chấp cảnh báo, Fed vẫn rất nhiều năm giữ lãi suất thấp để bảo vệ thị truờng chứng khoán, và do đó đẩy giá nhà cửa lên mức phi lý. Khi giá nhà đất xuống, đến nay có đến trên 9% số nợ vay trên mất khả năng chi trả, hai công ty trên cũng bị đẩy tới mất khả năng chi trả. Và vì số nợ quá lớn nhà nước phải trực tiếp can thiệp.

Để cứu Fannie Mae và Fredie Mac, và có thể cần phải dùng ngân sách (tức là tiền thuế của dân) ở mức độ lớn, nhà nước phải truất quyền quản trị và quản lý của ban quản trị hiện nay và tuyên bố sẵn sàng bỏ ra 200 tỷ đô la trong việc cứu nạn. Con số này có thể không đủ vì chỉ bằng 4% phần nợ của hai công ty trên (trong khi đó như đã nói, đã có 9% số nợ trên mất khả năng chi trả và tỷ lệ này vẫn còn tăng và nếu bán tháo để lấy lại tiền thì chưa chắc đã lấy lại được một nửa). Đây là hình thức quốc hữu hóa dù thực chất chưa rõ ràng. Vì nếu rõ ràng là quốc hữu hóa, thì khi công ty mất khả năng chi trả, giá trị công ty đã âm (vì nợ lớn hơn tài sản có), giá trị cổ phiếu là zero, nhà nước có thể lấy quyền sở hữu, đuổi ban giám đốc cũ, thay bằng ban giám đốc mới, và có thể trong tương lai sẽ tư hữu hóa trở lại bằng cách bán cổ phần ra thị trường. Làm như thế, các cổ phiếu ưu tiên mà Trung Quốc và Ngân hàng và công ty tài chính của các nước khác mua sẽ bị mất sạch và sẽ gây ảnh hưởng lâu dài. Dường như chính phủ Mỹ vẫn muốn bảo đảm các cổ phiếu ưu tiên này vì kinh tế Mỹ đang phải dựa vào luồng vốn từ nước ngoài đổ vào, từ năm 2004 đã vượt 500 tỷ và hiện nay vào khoảng 800 tỷ; như vậy chỉ có các cổ phiếu thường là mất sạch giá trị. Sắp tới, hình thức quốc hữu hóa như thế nào sẽ tùy thuộc Chính phủ sau Bush quyết định.

Và thêm hai đại gia đầu tư tài chính trên thị trường chứng khoán và một đại gia bảo hiểm

Một tuần sau khi cứu Fannie Mae và Fredie Mac, ngày thứ hai 15/9/2008, Fed lại đành phải để cho Lehman phá sản và cho phép công ty chứng khoán và đầu tư tài chính Merrill Lynch, có khoản nợ 900 tỷ, sau khi tuyên bố lỗ 40 tỷ đô la, tự cứu bằng cách để cho nhà băng Bank of America mua với giá rẻ một nửa. Còn AIG, một công ty bảo hiểm lớn nhất Mỹ, cũng đang tìm nguồn tài chính tự cứu mình vì những hành động phiêu lưu buôn bán tài chính. Chiều thứ hai cùng ngày, chính phủ Bang New York nơi công ty AIG đặt đại bản doanh đã cho phép nó mượn 20 tỷ từ các công ty con (bảo hiểm ở tiểu bang) để giúp vốn cho hoạt động đầu tư vào chứng khoán rác, còn Fed thì đề nghị hai công ty tài chính lớn là JPMorgan và Golden Sach bỏ ra 70 tỷ cho AIG vay ngắn hạn. Chưa biết họ có đồng ý không.

Không ai có thể tiên đoán được là tình hình sẽ đi đến đâu vì những tiên đoán trước đây cho rằng tình hình đã ổn định đều sai cả. Lehman vào đầu tháng 7 có số nợ là 600 tỷ và tất nhiên là số chứng khoán tương đương là 600 tỷ, đã phải chịu bán lỗ, thu về 30 tỷ (với giá 20 xu đối với mỗi đồng đô la ghi trên chứng khoán), tưởng như có đủ tiền để giải quyết vấn đề nhưng thực sự không đủ và đến hôm nay thì phá sản.

Nguyên nhân bất ổn định hiện nay bắt nguồn từ đâu ?

