NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Hai dấu hiệu của khủng hoảng tài chính

Mới đây, Ủy ban Kinh tế - Xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (UNESCAP) đã công bố báo cáo đánh giá tình hình kinh tế khu vực 10 năm sau khủng hoảng tài chính châu Á.

Nhân dịp ông Kim Hak-Su, Phó tổng thư ký Liên hợp quốc, Chủ tịch UNESCAP đến Hà Nội tham dự Diễn đàn mục tiêu phát triển thiên niên kỷ khu vực Đông và Đông Nam Á, VnEconomy đã có cuộc trò chuyện với ông xung quanh vấn đề này.

Nhìn lại thời điểm cách đây 10 năm, ông nghĩ những nguyên nhân đã nào dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997?

- Trước tiên là do chính sách kinh tế vĩ mô. Đánh giá lại thời điểm cách đây 10 năm, chính sách kinh tế vĩ mô của nhiều nước bị khủng hoảng không phù hợp, họ cho phép các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư ồ ạt và đầu cơ tích trữ. Trong khi đó, giá trị của đồng nội tệ lại thấp hơn so với đồng USD.

- Lý do thứ hai là hệ thống ngân hàng yếu, không quản lý nổi, để các dòng vốn đầu tư vào một cách ồ ạt và thường xuyên có các khoản nợ khó đòi.

- Lý do thứ ba là do hệ thống thể chế yếu khiến cho công tác quản lý, kiểm soát lỏng lẻo, yếu kém, chưa kể một số nước còn mất ổn định về chính trị.

Từ những nguyên nhân đó, ông đánh giá như thế nào về thời điểm hiện nay?

Lượng tiền đầu tư trên thế giới vào thời điểm hiện nay rất lớn, khoảng 370.000 tỉ USD, gấp 8 lần so với cách đây 10 năm. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài hiện đang ồ ạt đổ tiền vào châu Á - Thái Bình Dương, nơi được coi là một trong những khu vực tăng trưởng năng động nhất thế giới hiện nay.

Tuy nhiên, hầu hết các nguồn tiền vào châu Á đều đầu tư vào những nơi sinh lợi nhanh như thị trường chứng khoán và bất động sản, khiến cho hai thị trường này luôn tăng trưởng nóng. Song nguy hiểm hơn là có những người vay tiền ngân hàng để đầu tư.

Năm ngoái, thị trường chứng khoán của toàn khu vực tăng 27%, riêng Indonesia là 55%.

Bên cạnh đó, lượng tiền tích luỹ hàng năm của khu vực này đang tăng lên, khoảng 200 tỉ USD. Số tiền này phần lớn lại được đầu tư vào thị trường chứng khoán.

Trong khi đó, những nước như Philippines và Indonesia vẫn tồn tại các khoản nợ xấu.

Đó có thể coi là những nguy cơ tiềm ẩn của một cuộc khủng hoảng?

Có hai dấu hiệu báo trước một cuộc khủng hoảng tương tự khủng hoảng tài chính châu Á là nền kinh tế tăng trưởng quá nóng và tỉ giá hối đoái quá yếu hoặc quá mạnh.

Khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng sẽ thúc đẩy tăng trưởng nhu cầu đầu tư vào thị trường chứng khoán, bất động sản, thu hút đầu tư nước ngoài.

Còn với tỉ giá hối đoái quá yếu hoặc quá mạnh trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng quá nóng như vậy, sẽ thúc đẩy các nhà đầu tư tăng lượng tiền vào những nơi sinh lợi nhanh và đầu cơ.

Còn nhớ hôm 26/2, tôi cũng đã đưa ra cảnh báo về những nguy cơ có thể xảy ra một cuộc khủng hoảng tương tự dựa trên các lý do: nguồn tiền mặt dồi dào, quản lý lỏng lẻo, nợ xấu, hệ thống thể chế chưa hiện đại và tỉ giá hối đoái thấp.

Và rõ ràng trong những ngày qua, thị trường chứng khoán châu Á mà đi đầu là Trung Quốc đã giảm mạnh, thậm chí phản ứng dây chuyền sang các thị trường khác ở châu Âu và châu Mỹ.

Như vậy, khủng hoảng có thể xảy ra ở bất cứ nước nào và không chừa ai cả. Vai trò của Liên hợp quốc là đưa ra những cảnh báo về các cuộc khủng hoảng, nhưng không bao giờ khẳng định một cách chắc chắn rằng nó sẽ đến hay không.

Trong cuộc hội thảo nhân 10 năm sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á tổ chức tại Bangkok (Thái Lan) mới đây, ông Kim Hak- Su cũng đã khuyến cáo chính phủ các nước Đông và Đông Nam Á không nên lơ là, mất cảnh giác đối với tình hình tăng trưởng kinh tế hiện nay khi một số rủi ro tạo nên cuộc khủng hoảng tài chính cách đây 10 năm đang lộ diện.

Ông cho rằng, khả năng thanh toán bằng tiền mặt trên toàn cầu dồi dào, giá bất động sản tăng cao và tình trạng đầu cơ gia tăng sức ép đối với các đồng tiền trong khu vực có thể làm mất ổn định nền kinh tế khu vực, như đã xảy ra hồi năm 1997.

Theo ông, để phòng ngừa những rủi ro trên, chính phủ các nước cần đảm bảo tỉ lệ hối đoái ở mức ổn định hơn.