Bất ổn tài chính bắt nguồn từ những “phát minh” về tài chính trong thời gian qua, qua đó thế đứng của ngân hàng đã dần dần bị các công ty kinh doanh tài chính đánh đổ dần, trong lúc Fed chỉ được giao nhiệm vụ kiểm sát hệ thống ngân hàng. Fed đã cứu công ty tài chính Bear Stearns. Dù không thuộc nhiệm vụ của họ, Fed đã vào cuộc với hy vọng là chận đứng được tình hình hoảng loạn tài chính, nhưng thật ra họ đã lầm. Tình hình khủng hoảng tiếp tục mở rộng và Fed không thể đứng ra cứu tiếp, vì đây không phải là nhiệm vụ của Fed, và về mặt chính trị cũng như khả năng vốn, Fed không thể tiếp tục cứu. Các công ty tư nhân này đã đòi quyền tự do kinh doanh tài chính làm giầu, không chịu bất cứ sự kiểm soát nào của Fed, thì Fed không thể lấy thuế của dân để cứu chúng. Bơm tiền cứu sẽ đẩy mạnh thêm lạm phát, hiện nay nếu tính theo 12 tháng chấm dứt vào tháng 7 vừa qua thì lạm phát đã là 5,6%, nhưng nếu tính dựa vào 3 tháng qua thì lạm phát đã ở mức rất cao là 10,6% một năm và đang tăng, và không kể thực phẩm và năng lượng thì mức lạm phát tương đương là 2,5% và 3,5%. Các chuyên gia đều đánh giá rằng lạm phát sẽ tăng trong năm tới. Và như thế khả năng tăng lãi suất cho vay trên thế giới để kiềm chế lạm phát cũng là điều khó tránh. Đây là điều Fed sẽ phải nhức đầu: Tăng tín dụng để cứu nguy các đại gia hay kiềm chế lạm phát ?

Phát minh tài chính vừa qua là gì ?

Đó là việc tập trung tiền cho vay mua nhà, lấy tiền hoa hồng, rồi chia nhỏ hợp đồng vay nợ này thành các chứng khoán (một loại giấy nợ), rồi bán cho người có tiền (các công ty đầu tư tài chính chấp nhận rủi ro cao, quĩ bảo hiểm, quĩ hưu trí và dân chúng), qua đó họ lại ăn thêm hoa hồng. Tiền bán chứng khoán họ đem trả nợ ngắn hạn dùng lúc đầu để cho vay mua nhà. Mọi rủi ro về nợ sau khi bán chứng khoán thuộc về người mua chứng khoán, chứ không phải công ty tài chính. Cái mới là ở chỗ đó: ăn nhiều tiền nhưng mọi rủi ro thì đẩy cho người khác.

Thường thì lãi suất mua nhà là 7%, nhưng vì tình hình vừa qua, chỉ vì muốn tăng lợi nhuận và hoa hồng, các công ty tài chính chẳng cần điều kiện bảo chứng, có thể cho vay tới 100% giá mua nhà với lãi suất 9%. Nếu so với lãi tiền để dành khoảng 2% thì lãi suất trên quả là lớn, lại thêm các khoản dịch vụ phí cho vay đáng kể khác. Và khi người mượn mất khả năng chi trả, thì tất nhiên trong toàn hệ thống số tiền lãi thu được không đủ để chi cho tiền mất vốn này.

Với cách làm trên, các công ty tài chính hy vọng thay thế ngân hàng, bỏ qua sự kiểm soát của Fed, tha hồ mở rộng hoạt động làm giầu, bất chấp các định chế tài chính cần thiết mà Fed áp dụng cho ngân hàng. Trước cuộc đại khủng hoảng năm 1933, các ngân hàng ở Mỹ cũng không chịu sự kiểm soát nào. Nhưng sau này, Fed, một loại ngân hàng trung ương , ra đời đã thiết lập các định chế về cho vay, dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền ký gửi, và qua đó kiểm tra chặt chẽ hoạt động của ngân hàng nhằm bảo đảm khả năng chi trả của chúng và tất nhiên nếu cần ngân hàng trung ương sẽ đứng ra giải quyết. Vai trò của ngân hàng trung ương rất quan trọng bởi vì nếu một ngân hàng thương mại phá sản, tâm lý bày đàn có thể đẩy mọi người có tiền ký gửi rút tiền, đưa đến sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống, nếu không được ngân hàng trung ương can thiệp.

Về nguyên tắc, cách làm của công ty tài chính cũng không khác gì ngân hàng, tức là làm trung gian giữa người có vốn và người muốn mua nhà, nhưng quá trình thì ngược, nói chung họ phải là vay nóng, ngắn hạn cho vay mua nhà rồi chia nhỏ thành chứng khoán, bán ra thu hồi vốn để trả lại nợ ngắn hạn. Đáng lẽ người mua chứng khoán phải chịu mọi thiệt thòi, nhưng trớ trêu thay, các công ty tài chính đã không thể bán đi hết các khoản nợ để đổ toàn bộ rủi ro cho người khác.

Tình hình đang đi về đâu ?

Khó lòng biết tình hình đi về đâu. Nhưng rõ ràng là có một số vấn đề sẽ tiếp tục xảy ra trong nền kinh tế Mỹ :

- Giá nhà sẽ tiếp tục xuống. Cho đến nay giá nhà ở một số nơi như thành phố New York gần như chưa bị ảnh hưởng. Nhưng với số người trong khu vực tài chính mất việc làm, khả năng xuống giá ở New York là rất cao.

- Lạm phát trong tương lai sẽ tăng cao dù giá xăng dầu xuống vì mức tín dụng được Fed đẩy mạnh để cứu nguy các công ty tài chính và để nền kinh tế không đi vào suy thoái. Điều có thể xảy ra là nền kinh tế suy thoái hoặc phát triển chậm nhưng lạm phát vẫn cao.

- Suy thoái ngày càng mang tính toàn cầu. Thị trường chung châu Âu (quí hai giảm 0,1%) và Nhật (quí hai giảm 0,7%) đã đi vào suy thoái, còn Mỹ thì quí hai bất ngờ tăng 3,3% vì tăng được xuất khẩu, giảm nhập khẩu và tăng chi tiêu quốc phòng. Nhưng điều này sẽ không tiếp tục vì đồng Mỹ đang lên giá trở lại và dấu hiệu chi tiêu của dân chúng sẽ giảm mạnh, nhất là vào tháng 8, số thất nghiệp tăng lên 6,1% và thêm 84 ngàn người mất việc.

- Có thể khủng hoảng tài chính sẽ không xảy ra ở châu Á và châu Âu nói chung, nhưng mất mát tài chính do đầu tư tài chính sang Mỹ sẽ rất lớn, làm ảnh hưởng đến đầu tư nói chung trên thế giới.

Nói chung lạm phát trên thế giới vẫn có khuynh hướng tăng, dù giá dầu tăng hay giảm, vì tình hình tăng tín dụng nói chung. Lãi suất do đó cũng sẽ phải tăng để chống lại lạm phát. Việc thực hiện các hứa hẹn đầu tư rất ấn tượng vào Việt Nam, do các nước muốn chớp thời cơ tranh chỗ sau khi Việt Nam vào WTO, phần lớn là từ các nước Đông hoặc Đông Nam Á như Đài Loan, Mã Lai, Thái Lan, Singapore, Brunei, …cũng có khả năng khó thực hiện trừ các đầu tư vào lãnh vực dầu hỏa vì không có khả năng tìm ra nguồn vốn tài trợ. Mọi suy nghĩ ở Việt Nam cần phải tập trung vào bảo đảm ổn định, chấm dứt từ từ lạm phát, chứ không thể tiếp tục theo đuổi con đường tăng GDP một cách ấn tượng với các đầu tư phí phạm, trong khi đa số dân chúng có lương không đủ sống. Việc tăng lương ở khu vực công là không thể không tăng nhưng phải được tính toán kỹ lưỡng để không tạo ra lạm phát, như vậy là phải đánh đổi với việc giảm thêm đầu tư của nhà nước.

16-09-2008

Bài học cho Việt Nam từ khủng hoảng tài chính ở Mỹ

Rất nhiều nhà làm chính sách Việt Nam đã cổ võ thái quá cho một nền kinh tế thị trường tự do bởi vì họ nghĩ nó sẽ tự điều chỉnh, chẳng cần gì đến vai trò của nhà nước. Tập đoàn kinh tế là một ví dụ của sự tự do đó. Các tập đoàn này quên rằng mình là do nhà nước, tức là dân sở hữu, cứ tưởng là chỉ cần giữ vững mục tiêu làm ra lợi nhuận là đủ rồi. Lãnh đạo ngồi ghế chỉ một thời gian ngắn nên lợi nhuận cần đạt cũng phải được thực hiện nhanh chóng, bất kể những gì có thể xảy ra sau đó. Thế là họ tự do tung hoành đầu tư vào nhà đất, chứng khoán, ngân hàng, dù mục tiêu mà tập đoàn được lập ra có thể là sản xuất điện, vận tải biển, v.v. vì họ biết rõ những hoạt động này chỉ cần thân quen, lại được bật đèn xanh ở trên nên nguồn tín dụng không phải là điều cần quan tâm. Kết quả mới chỉ là lạm phát cao, đánh vào đời sống của dân nghèo, chứ chưa đến mức khủng hoảng trầm trọng đến các đại gia như ở Mỹ hiện nay. Và cũng may là tình trạng lạm phát phi mã vừa qua đã làm nhiều người tỉnh ngộ. Vấn đề thiết lập một hệ thống kiểm tra hữu hiệu và thường xuyên tài chính của cả ngân hàng và doanh nghiệp quốc doanh lớn cần được nhanh chóng đặt ra. Hệ thống này cần đòi hỏi các ngân hàng và doanh nghiệp công bố trên mạng bản báo cáo tài chính, cũng như các chỉ tiêu hoạt động cơ bản theo qui định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các thông số này. Chỉ có thế Việt Nam mới hy vọng không phải bắt chước Mỹ xã hội hoá thất bại của tư nhân, để còn sức chấm dứt việc xã hội hoá trách nhiệm của nhà nước.