Quỳnh Ngọc

Thời báo Phố Wall viết về chứng khoán Việt Nam

Với tựa đề “Saigon’s Miss”, bài bình luận trên Thời báo Phố Wall (Wall Street Journal) của Mỹ mới đây đã có một số ý kiến đáng chú ý về thị trường chứng khoán Việt Nam. Chúng tôi xin lược dịch bài viết này để bạn đọc tham khảo.

Nếu muốn giải quyết êm thấm tình trạng “bong bóng” trên thị trường chứng khoán hiện tại, Việt Nam nên nhớ lại những bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á trong những năm 1997-1998, đó là việc mở cửa thị trường vốn mới là công cụ điều tiết tốt nhất.

Cũng dễ hiểu tại sao Chính phủ Việt Nam lại lo lắng. Chỉ số VN-Index đã tăng 147% trong năm ngoái và hiện tại vẫn đang tăng 46% từ đầu năm 2007 đến nay - mức cao nhất thế giới. Trong tháng 1, ước tính 700 triệu USD vốn đầu tư gián tiếp được đổ vào Việt Nam, gần gấp đôi so với tháng trước đó và gần bằng cả quý 4 năm 2006.

Nhưng dòng vốn lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài là đáng mừng chứ không đáng lo, nhất là đối với những nước mà chính phủ kiểm soát tốt tình hình và có thị trường mở. Với kỳ vọng tăng trưởng GDP trung bình từ 7 % đến 8% mỗi năm, và có thêm nhiều doanh nghiệp nhà nước đang thiếu vốn đã lên kế hoạch cổ phần hóa trong vài năm tới, dòng vốn tự do có lẽ sẽ không tạo ra áp lực lạm phát quá lớn. Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam, cho dù vẫn cao so với các tiêu chuẩn của khu vực, nhưng đã giảm xuống ngay trong thời điểm đang bùng nổ làn sóng đầu tư vào năm ngoái.

Vậy tại sao phải lo ngại? Có lẽ nhiều người cho rằng dòng vốn đang chảy vào Việt Nam hiện tại có thể nhanh chóng chuyển hướng ra ngoài khi các nhà đầu tư thay đổi “cảm xúc”. Nhưng cách lý giải này bắt nguồn từ suy nghĩ chưa đúng về nguyên nhân của khủng hoảng tài chính ở châu Á. Quá trình sụp đổ có thể khơi mào từ việc tích trữ tiền tệ, nhưng chính những khoản đầu tư không hiệu quả từ chính phủ một số nước châu Á trong nhiều năm kết hợp với những điều chỉnh bất hợp lý của ngân hàng đã dẫn đến tình trạng trên.

Cơ quan nghiên cứu của Quốc hội Mỹ đã nhận xét rằng nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính châu Á trầm trọng là do những nhà đầu tư “thiếu tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề của chính phủ”. Sự thiếu tin tưởng này càng trầm trọng thêm do những sai lầm về mặt chính sách - như kiểm soát vốn - đã tách chính phủ ra khỏi những nguyên tắc thị trường.

Thêm vào đó, việc ngăn chặn dòng vốn chảy ra ngoài - nhất là trong tình trạng khủng hoảng - gần như là việc bất khả. Sau khi Chính phủ Malaysia đưa ra yêu cầu kiểm soát vốn năm 1998, chỉ trong vòng 3 năm, dòng vốn chạy ra khỏi thị trường ước tính vào khoảng 500 triệu đô la mỗi tuần.

Còn Trung Quốc, mặc dù hiện đã ra một quy định thắt hơn việc quản lý tài khoản vốn, nhưng trong năm 2003 và 2004, vẫn nhận được trung bình 20 tỷ đô la Mỹ dòng vốn không chính thức chảy vào mỗi năm. Điều này diễn ra hoàn toàn ngược hẳn với thập niên 90, khi đó, các nhà đầu tư cá nhân ở Trung Quốc ngày càng ít đầu tư trong nước mà đổ hàng tỷ đô la ra nước ngoài.

Câu chuyện của Trung Quốc là minh chứng rằng vốn sẽ chảy vào nơi nào nó muốn đến, bất kể có kiểm soát hay không.

Ngay cả khi không đổ vỡ ngay, việc xiết chặt vốn cũng mang lại những hậu quả không mong đợi vế mặt dài hạn. Những sai lầm lặp lại của Chile trong việc kiểm soát vốn vào năm 1990 là một ví dụ. Những chính sách hạn chế làm chậm không đáng kể dòng “tiền nóng”; thay vì vậy, nó lại làm tăng chi phí vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ - hầu hết đều cần tiền đầu tư của nước ngoài. Một nhà kinh tế ước tính rằng cái giá phải trả cho việc này trung bình là 80 triệu đô la Mỹ mỗi năm năm tính theo giá USD năm 1999, tương đương với 0,1% GDP trung bình của Chile trong thập niên 90.

Chính phủ Việt Nam hiện đang khá thận trọng trước những biến động lớn của thị trường chứng khoán, điều gần như là chắc chắn sẽ xảy ra trong vài năm tới khi thị trường tài chính phát triển và những nhà đầu tư đánh giá sự phát huy thành quả kinh tế của chính phủ. Việc đối mặt với những thách thức của nguyên tắc thị trường sẽ giúp Chính phủ nhận được nhiều suy nghĩ tích cực hơn từ các nhà đầu tư.

Vĩnh Hoa