Tình trạng coi như phá sản của AIG (nếu chính phủ Mỹ không nhảy vào cứu nguy), là điển hình của các thói tham lam, bỏ ngành chuyên môn của mình, tức là bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, các hoạt động có hệ thống kiểm tra chặt chẽ của cơ quan chuyên môn, để xông vào đánh bạc, bảo hiểm các chứng khoán rác. Bảo hiểm loại này cam đoan giá chứng khoán ghi trên hợp đồng, dù chứng khoán rác này mất hết giá trị. AIG tưởng rằng giá nhà sẽ lên mãi mãi. Không những thế để tăng lợi nhuận, vì tưởng rằng tình hình kinh tế sẽ tốt đẹp mãi, AIG cũng bảo hiểm nhiều loại giấy nợ mang tính rủi ro cao khác.

Đúng là chính sách của nhà nước Mỹ cho đến vừa qua là tạo mọi cơ hội để các nhà đầu tư mang tính rủi ro cao làm giầu nhanh chóng mà không cần có một hệ thống kiểm tra nào cả, và khi chúng gặp thất bại thì bắt toàn bộ xã hội chia sẻ. Đây mới là chính sách xã hội hoá “thất bại của tư sản” theo đúng nghĩa của từ này. Dân chúng Mỹ chỉ có thể hiểu được sự cần thiết của hành động xã hội hoá này nếu như hệ thống tài chính có khả năng lớn bị sụp đổ. Nhưng chính vì tự hỏi như thế, câu hỏi mà nhiều nguời, trong đó có tôi, cũng phải đối mặt là: vậy thì khả năng chi trả của hệ thống ngân hàng hiện nay như thế nào ?

Chính vì sự lo sợ trên mà thị trường chứng khoán rớt giá mạnh thêm, gần 450 điểm chiều hôm 17/9. Khả năng chi trả của chính các ngân hàng Mỹ hiện nay đang bị đặt thành vấn đề. Đây mới là vấn đề lớn. Các công ty tài chính so với hệ thống ngân hàng thương mại, dù là nói quá một tý, chỉ giống như mảnh băng cứu thương dán trên lưng con voi. Thông tin hiện nay về tình hình tài chính ở Mỹ và trên thế giới liên quan đến ai nắm chứng khoán rác bao nhiêu rất mù mờ, và giá trị của chúng cũng không rõ. Mọi người do đó phải tìm chỗ trú an toàn. Họ rút tiền ra khỏi các loại quỹ đầu tư gián tiếp. Chỉ trong ngày thứ hai vừa rồi, đã có 11 tỉ rút ra các quĩ đầu tư tài chính (7 tỉ là ở Mỹ và 4 tỉ ở các nước khác). Số rút vẫn còn ít, nhưng đây có thể là dấu hiệu cho cuộc tháo chạy lớn hơn.

Tất nhiên tác giả không tin rằng thị trường tài chính sẽ sụp đổ vì, không như đại khủng hoảng năm 1930, chính phủ Mỹ và chính phủ các nước bắt buộc phải can thiệp với bất cứ giá nào. Nhưng như thế thì với số nợ chồng chất của nhà nước, thuế không thể không tăng, lạm phát cũng vẫn có khả năng tăng, tốc độ phát triển kinh tế những năm tới khó lòng khả quan.

17-9-2008

Khủng hoảng tài chính Mỹ và sự phá sản của học thuyết tự do kinh doanh toàn diện kiểu mới

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ hiện nay có nhiều nguyên nhân. Việc tìm hiểu nguyên nhân vừa giúp ta hiểu vấn đề, vừa giúp rút ra các bài học về điều hành một nền kinh tế. Có thể liệt kê ra những nguyên nhân sau: (1) mở rộng thị trường cạnh tranh, nhưng lầm lẫn giữa “rào cản” cần phá bỏ và các “kiểm soát” cần bảo vệ; (2) sử dụng hai công ty nhằm giúp dân nghèo mua nhà Fannie Mae và Freddie Mac nhằm phục vụ ý đồ chính trị mị dân; (3) chính sách lãi suất thấp kéo dài quá lâu nhằm vực dậy thị trường chứng khoán sau cuộc đổ bể của “cuộc cách mạng” công nghệ thông tin. Nói chung, cuộc khủng hoảng tài chính ngày này là kết quả của một cuộc chạy đua làm tiền một cách cực kỳ tham lam của chế độ tư bản coi mọi định chế kiểm soát là kềm kẹp kiểu xã hội chủ nghĩa. Không chỉ thế, nó sẽ đòi hỏi xã hội Mỹ xem xét lại khuynh hướng tân tự do bắt đầu từ thời Ronald Reagan và thế giới xem xét lại mô hình kinh tế kiểu Mỹ hiện nay. Đó là mô hình nhằm lập lại chế độ tự do tư bản toàn diện của thời trước năm 1929. Khuynh hướng này không phải chỉ nhằm sửa sai những định chế kiểm soát thái quá mà còn chủ trương xoá bỏ hầu hết các định chế mà Tổng thống Frankin D. Roosevelt đã thiết lập để tránh lập lại các cuộc đại khủng hoảng như năm 1929. Thí dụ điển hình là việc cổ súy xoá bỏ Cục Dự trữ Liên bang (Fed) của nhà kinh tế Milton Friedman, thày dùi của phái tự do toàn diện.

Mở rộng cạnh tranh và phá bỏ rào cản kể cả kể cả rào kiểm soát cần thiết

Nước Mỹ hơn 20 năm qua, từ thời Tổng thống Reagan, là nước cổ vũ mạnh mẽ cho việc xoá bỏ các luật lệ và cơ quan kiểm sát nhà nước đối với sản xuất và thương mại trong nước Mỹ, và dùng mọi biện pháp áp đặt các nước khác mở cửa tự do cho tư bản Mỹ.

Ở đây cần nhận định là có sự khác biệt giữa khu vực phi tài chính và khu vực tài chính. Khu vực phi tài chính gồm tất cả các hoạt động sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ dùng cho tiêu dùng và tích lũy trong nền kinh tế. Khu vực tài chính nhằm phục vụ các hoạt động của khu vực phi tài chính, chủ yếu làm dịch vụ trung gian giữa các tác nhân có tiền và các tác nhân cần vốn trong sản xuất. Vai trò trung gian hiệu quả sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất trong khu vực phi tài chính. Bản thân khu vực tài chính không tạo ra của cải. Thu nhập trong khu vực sản xuất của cải một phần được đem chi trả cho khu vực tài chính như là dịch vụ phí. Hiện tượng không lành mạnh xảy ra khi tư bản tài chính trở nên đầu cơ, tức là móc túi người có vốn, và móc túi của khu vực phi tài chính bỏ vào túi mình. Việc này chắc chắn sẽ ảnh hưởng xấu đến sản xuất.

Ở Mỹ, việc mở rộng cạnh tranh từ thời Tổng thống Carter, đặc biệt là từ Tổng thống Reagan xảy ra ở cả hai khu vực phi tài chính và tài chính.

Trong khu vực phi tài chính

Tạo cạnh tranh trong khu vực này gồm hai điểm chính: xoá bỏ quyền định giá của nhà nước và cũng như xoá bỏ độc quyền nhà nước trong một số lãnh vực quan trọng. Thành công điển hình có ảnh hưởng mạnh đến phát triển của kinh tế là việc xoá bỏ quyền nhà nước định giá chuyên chở từ xe lửa, xe buýt, và máy bay đưa đến giảm giá vé đáng kể, và quan trọng hơn là việc xoá bỏ độc quyền dịch vụ điện thoại của công ty AT&T và các sử dụng không gian vô tuyến đã mở màn cho sự phát triển của công nghệ thông tin.

Tất nhiên các tranh chấp nhằm giảm kiểm tra các vấn đề khác như bảo vệ môi trường, chất lượng y tế, thực phẩm vẫn tiếp diễn. Chính vì các định chế kiểm soát này mà các công ty phi tài chính ở các nước phát triển có khuynh hướng đi ra nước ngoài đầu tư: một phần vì lương thấp nhưng một phần không phải trả giá cho việc bảo vệ môi trường, cũng như kiểm soát chất lượng ngặt nghèo về vệ sinh.

Trong khu vực tài chính

Tình hình có phức tạp hơn.

Thứ nhất, cho phép ngân hàng thương mại (commercial banks) hoạt động đa năng và rộng khắp cả nước

Thay vì hạn chế mỗi ngân hàng ở một bang, ngân hàng được phép hoạt động trên khắp liên bang. Trước đó ngân hàng thương mại chỉ hoạt động thu nhận tiền ký gửi rồi cho vay. Sau thay đổi, ngân hàng thương mại cũng được hoạt động như một công ty đầu tư tài chính (investment banking), loại công ty này chỉ được làm dịch vụ tạo vốn đầu tư, tức là phát hành và buôn bán cổ phiếu công ty (tức là giúp tạo nguồn vốn tự có – equity), trái phiếu (nợ công ty), v.v. Loại hoạt động nhận tiền ký gửi và cho vay chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước như Fed (Cục Dự trữ Liên bang) còn loại hoạt động sau liên quan đến chứng khoán không bị một rào cản nào, trừ việc tuân thủ các định chế buôn bán chứng khoán trên thị trường và nội dung các hợp đồng đã ký kết. Sau đại khủng hoảng năm 1929, Quốc hội đã ra luật Glass-Steagall 1933-35 phân biệt hai loại công ty hoạt động, và không cho phép ngân hàng làm dịch vụ phát hành và buôn bán cổ phiếu và trái phiếu, và bảo hiểm. Sự phá sản của các công ty đầu tư tài chính như Bear Sterns và Lehman, sự sát nhập của Merrill Lynch vào ngân hàng thương mại, và việc xin phép biến thành ngân hàng thương mại của hai đại gia còn lại là Goldman Sachs, Morgan Stanley trong kỳ khủng hoảng này coi như đã xoá sổ sự khác biệt giữa hai loại công ty trên nước Mỹ.

Thứ hai, mở cửa tự do cho mọi loại công cụ tài chính mới xuất hiện mà không có sự kiểm soát nào

Kể cả việc thu thập chính thức các thông tin thống kê về chúng để theo dõi. Mục đích chính là tạo cơ hội cho các hoạt động đầu tư rủi ro, hay nói một cách dễ hiểu là cho phép các nhà đầu tư sử dụng mọi lỗ hổng, tạo ra sự tin tưởng mù quáng của đám đông để làm giầu. Thí dụ cho công ty bảo hiểm bảo hiểm cả những gì không thể bảo hiểm được. Hoạt động bảo hiểm bình thường như y tế, tai nạn là dựa vào xác xuất thông kê các hiện tượng xảy ra ngẫu nhiên nhưng có thể tiên đoán trước được như tuổi thọ trung bình, tỷ lệ loại bệnh tật, tai nạn cháy nhà, xe cộ, v.v. Nhưng bảo hiểm giá trị chứng khoán (nợ hay cổ phiếu), nhất là chứng khoán không có bảo chứng thì hoàn toàn chỉ dựa vào niềm tin là thị trường (nhìn một cách tổng thể) không bao giờ xuống dốc. Khi thị trường xuống dốc toàn diện, các công ty bảo hiểm loại này tất phải phá sản, vì không thể lấy số thu của người thắng trả cho người thua, do ai cũng thua cả. Thí dụ đáng kể nữa và là nguyên nhân trực tiếp gây ra khủng hoảng hiện nay là các chứng khoán lấy nợ mua nhà làm bảo chứng. Các công ty đầu tư, hoặc tập trung tiền của các nhà đầu tư, hoặc mượn tiền ngắn hạn rồi cho vay (mua nhà hoặc mua các tài sản khác kể cả tài sản tài chính) hoặc mua lại các giấy nợ, sau đó gộp chung các giấy nợ lại, chia làm các chứng khoán nhỏ đem bán cho các nhà đầu tư. Vì lòng tham, họ khuyến khích cho vay cả những người không có bảo chứng về tài sản hoặc thu nhập, lại nhử bằng lãi suất ban đầu rất thấp, đây là loại lãi suất biến thiên, sau 3 hoặc 5 năm là phình bong bóng theo lãi suất thị trường. Khi lãi suất tăng, bắt đầu từ năm 2004, rất nhiều người vay mất khả năng chi trả.

Thứ ba, cho phép các hành động đầu tư hoàn toàn mang tính đầu cơ

Đây là vấn đề quá phức tạp để bàn ở đây, nhưng vài thí dụ sau cũng cho thấy sự nguy hại của các hành động cho đến mới đây được coi là hợp pháp này. Bán khống trần trụi (naked shorting) là một thí dụ. Đây là hành động mà giới tài chính có thể sử dụng để đẩy giá một loại chứng khoán nào đó xuống để làm giầu. Họ bán chứng khoán ra (dù không có chứng khoán trong tay) – tức là bán được giá cao- và làm thế giá chứng khoán bị đẩy xuống, họ mua lại với giá thấp. Vì tình hình nguy ngập hiện nay, Ủy ban chứng khoán (SEC) đã phải ra lệnh cấm cả việc bán khống bình thường (tức là phải vay chứng khoán của ai đó thì mới có quyền bán) đối với một loạt các cổ phiếu công ty, như cổ phiếu GM chẳng hạn.

Thứ tư, áp lực các nước thứ ba chấp nhận tự do hoá dòng chảy tư bản từ nước lớn

Tức là đòi hỏi tự do đầu tư vào thị trường tài chính như chứng khoán, cùng với việc tự do hoá hối suất. Chính sách này được mệnh danh là Đồng thuận Washington, được coi là điều kiện để nhận sự giúp đỡ tài chính của IMF và World Bank. Chính vì sự tháo chạy của tư bản nước ngoài, tìm cách đầu cơ làm giầu nên đẩy hối suất mất giá quá mức, đã tạo ra liên tiếp các cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á năm 1987 (Nam Hàn giảm 7%, Indonesia giảm 14%, Thái Lan giảm 10,5%) dù nền kinh tế các nước này lành mạnh, ngân sách nhà nước không có thiếu hụt tài chính. Rồi sau đó là khủng hoảng ở Nga và Argentina. Những nước chống lại liều thuốc IMF, quyết định không phá giá đồng bạc, tạm nghiêm cấm rút tiền khỏi nước như Mã Lai lại là những nước không bị rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Đồng thuận Washington sau đó bị phá vỡ khi IMF đã phải từ bỏ chính sách áp đặt thành viên mở cửa cho tự do lưu thông tư bản.

Khung cảnh kinh tế cho tự do tài chính không rào cản hoành hành

Có hai sự kiện làm cho các tự do tài chính không rào cản hoành hành. Thứ nhất là chính trị mua chuộc người nghèo, và thứ hai là lãi suất quá thấp (lãi suất chiết khấu là 1% và lãi suất ưu tiên là 5%) mà Fed kéo dài quá lâu sau khi cứu thị trường chứng khoán năm 2001 khỏi sự suy sụp vì việc thổi phồng quá đáng tác dụng của công nghệ thông tin.

Chính trị mị dân và hai công ty địa ốc Fannie Mae và Freddie Mac là điều kiện để tự do tài chính tung hoành

Hai công ty này trước năm 1968 là hai cơ quan nhà nước làm nhiệm vụ bảo hiểm nhà ở cho dân có thu nhập trung bình thấp nhằm khuyến khích ngân hàng cho họ vay tiền mua nhà. Điều kiện mua nhà thường đòi hỏi một số vốn tối thiểu (thường là 20% nhưng ít nhất là 10% giá nhà) và một điều kiện là tiền trả góp hàng tháng không hơn 30% thu nhập. Từ 1968 trở đi, Hạ viện Mỹ biến hai cơ quan này thành hai công ty tư nhân có cổ phần viên, nhưng được nhà nuớc bảo trợ nên không bị đánh thuế tiểu bang và liên bang. Đến năm 1999, Hạ viện Mỹ lại quyết định giảm thiểu, gần như xoá bỏ các điều kiện mua nhà, kể cả việc không phải trả trong vòng hai năm, và lãi suất dưới mức thị trường 1%. Việc các nhà chính trị hành động tạo điều kiện thuận lợi như thế vừa nhằm mua chuộc cử tri nghèo mà tranh thủ “ơn” mà hai công ty sẵn sàng đóng góp cho việc tranh cử; ơn này lên tới 200 triệu đô la trong vòng 10 năm qua. Những người lãnh đạo công ty cũng tự trả lương cho mình ở mức quá cao mà không có sự kiểm soát nào (lương năm lên tới 7-8 triệu và tiền trả lúc về hưu lên tới 20 triệu).

Lao đầu vào chứng khoán cho vay mua nhà

Cùng với Fannie Mae và Freddie Mac, các công ty tài chính khác cũng lao vào tạo ra và bán các chứng khoán dựa vào vốn cho vay từ hai công ty này. Các loại chứng khoán khác phát xuất từ các loại chứng khoán trên (như bảo hiểm) ra đời như những con thiêu thân thu hút bởi ánh sáng của đồng tiền. Lãi suất thấp khiến việc mua nhà tương đối dễ dàng, giá mua tiếp tục tăng nên người tham gia đều tin tưởng rằng giá nhà sẽ không bao giờ giảm; họ chỉ cần mua rồi bán lại ngay là có thể làm giầu. Hơn nữa các nhà đầu tư lại đánh giá là nếu có sự cố thì nhà nước sẽ nhảy vào cứu giúp. Các công ty đánh giá trên thị trường đều thi nhau cho hạng cao các loại chứng khoán trên. Chính vì thế, riêng hai công ty trên đã nắm tài sản cũng như trách nhiệm chi trả 6.000 tỷ đồng (gồm cho vay, bảo hiểm tiền cho vay, và sở hữu chứng khoán dựa vào nợ mua nhà), bằng ½ số cho vay địa ốc gia cư. Trong số trên, có thể đến trên 2.000 tỷ dưới chuẩn, hiện nay không ai muốn mua. Theo thông tin mới nhất, nếu lượng tiền M3 (*) chiếm 1 thì nợ bằng chứng khoán có bảo chứng gấp đôi, và loại không có bảo chứng gấp 7 lần.

Về giải pháp và tương lai kinh tế Mỹ

Nếu chỉ tính là số chứng khoán dưới chuẩn là 2.000 tỷ thì việc bỏ ra 700 tỷ để nhà nước mua nhằm nâng giá chúng lên là hết sức phức tạp, vì nếu không nâng lên giá cũ thì tất nhiên phải có người mất. Nó đặt ra vấn đề cứu ai, ở giá nào và cứu như thế nào khi chứng khoán phản ánh giá trị tổng hợp của nhiều món nợ vay của nhiều người và ở nhiều địa phương khác nhau. Và tại sao những người đầu tư rủi ro làm giầu lại được nhà nước bỏ tiền cứu? và họ phải trả giá như thế nào? Việc tìm ra 700 tỷ để xử lý vấn đề trên cũng là vấn đề. In tiền sẽ tạo ra lạm phát. Phát hành trái phiếu nhà nước cũng sẽ đẩy lãi suất lên, tạo thêm khó khăn cho kinh tế và đồng thời phải tăng thuế để chi trả. Nhưng đây là vấn đề ngắn hạn. Số chứng khoán vay nợ nhà dưới chuẩn mất giá cũng làm toàn bộ các loại chứng khoán xuất phát khác không bảo chứng (derivatives), gấp 7 lần số chứng khoán nợ mua nhà, mất giá. Người ta chưa bàn rõ việc xử lý các loại chứng khoán xuất phát khác này, có lẽ vì đánh gía cứu loại này sẽ cứu loại kia. Nhưng vấn đề vẫn là làm sao lấy lại lòng tin, mà như hiện nay thì khó, và cũng chỉ ngắn hạn vì những yếu kém cơ bản của kinh tế Mỹ chưa được giải quyết.

Đề nghị lập một công ty mua nợ với số vốn nhà nước bỏ ra có thể lên tới 700 tỷ đã bị Quốc hội Mỹ bác. Nhiều đại biểu đã bỏ phiếu như thế vì cuộc tranh cử sắp tới; 18 trong 21 đại biểu Đảng Cộng hòa, và 12 trên 15 đại biểu Đảng Dân chủ gặp khó khăn trong lần tranh cử lại lần này đều chống, vì dự luận dân Mỹ chống lại việc cứu các đại gia giầu có phố Wall, “xã hội hoá” làm ăn thất bát của tư nhân. Nếu không thông qua nổi giải pháp trên, Fed vẫn có thể dễ dàng in tiền, cho vay những công ty làm ăn tốt nhưng có thể phá sản, và sau đó thu hút tiền về bằng phát hành tín phiếu. Những công ty nào dù được vay vẫn phá sản thì nhà nước có thể phát mãi tài sản. Có thể giải pháp này đơn giản hơn, nhưng có thể không tạo lại nhanh chóng thị trường chứng khoán mất giá.

Tình hình kinh tế Mỹ đã từ lâu có những yếu kém cơ bản chưa được giải quyết. Đó là tiêu quá cái mình có. Dân chúng không có để dành, thậm chí nhiều năm âm. Số nợ của hộ gia đình lên tới 139% thu nhập năm. Chính phủ Mỹ cũng chi quá nhiều so với thu, thiếu hụt năm 2008 sẽ lên tới 410 tỷ, chủ yếu vì cuộc phiêu lưu vào Iraq.

Nói chung, nền kinh tế Mỹ tiêu quá nhiều, do đó phải dựa vào vay mượn nước ngoài. Hàng năm, nền kinh tế Mỹ phải vay nợ nước ngoài, trên 300 tỷ từ năm 2000 và tăng dần lên mức 700 tỷ năm 2006 và 800 tỷ năm 2007. Thế giới đổ tiền vào Mỹ vì tin tưởng vào sự ổn định của nền kinh tế Mỹ. Nếu tư bản nước ngoài rút ra, đồng đô la sẽ xuống giá mạnh và các nước sẽ gặp khó xuất khẩu vào Mỹ để phát triển. Điều này không chóng thì chày sẽ xảy ra vì nước Mỹ không thể nhập khẩu tư bản mãi mãi.

Cuộc khủng hoảng hiện nay làm rúng động mạnh nước Mỹ và tất nhiên là nhiều nước có đầu tư vào Mỹ vì nó ảnh hưởng mạnh đến nguồn tư bản tài chính cần cho hoạt động sản xuất phi tài chính. Nhiều ngân hàng ở Mỹ đang thi nhau phá sản vì dân chúng mất tin tưởng rút tiền ra. Fed hiện nay kiếm cách chữa cháy, nhưng giải pháp có thể có ảnh hưởng nguy hại lâu dài. Thí dụ, Fed đã nhanh chóng cho phép những quĩ đầu tư rủi ro bỏ tiền vào ngân hàng, có thể sở hữu đến 30% cổ phiếu mà không bị coi là công ty mẹ/con và do đó không phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ. Điều này cũng có thể trở nên ngòi nổ cho khủng hoảng trong tương lai, khi mà sở hữu chủ lạm dụng nắm ngân hàng rồi tự cấp tín dụng cho mình. Đây cũng là vấn đề đang đặt ra cho nhà nước Việt Nam hiện nay, cho phép công ty phi tài chính lập và nắm ngân hàng.

30-9-2008

(*) Các ngân hàng thường sử dụng ký hiệu M0, M1, M2, M3 để chỉ những khối lượng tiền tệ khác nhau. Ở đây, M3 là lượng tiền bao gồm tiền mặt, ngân phiếu và các loại tiền tiết kiệm.